PHẦN A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng ở bất kỳ thời đại nào, quốc
gia nào, con người luôn là động lực của sự phát triển xã hội mà động lực tiên phong
thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững là do những người tài tạo ra.” Chính những
người tài giỏi là cái gốc làm nên sự nghiệp”. Họ đã tạo ra những bước ngoặt trong sự
phát triển xã hội loài người, sản sinh ra những giá trị vật chất, tinh thần văn minh tiêu
biểu trong nền văn minh nhân loại. Đặc biệt bước vào thế kỷ của nền văn minh trí tuệ,”
thế kỷ cạnh tranh chất xám”sẽ diễn ra hàng ngày gay gắt thì nhiều nước trong khu vực
và trên thế giới lại càng quan tâm tới chiến lược nhân tài.
Nhận thức được vấn đề này, lịch sử Việt Nam đã ghi công nhiều người tài năng và
coi việc đào tạo nhân tài là quốc sách của nhà nước. Ngày nay, vấn đề bồi dưỡng nhân
tài được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài là
nhiệm vụ của toàn xã hội, song trách nhiệm trực tiếp là của những người làm công tác
giáo dục. Bởi vậy, trong tài liệu Tiếp tục quán triệt nghị quyết Trung ương II khoá VIII
phấn đấu thực hiện nhiệm vụ năm học 1998-1999, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ rõ:
“Trường Tiểu học và mỗi giáo viên Tiểu học đều có nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng
học sinh giỏi”. Việc làm này có một tầm quan trọng và có ý nghĩa hết sức to lớn trong
hệ thống giáo dục quốc dân, mở mang tính chất nền tảng cho sự phát triển của mỗi cá
nhân. Nó là bước khởi điểm của các bậc học cao hơn. Ở bậc Tiểu học, học sinh được
trang bị những hiểu biết cơ bản về thiên nhiên, xã hội và con người; có được những kỹ
năng nghe, đọc, nói, viết, tính toán, phương pháp tư duy và làm việc có khoa học, đó
chính là cơ sở ban đầu cho sự phát triển con người mới năng động, sáng tạo, dám nghĩ,
dám làm; con người của nền kinh tế thị trường ngày một phát triển. Vì vậy, có thể nói:
“Giáo dục Tiểu học giữ vị trí hết sức quan trọng, là nền móng của sự phát triển mỗi
con người trong hệ thống giáo dục quốc dân.” Bước sang thế kỷ XXI thế kỷ của sự
bùng nổ công nghệ thông tin đòi hỏi mỗi cá nhân phải có kiến thức mới hiện đại, để có
thể đáp ứng, thích nghi với sự phát triển của xã hội. Cho nên, ngay bây giờ, chúng ta
cần quan tâm tới trẻ em. Ở độ tuổi học sinh Tiểu học đa số các em có sự phát triển bình
thường về thể chất, tâm lý. Tuy vậy, ở mỗi trẻ em đều tiềm tàng khả năng tư duy toán
học. Chúng ta nhận thấy rằng, học sinh Tiểu học của ta ngày nay thông minh và có sự
những kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi (BDHSG). Một số trường, việc BDHSG đã
trở thành truyền thống và bồi dưỡng được nhiều học sinh giỏi (HSG) môn Tiếng Việt,
môn Toán làm cơ sở cho việc bồi dưỡng nhân tài ở các cấp học trên, nhưng sáng kiến
kinh nghiệm (SKKN) mới chỉ khai thác một mảng kiến thức như:
+ Khai thác dạng toán" Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó” như
SKKN của cô giáo Bùi Thị Kim Chi cán bộ Phòng GD&ĐT thành phố Lào Cai (nay là
phó hiệu trưởng trường tiểu học Hoàng Văn Thụ).
+ Dạy yếu tố hình học trong BDHSG của cô giáo Nguyễn Thị Yên- Lê Văn
Tám.
