Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của nguyên tắc này - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU
Nhìn nhận từ chức năng đặc biệt của Tòa án – là cơ quan duy nhất có quyền xét xử,
có quyền phán quyết một người có tội hay không và áp dụng hình phạt đối với họ. Phán
quyết của Tòa án có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Chính vì vậy, nếu không thận trọng, hội đồng xét xử có thể không đảm bảo được tính
khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nhằm hạn chế tới mức tối đa hậu quả
đó, Nhà nước đã có quy định pháp lý nhằm điều chỉnh hoạt động xét xử của Tòa án bằng
việc ghi nhận các nguyên tắc cơ bản trong BLTTHS, trong đó có nguyên tắc đảm bảo
quyền bình đẳng trước Tòa án. Qua nội dung cũng như thực tiễn áp dụng nguyên tắc này
còn một số hạn chế cần khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện nguyên tắc trong
tố tụng hình sự, nhóm chúng em đã chọn đề tài: “Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền
bình đẳng trước Tòa án và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của nguyên tắc này”.
Đề tài được hoàn thành trong khoảng thời gian có hạn, nguồn tiếp cận tư liệu còn
hạn chế chính vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của
thầy cô giúp chúng em hoàn thiện được kiến thức của mình.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG
I. Khái niệm và nội dung của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án.
1. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án.
Trước hết, nguyên tắc của tố tụng hình sự là những phương châm, những định
hướng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động tố tụng hình sự, được các văn bản pháp luật
quy định. Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án là một trong những nguyên
tắc có vai trò quan trọng như thế.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật được quy
định tại Điều 52 của Hiến pháp năm 1992, đây là cơ sở pháp lý quan trọng của nguyên tắc
bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án. Bảo đảm quyền bình đẳng là làm cho có được sự
ngang nhau về quyền và nghĩa vụ giữa những người được pháp luật quy định cho họ.
Quyền bình đẳng này được thực hiện trước Tòa án, trong giai đoạn xét xử. Như vậy, có thể
hiểu nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án là những phương châm, định
hướng thể hiện quan điểm của Nhà nước được BLTTHS ghi nhận điều chỉnh hoạt động tố

cũng phải được đảm bảo bình đẳng.
Các chủ thể được quy định tại Điều 19 đều có quyền đưa ra thông tin, đồ vật và tài
liệu mới tại phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cũng như quan điểm của mình. Khi họ đưa ra
thông tin, tài liệu, đồ vật mới thì HĐXX có trách nhiệm tiếp nhận và xem xét giá trị chứng
minh của những tài liệu, đồ vật, thông tin của bất kì chủ thể nào.
Bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu:
Bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu được hiểu là: bên gỡ tội và bên buộc tội đều có
quyền và có thể đưa ra yêu cầu của mình về những vấn đề mà pháp luật quy định cho họ có
quyền yêu cầu. Tại các Điều 201, 205, 216 BLTTHS quy định viêc HĐXX phải giải quyết
các yêu cầu của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng. Các chủ thể tham gia
1

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án trong tố tụng hình sự, Đặng Thanh Nga, chuyên
ngành Luật hình sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2011.
2


phiên tòa có các yêu cầu sau: yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu đưa thêm
vật chứng, tài liệu xem xét, yêu cầu hoãn phiên tòa khi có người tham gia tố tụng vắng
mặt, yêu cầu xét hỏi thêm. Tất cả các chủ thể này, khi bắt đầu cũng như kết thúc xét hỏi
đều được HĐXX hỏi xem họ có yêu cầu nào trong các yêu cầu pháp luật quy định cho họ
không và các chủ thể được hỏi có quyền đưa ra yêu cầu. HĐXX phải có trách nhiệm tạo
điều kiên cho họ thể hiện yêu cầu đó và xem xét, giải quyết các yêu cầu đó, không phân
biệt đó là yêu cầu của ai, yêu cầu về vấn đề gì nhưng phải thuộc những quyền mà pháp luật
đã quy định cho họ.
Bình đẳng trong việc tranh luận:
Tại Điều 37, Điều 50, 51,52,53,54,58,59 quy định các chủ thể ở Điều 19 BLTTHH
có quyền tranh luận dân chủ trước Tòa án. Điều 217,218 quy định thủ tục cho việc thực
hiện quyền tranh luận của các chủ thể này. Bình đẳng trong việc tranh luận được hiểu là
các chủ thể được pháp luật quy định tại phiên tòa có quyền phát biểu ý kiến của mình và

