ý nghĩa nguyên tắc Thẩm quyền và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này - Pdf 33

MỞ ĐẦU
Là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, luật tố tụng hình
sự chịu sự chi phối của các nguyên tắc chung của hệ thống pháp luật như:
pháp chế xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật…
Ngoài ra, với tư cách là một ngành luật độc lập, luật tố tụng hình sự có
những quy tắc chung của hệ thống pháp luật khi vận dụng vào các quan hệ
tố tụng hình sự cũng có những biểu hiện đặc thù riêng. Nguyên tắc Thẩm
quyền và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một trong
sô đó. Nguyên tắc này đảm bảo cho Toà án thực hiện tốt các chức năng xét
xử của mình, đồng thời đề cao trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm.
Việc tìm hiểu “ ý nghĩa nguyên tắc Thẩm quyền và Hội thẩm xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
nguyên tắc này” sẽ giúp chúng ta tìm hiểu sâu nguyên tắc này.
NỘI DUNG
I. Nội dung của nguyên tắc.
"Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật" là một trong những nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự, được
hiểu là trong quá trình xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị
ràng buộc bởi bất cứ yếu tố nào khác ngoài pháp luật, loại trừ mọi sự can
thiệp từ bên ngoài vào hoạt động xét xử của Tòa án.
a. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
• Độc lập với các yếu tố khách quan:
- Độc lập với các chủ thể khác của Tòa án: giữa Thẩm phán, Hội thẩm và
nội bộ ngành Tòa án có mối quan hệ ràng buộc nhất định được thể hiện cụ
thể ở: Quan hệ giữa Thẩm phán và Tòa án cấp trên; quan hệ giữa Thẩm
phán và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; quan hệ giữa Hội thẩm và
Chánh án Tòa án nơi hội thẩm tham gia xét xử. Những mối quan hệ này
không đơn thuần là quan hệ về tổ chức hành chính càng không đơn thuần là
quan hệ tố tụng. Trong quan hệ hành chính có mối quan hệ tố tụng và trong
quan hệ tố tụng có mối quan hệ hành chính nhất định không có sự tách
bạch rõ ràng. Có thể nói Thẩm phán và Hội thẩm là người chịu sự quản lí

đưa ra quan điểm chứng minh tội phạm của Hội đồng xét xử, các tình tiết
thu thập được phải phù hợp với hiện thực khách quan.
- Độc lập với yêu cầu của người tham gia tố tụng, với dư luận và với cơ
quan báo chí: Phán quyết của Tòa án bao giờ cũng làm xuất hiện những
nhóm mâu thuẫn về lợi ích, đó là những mâu thuẫn về lợi ích giữa bị cáo và
người bị hại, giữa nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự, giữa nhà nước và
người phạm tội. Ai cũng có nhu cầu kết quả xét xử đưa lại lợi ích tối ưu
cho họ. Sau phán quyết của Tòa án sẽ có rất nhiều bình luận từ quần chúng
nhân dân, từ cơ quan báo chí rằng tòa xét xử như vậy đúng hay không, có
công bằng hay không, nặng hay nhẹ. Đặc biệt là các vụ án bị cấp trên xử
hủy, những vụ án xét xử lưu động và các vụ án lớn được dư luận quan tâm.
Những vấn đề đó đều tác động mạnh mẽ đến tâm lý của Thẩm phán và Hội
thẩm khi thực hiện nhiệm vụ xét xử. Vì vậy, mới đặt ra yêu cầu Thẩm phán
và Hội thẩm xét xử độc lập với yêu cầu của người tham gia tố tụng, với báo
chí, với dư luận nghĩa là việc xét xử chỉ dựa trên những chứng cứ , những
quy định của pháp luật, không phụ thuộc vào yêu cầu khách của những
người nói trên.
• Độc lập với các yếu tố chủ quan (giữa các thành viên trong hội đồng
xét xử):
Cơ sở của việc độc lập xét xử giữa Thẩm phán và Hội thẩm được ghi
nhận thành một trong những nguyên tắc của tố tụng đó là: khoản 1 Điều 22
BLTTHS. Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án. Các thành
viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng
cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một. Thẩm phán biểu quyết sau
cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng
văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.