quyền phán quyết về vụ án. Quyết định của tòa án dường như được thực hiện không phải
trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án mà là trên cơ sở sự thật được các bên chứng minh
tại phiên tòa có tính thuyết phục cao hơn. Hay hệ thống xét hỏi ( hay thẩm vấn) thường sử
dụng ở các nước có hệ thống luật lục địa, Tòa án thực hiện việc chứng minh vụ án trên cơ
sở sử dụng kết quả đóng vai trò quyết định trong xác định sự thật khách quan tại phiên tòa.
Phán quyết của tòa án được đưa ra trên cơ sở niềm tin nội tâm của tòa án về sự thật khách
quan của vụ án, chứ không phải là kết quả của việc ai thuyết phục tòa án tốt hơn tại phiên
tòa…Thì với các nước có hệ thống pha trộn, trong đó có Việt Nam, vị trí và vai trò của tòa
án có sự kết hợp của cả hai hệ thống trên. Tòa án không chỉ giữ vai trò thụ động, trọng tài
mà có trách nhiệm xét hỏi để là sáng tỏ các tình tiết vụ án, đồng thời Tòa án còn có trách
nhiệm để các bên tham gia vào quá trình xét xử thực sự bình đẳng trong việc đưa ra tài
liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu về tranh luận dân chủ tại phiên tòa góp phần đảm bảo cho các
phán quyết của Tòa án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đáp ứng yêu cầu của công
cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay. Đây là một ý nghĩa quan trọng của nguyên
tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa mang lại.
2. Ý nghĩa xã hội:
Quyền con người – đó là vấn đề mà bất kì một ngành luật nào cũng đều quan tâm
khi có sự động chạm liên quan đến nó nhất là trong tố tụng hình sự. Nếu như Tòa ra phán
quyết sai, người phạm tội không phải chịu trách nhiệm, điều này đồng nghĩa với việc
quyền lợi của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra không được bảo vệ. Lúc này, liệu còn
cái gọi là pháp luật, sự bình đẳng và công bằng? Và ngược lại, nếu các phán quyết của Tòa
án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, thì quyền con người cũng như sự công bằng dân
chủ sẽ được bảo đảm. Mặt khác, việc xét xử của Tòa án diễn ra công khai, minh bạch, phán
quyết dựa trên chứng cứ đã được thẩm tra công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa sẽ
đảm bảo được lòng tin của người dân vào tính khách quan của các phán quyết đó, từ đó
củng cố lòng tin vào pháp luật và các cơ quan thực thi pháp luật, đảm bảo được sự nghiêm
minh của pháp luật góp phần đảm bảo giữ gìn trật tự xã hội. Đây chính là ý nghĩa xã hội
mà nội dung nguyên tắc chứa đựng nhưng nó chỉ phát huy tác dụng nếu được đảm bảo thực
hiện trên thực tế.
3. Ý nghĩa pháp lý:

đạt được những thành tựu như sau:
Chất lượng công tố được nâng lên, việc tranh luận dân chủ giữa Kiểm sát viên với
người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác ngày càng được đảm bảo.
Việc sửa đổi bổ sung nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án trong Bộ luật
tố tụng hình sự 2003 dấn đến có sự điều chỉnh cơ bản đối với nhiều quy định có liên quan
đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử để cho phù hợp với nguyên tắc cũng như đảm bảo
2

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án trong tố tụng hình sự, Đặng Thanh Nga, chuyên
ngành Luật hình sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2011.
5


tính khả thi của nguyên tắc trong đó có việc quy định chặt chẽ đầy đủ hơn ở phần thủ tục
phiên Tòa cụ thể là phần tranh luận cho phù hợp với nguyên tắc như là đòn bẩy khiến các
cơ quan tố tụng nói chung và viện kiểm sát nói riêng phát huy hết khả năng của mình trong
việc phát hiện sử chữa những thiếu sót làm rõ sự thật khách quan đảm bảo việc điều tra
truy tố có chất lượng đúng người đúng tội đúng pháp luật.
Vị trí vai trò của luật sư được nâng cao, việc ghi nhận và tuân thủ nguyên tắc đảm bảo
quyền bình đẳng trước Tòa án đã nâng cao vị trí vai trò của luật sư cả ở trong luật lẫn hoạt
động thực tiễn.
Quyền của người tham gia tố tụng được đảm bảo. Việc tuân thủ nguyên tắc bảo đảm
quyền bình đẳng trước Tòa án, trong đó thực hiện tốt nội dung tranh luận tại phiên tòa sẽ
khắc phục được những hoài nghi, băn khoăn về việc truy tố của Viện kiểm sát của những
người tham gia phiên tòa và dư luận xã hội. Với việc ghi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền
bình đẳng trước Tòa án, BLTTHS năm 2003 đã mở rộng các quyền của những người tham
gia tố tụng từ đó tạo điều kiện cho họ chủ động, tích cực hơn trong việc bảo vệ quyền lợi
và quan điểm của mình tại phiên tòa.
Chất lượng công tác xét xử đã được nâng cao, hạn chế được việc vi phạm quyền và lợi
ích của công dân trong tố tụng hình sự, trong báo cáo tổng kết hàng năng của Tòa án đã

Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến liên quan chưa được kiểm sát viên tranh luận,
nhưng vì đây là quyền nên chủ tọa phiên tòa có thể thực hiện có thể không, dẫn đến tình
trạng có phiên tòa Kiểm sát viên không tham gia tranh luân nhưng chủ tọa cũng không
nhắc nhở làm hạn chế thực hiện tranh luận dân chủ tại phiên tòa.
 Các quy định về thủ tục tố tụng còn thiếu và chưa phù hợp, chưa thống nhấ:.
BLTTHS năm 2003 không quy định thủ tục về việc thông báo mở phiên tòa cho những
người có quyền tham gia phiên tòa. Theo luật quy định, người bị hại, nguyên đơn dân sự,
bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của họ, người
bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền tham gia phiên tòa nhưng BLTTHS lại không quy
định về thủ tục thông báo mở phiên tòa cho họ, như vậy dẫn đến tình trạng hạn chế quyền
tham gia phiên tòa của họ cũng như quyền lợi của họ và thân chủ tại phiên tòa.
BLTTHS năm 2003 không quy định cụ thể vấn đề bổ sung cáo trạng của Kiểm sát viên
tại phiên tòa, điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của những người có quyền và lợi ích liên
quan đến phán quyết của tòa .
BLTTHS năm 2003 không quy định việc công bố bài bào chữa nếu người bào chữa
vắng mặt tại phiên tòa. Chính việc này dẫn đến việc áp dụng tùy tiện, có phiên tòa chủ tọa
công bố có phiên tòa chủ tọa không công bố nội dung nên làm ảnh hưởng đến chất lượng
tranh luận tại phiên tòa.
Điều 224 BLTTHS năm 2003 không quy định bản án phải ghi rõ những ý kiến tranh
luận tại phiên tòa, lý do chấp nhận hay không chấp nhận những ý kiến đó nên nội dung
tranh luận thường không được thể hiện trong bản án tạo sự nghi ngờ về tính pháp lý.
1.2.2 Hạn chế trong thực hiện pháp luật
• Đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên hiện nay còn thiếu về số lượng, yếu
về trình độ, kỹ năng và một bộ phận bị suy giảm đạo đức. Nguyên nhân của tình trạng này
là do nhiều yếu tố như chất lượng đầu vào của cán bộ tư pháp chưa cao, việc bổ nhiệm các
chức danh tư pháp chưa chặt chẽ, nghiêm túc, công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên
môn vẫn còn mang tính hình thức từ nhận thức cho đến thực tiễn, đặc biệt chưa có quy chế
cụ thể cho việc xử lý vi phạm của cán bộ tư pháp.
7


• Phán quyết của Tòa án chưa dựa vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, việc xem xét
các chứng cứ, ý kiến của các bên đưa ra chưa đầy đủ toàn diện, chỉ nghiêng về các chứng
cứ buộc tội hay gỡ tội theo định kiến trước.
2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này.
2.1 Sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật
2.1.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền của những người tham gia tố tụng
cũng như trách nhiệm và quyền hạn của những người tiến hành tố tụng:
8