2



xét xử mới đảm bảo đúng pháp luật. Độc lập là điều kiện cần thiết để Thẩm
phán và Hội thẩm tuân theo pháp luật.
- Tuân theo pháp luật là cơ sở để thể hiện tính độc lập trong xét xử: Khi
nắm chắc kiến thức pháp luật, Thẩm phán và Hội thẩm có điều kiện để thể
hiện sự độc lập trong phán quyết của mình. Xét ở khía cạnh khác thì tuân
theo pháp luật là đã loại trừ các tác động khác đến hoạt động xét xử của
Thẩm phán và Hội thẩm, bởi vậy họ mới có được sự độc lập.
Như vậy, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Độc lập là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử
chỉ tuân theo pháp luật. Tuân theo pháp luật là cơ sở không thể thiếu để
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử. Mối quan hệ này là ràng buộc.
3


Nếu chỉ độc lập mà không tuân theo pháp luật thì dễ dẫn đến tình trạng xét
xử tùy tiện, độc đoán.
II. Ý nghĩa của nguyên tắc.
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án.
Cụ thể:
• Về mặt chính trị xã hội: Nguyên tắc xác định vai trò, vị trí cơ quan
Tòa án trong hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung và các Cơ quan tiến
hành tố tụng nói riêng. Chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử và khi xét xử,
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Không một cá
nhân, cơ quan nào được xen vào hoạt động xét xử của Tòa án (cụ thể là
Thẩm phán và Hội thẩm) phải đảm bảo sự độc lập trên cơ sở chỉ tuân theo
pháp luật không tuân theo bất cứ sự chỉ đạo nào khác ngoài pháp luật, trái
pháp luật. “Quan chức” cũng như “thường dân” khi phạm tội đều bị đưa ra
xét xử bởi Tòa án trên cơ sở những quy định của pháp luật mà không có
đặc ân nào. Tư pháp độc lập là một trong những yếu tố để đảm bảo công

chinh tuân thủ pháp luật, bảo đảm việc xét xử khách quan, đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật. Nguyên tắc này loại trừ các sự tác động không
cần thiết, thậm chí tiêu cực của cơ quan, tổ chức khác đến hoạt động xét xử
của Thẩm phán và Hội thẩm đảm bảo sự bình đẳng, độc lập giữa các thành
viên của Hội đồng xét xử.
Tóm lại, “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật” là một nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự. Nó đòi hỏi trong
hoạt động xét xử, Thẩm phán và hội thẩm phải tự mình đưa ra các quyết
định để giải quyết vụ án, không lệ thuộc và bất cứ yếu tố nào khác. Hoạt
động xét xử phải đảm bảo đúng pháp luật vầ trình tự, thủ tục cũng như các
quyết định đưa ra phải chính xác và có căn cứ pháp lý. Không một cá nhân,
cơ quan, tổ chức nào được phép can thiệp và hoạt động xét xử của Tòa án.
Độc lập xét xử được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của đa phần
các nước trên thế giới. Điều đó một lần nữa khẳng định giá trị của nguyên
tắc này trong hoạt động xét xử.
III. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc.
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một
nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động xét xử của Tòa án và được ghi
nhận từ rất sớm trong Hiến pháp và pháp luật. Trên thực tế, nguyên tắc này
đã được các chủ thể của hoạt động xét xử tuân thủ và ngày càng phát huy ý
nghĩa tích cực của nguyên tắc, đảm bảo hoạt động xét xử của Tòa án được
khách quan, đúng pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều biểu hiện của
việc làm trái nguyên tắc, ảnh hưởng đến chất lượng xét xử của Tòa án, xâm
phạm đến quyền và lợi ích của công dân, gây dư luận xấu và bất bình trong
quần chúng nhân dân.
1. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc.
a. Một số biểu hiện của việc không độc lập và tuân theo pháp luật của
Thẩm phán và Hội thẩm.
Thứ nhất, hoạt động xét xử chủ yếu là hoạt động của Thẩm phán, Hội
thẩm chưa phát huy hết quyền năng được giao khi thực hiện nhiệm vụ xét

tuân theo pháp luật, cần phải có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật. Có
những hướng dẫn kịp thời nhưng cũng có những vấn đề chưa được hướng
dẫn gây khó khăn cho hoạt động xét xử. Bên cạnh đó, một số quy định
trong Bộ luật tố tụng hình sự như các quy định về giới hạn xét xử, về nghị
án, về chế độ tòa án xét xử tập thể…cũng gây ra những ảnh hưởng nhất
định đến việc thực hiện nguyên tắc.
- Nguyên nhân từ yếu tố chuyên môn nghiệp vụ: Nói đến yếu tố chuyên
môn nghiệp vụ chủ yếu nói đến trình độ chuyên môn. Trình đồ chuyên môn
yếu dẫn đến tình trạng một số Thẩm phán mới còn bị động, lúng túng trong
việc điều khiển phiên tòa, xử lý các tình huống phát sinh tại phiên tòa.
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật mà nhận
thức pháp luật lại không đúng thì việc “chỉ tuân theo pháp luật” ngược lại
sẽ gây ra những hậu quả hết sức tai hại.
- Nguyên nhân từ yếu tố đạo đức nghề nghiệp: đây cũng là một nguyên
nhân dẫn đến oan sai, thiếu công bằng trong xét xử. Ngày nay, khi cơ chế
thị trường ngày càng tác động mạnh vào các lĩnh vực của đời sống xã hội,
nếu Thẩm phán, Hội thẩm không bình tĩnh trước sự cám dỗ của đồng tiền
thì sẽ sinh đại họa cho nhân dân.
- Nguyên nhân từ việc tổ chức và hoạt động của Tòa án: hiện nay Tòa
án nhân dân được tổ chức như một cơ quan hành chính nhà nước với cơ cấu
Tòa cấp trên Tòa cấp dưới. Thẩm phán cũng là một cán bộ công chức bình
thường, là nhân viên dưới quyền quản lý của Chánh án. Như vậy, bên cạnh
việc tuân thủ pháp luật trong khi làm nhiệm vụ Thẩm phán còn chịu sự chỉ
đạo của Chánh án, Thẩm phán cũng bị áp dụng các biện pháp khen thưởng,
kỉ luật. Điều này gây ảnh hưởng rất lớn tới sự độc lập của Thẩm phán khi
xét xử. Bên cạnh đó Thẩm phán còn phải giữ mối quan hệ tốt với nhiều cơ
6


quan khác, hay việc bàn bạc ba bên trước khi xét xử cũng ảnh hưởng lớn

• Nâng cao trình độ chuyên môn cho Thẩm phán và Hội thẩm.
Trình độ chuyên môn pháp lý của Thẩm phán và Hội thẩm có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo Pháp luật
khi xét xử. Chỉ khi Thẩm phán và Hội thẩm nắm vững được các quy định của
Pháp luật, có khả năng giải quyết có chất lượng vụ án thì họ mới có khả năng
thực hiện việc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật vì nếu không có
được năng lực ấy họ sẽ phải thụ động trong việc giải quyết các vụ án và khi
đó không thể độc lập trong xét xử được. Chính vì vậy, việc nâng cao trình
độc chuyên môn cho đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm rất quan trọng. Việc
nâng cao một cách toàn diện kiến thức pháp lý nói riêng và nghiệp vụ xét xử
7


nói chung cho đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm ở nước ta hiện nay còn là
một vấn đề nan giải.
+ Đối với Thẩm phán: Hiện nay, số người đủ tiêu chuẩn để được bổ
nhiệm làm Thẩm phán chưa đủ so với yêu cầu của thực tiễn xét xử đặt ra. Do
vậy, Nhà nước đã bổ nhiệm một số người chưa đủ tiêu chuẩn do luật định
làm Thẩm phán nên số này cần phải được đào tạo kịp thời để đảm bảo đủ
tiêu chuẩn theo luật định. Người Thẩm phán phải có ý thức pháp luật cao
hơn ý thức pháp luật của những người khác mà ý thức pháp luật đó cần theo
kịp với những thành tựu của khoa học pháp lý và văn hóa pháp lý. Thẩm
phán có nghiệp vụ cao tức là họ phải nắm được những quy định của Pháp
luật, có thói quen và phương pháp khoa học để giải quyết các vấn đề pháp lý
đặt ra. Để đạt được điều này, trong quá trình đào tạo cán bộ có hướng bổ
nhiệm hoặc đã bổ nhiễm làm Thẩm phán phải thực sự coi trọng chất lượng
đào tạo, tránh hiện tượng đào tạo tràn lan mang tính chất “dán mác” hình
thức. Những Thẩm phán đương nhiệm có trình độ Cao đẳng trở xuống phải
được chuẩn hóa trình độ, đảm bảo đến năm 2012, số lượng Thẩm phán có
trình độ cử nhân luật đạt tỷ lệ 100%. Sau thời gian này, những trường hợp