• Tại Điều 19 BLTTHS nên sửa đổi theo hướng bỏ quyền bình đẳng trong việc đưa ra
chứng cứ, bổ sung quyền bình đẳng trong việc đưa thông tin cho phù hợp với các
quy định của BLTTHS về chứng cứ và đảm bảo quyền cung cấp tài liệu, đồ vật,
trình bày những vấn đề có liên quan của đương sự.
• Bổ sung các Điều 50, 51, 52, 53, 54, 58, 59 theo hướng thêm quyền đưa ra thông tin
cho những người tham gia tố tụng để phù hợp với Điều 19 sau khi đã sửa đổi.
• Bổ sung Điều 43, 54 BLTTHS theo hướng thêm quyền đề nghị thay đổi người tiến
hành tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp
của họ để phù hợp với quy định bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu tại Điều 19
BLTTHS và đảm bảo quyền chính đáng của người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
• Sửa đổi Điều 218 BLTTHS theo hướng quy định nghĩa vụ của Thẩm phán yêu cầu
Kiểm sát viên đáp lại các ý kiến để đảm bảo cho việc tranh luận diễn ra bình đẳng.
2.1.2 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về thủ tục tố tụng nhằm khắc phục những
vướng mắc khi áp dụng BLTTHS:
• Sửa đổi Điều 206 BLTTHS theo hướng quy định cụ thể việc bổ sung cáo trạng là
làm rõ hơn cáo trạng để đảm bảo tính chặt chẽ của quy phạm pháp luật cũng như
quyền bào chữa của bị cáo.
• Bổ sung Điều 217 BLTTHS, quy định thêm thủ tục công bố bài bào chữa hay bài
bảo vệ quyền lợi của đương sự để đảm bảo quyền được nhờ người khác bào chữa
cũng như sự bình đẳng giữa người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương

việc tuyên truyền thường xuyên, đồng bộ, có hiệu quả để nâng cao ý thức pháp luật của
người dân như sử dụng nhiều phương pháp tuyên tuyền, tuyên tuyền trực tiếp, tuyên truyền
qua phương tiện thông tin đại chúng; trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, những người
tiến hành tố tụng cần có trách nhiệm trong việc phổ biến các quy định của pháp luật có liên
quan chứ không chỉ dừng lại ở việc phổ biến quyền và nghĩa vụ trong luật TTHS.
Tăng cường cơ sở vật chất cho cơ quan tư pháp, có chế độ chính sách hợp lý đối với
cán bộ tư pháp. Điều kiện cơ sở vật chất tốt, chế độ chính sách hợp lí sẽ thuận lợi cho hoạt
động tư pháp góp phần nâng cao chất lượng công tác tư pháp hiện nay vì điều kiện cơ sở
vật chất khó khăn, chế độ chính sách đối với cán bộ tư pháp chưa hợp lí. Một trong những
nguyên nhân không đảm bảo chất lượng xét xử cũng như sự thiếu hụt nguồn cán bộ tư
pháp hiện nay. Vậy cần có biện pháp tăng cường cơ sở vật chất, có chế độ đãi ngộ hợp lí
đối với cán bộ tư pháp. Những giải pháp cụ thể là:
 Đầu tư cơ sở vật chất: đảm bảo mỗi trụ sở tòa án có phòng sử án riêng biệt được bố
trí hợp lí về không gian, đủ điều kiện cơ sở vật chất để tạo sự thuận lợi nhất cho việc
theo dõi diễn biến phiên tòa cũng như ý kiến của những người liên quan.
 Tăng cường kinh phí cho hoạt động của các cơ quan tư pháp để nâng cao chi phí cho
mỗi hoạt động như: trả thù lao cho luật sư chỉ định, chi phí giám định, tổ chức phiên
tòa lưu động
 Quy định chính sách chế độ đối với cán bộ hợp lí như: Nâng hệ số lượng đối với
thẩm phán, kiểm sát viên cấp huyện nâng cấp phụ cấp phiên Tòa.

10


KẾT LUẬN
Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án trong luật TTHS Việt Nam có ý
nghĩa chính trị, ý nghĩa xã hội và ý nghĩa pháp lý sâu sắc. Nguyên tắc này được đảm bảo
thực hiện trên thực tế sẽ nâng cao tính dân chủ trong hoạt động tố tụng nói chung và hoạt
động xét xử nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng xét xử, đảm bảo các phán quyết của
Tòa án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và có tính thuyết phục. Hơn thế, trong tiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status