đã từng nói “có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng, có tài mà không có
đức thì thành người vô dụng”. Chính vì vậy, bên cạnh việc không ngừng học
tập nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ thì Thẩm phán và
Hội thẩm phải thường xuyên tu dưỡng rèn luyện trau dồi đạo đức, lương tâm
nghề nghiệp, tạo một phong cách làm việc gương mẫu của người cán bộ làm
công tác Pháp lý, đưa nội dung đạo đức nghề nghiệp Thẩm phán vào chương
trình đào tạo nghiệp vụ xét xử tại cơ sở đào tạo nghề như là một phần cơ bản
của nội dung đào tạo.
• Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán.
Thẩm phán phải là những người có trình độ cử nhân luật chính quy, được
đào tạo nghiệp vụ xét xử, đã làm công tác pháp luật ít nhất 4 năm đối với
Thẩm phán cấp huyện và 8 năm đối với Thẩm phán cấp tỉnh. “Khi thẩm phán
có trình độ, năng lực, họ sẽ tự tin hơn, quyết đoán hơn trong công việc và lúc
này, cho dù có thể có sự ảnh hưởng, sự tác động nào đó thì họ vẫn không thể
bị chi phối khi đang giải quyết một vụ án cụ thể. Trong thời gian dài (có thể
là suốt đời) cho đến khi xét thấy không đủ tiêu chuẩn thì bãi miễn hoặc khi
họ xin ra khỏi ngành. Thực hiện được chế độ này sẽ làm cho người được bổ
nhiệm hoàn toàn được yên tâm về vị trí nghề nghiệp của họ mà tạo động cơ
và điều kiện thuận lợi cho họ nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, tu dưỡng đạo đức, tác phong nghề nghiệp và đúc rút nhiều kinh
nghiệp tạo niềm tin nội tâm cao khi tiến hành xét xử.
• Thực hiện các biện pháp kinh tế - xã hội.
Trong mọi thời đại, kinh tế là yếu tố quyết định bản chất xã hội, bản
chất pháp luật. Trong điều kiện nước ta hiện nay mới chuyển từ cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường đã làm phát sinh nhiều yếu
tố thuộc mặt trái của nó.
Hoạt động xét xử là hoạt động của Nhà nước do Thẩm phán và Hội
thẩm tiến hành. Khi tiến hành hoạt động này, người Thẩm phán và Hội
thẩm khó tránh khỏi những tác động của yếu tố kinh tế. Mục đích của các
biện pháp kinh tế xã hội trong lĩnh vực này là tạo điều kiện cho Thẩm phán

ra ý kiến và biểu quyết những phán quyết không hợp lý sẽ dẫn đến việc Hội
đồng xét xử đưa ra những bản án không thực sự đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật. Tất nhiên, những sai sót của bản án sơ thẩm đó còn có khả năng
được sửa chữa bởi các trình tự khác theo luật định. Song điều đó sẽ làm
phát sinh những công việc mà lẽ ra không nên có và nhiều khi nó còn làm
ảnh hưởng xấu đến sự tín nhiệm của nhân dân đối với Tòa án cấp sơ thẩm.
Vì vậy, với trình độ cũng như các tiêu chuẩn về đạo đức, phẩm chất nghề
nghiệp của Thẩm phán thông qua việc tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán
hiện nay thì nên chăng thay vì quy định số Hội thẩm chiếm đa số trong
thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm hiện nay bằng việc quy định cho số
Thẩm phán – những người xét xử chuyên nghiệp – chiếm đa số trong hội
đồng đó và nâng cao chất lượng Hội thẩm để phát huy đúng mức vai trò
của họ trong công tác xét xử mà vẫn bảo đảm tính dân chủ cao trong hoạt
động này do chế định Hội thẩm đem lại.
KẾT LUẬN
Như vậy, muốn cho nguyên tắc này thực hiện tốt thì nhà nước phải có
pháp luật hoàn chỉnh, vì nó là điều kiện để đảm bảo cho Toà án có chỗ dựa
vững chắc trong công tác xét xử. Ngoài ra, Thẩm phán và Hội thẩm phải là
những người có trình độ chuyên môn, chính trị và tinh thần đấu tranh bảo
vệ pháp luật.

10


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003;
2. Trường đại học Luật Hà nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt
Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006;
3. Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình
sự Việt Nam, Nxb, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status