+ Dạy phần cắt ghép hình cho HSG của cô giáo của cô giáo Bùi Thị Bình- Bắc
Cường.
Đã có đề tài nghiên cứu công tác chỉ đạo việc phát hiện và BDHSG môn Ngữ
Văn THCS của cô giáo Nguyễn Thị Chí- Lê Quý Đôn.
Sáng kiến kinh nghiệm - Ngô Thị Thanh Nga- trường Tiểu học Lê văn Tám - TP Lào Cai
2
Bên cạnh những trăn trở của giáo viên dạy bồi dưỡng, phòng giáo dục thành phố
Lào Cai (TPLC) đã mở chuyên đề mang tính quy mô, chuyên đề thu hút nhiều giáo viên
các nhà quản lý giỏi có nhiều kinh nghiệm tham gia viết tài liệu như cô Đỗ Thị Gấm, cô
Mai Thị Biên, cô Ngô Thị Thanh Nga, cô Bùi Thị Kim Chi, cô Bùi Thị Việt Hà…Các
chuyên đề được viết thành một tập tài liệu lấy tên là “Đề cương bồi dưỡng học sinh
giỏi”.
Các SKKN của cá nhân hay tài liệu tập hợp các chuyên đề mang tính tập thể đó
đến nay không còn phù hợp bởi sự thay đổi hình thức thi, từ thi học sinh giỏi quốc gia
đến thi HSG cấp tỉnh giao lưu Toán tuổi thơ (TTT)- cấp quốc gia và đến nay là thi
Olympic TTT, thi giải toán qua mạng Internet. Mặt khác, do thay đổi hình thức thi nên
các tài liệu, các chuyên đề mang tính tập thể không còn phù hợp vì vậy, một số nội
dung trong tài liệu không sử dụng hết; chưa có nhiều các bài toán về ứng dụng kiến
thức toán học vào thực tế cuộc sống.
Năm học 2007-2008 Giao lưu TTT cấp quốc gia thay đổi thể lệ giao lưu TTT cấp
quốc gia, phần thi cá nhân mỗi thi sinh phải giải 14 bài toán trong đó có 13 bài trắc
so sánh đối chiếu kết quả BDHSG ở các trường trong địa bàn thành phố để làm nổi bật
thế mạnh công tác phát hiện và BDHSG của nhà trường.
5.2. Phương pháp phân tích tổng hợp
Đề tài có phân tích những biện pháp, cách thức trong phạm vi, đối tượng nghiên
cứu, từ kết quả đó đề tài đánh giá, kết luận về những thành tựu và hạn chế của công tác
BDHSG.
5.3. Phương pháp điều tra thống kê
Đề tài này có tập hợp các số liệu, kết quả bồi dưỡng HSG hàng năm, khảo sát giờ
dạy để đánh giá tình hình BDHSG.
Sáng kiến kinh nghiệm - Ngô Thị Thanh Nga- trường Tiểu học Lê văn Tám - TP Lào Cai
4
PHẦN B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
NHỮNG CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG
HỌC SINH CÓ NĂNG KHIẾU TOÁN
1. Các khái niệm cơ bản về học sinh giỏi
1.1. Năng lực: Năng lực là một tổ hợp tâm lí của con người, đáp ứng một số nhu cầu
nhất định và là điều kiện cần thiết để hoàn thành một số hoạt động nào đó.
1.2. Năng khiếu: Năng khiếu là một hệ thống tiền đề bên trong dựa trên những tư chất
bẩm sinh, di truyền được phát hiện trong đời sống cá thể tạo cho con người năng lực
giải quyết với chất lượng cao những yêu cầu đặt ra.
1.3. Thông minh: thông minh là một phức tạp năng lực xác định một mức độ của quá
trình tư duy, cho phép con người sớm nhận ra các thuộc tính cơ bản và các mối quan hệ
của tình huống, hoàn cảnh cần xử lý và đã nhanh chóng tìm ra giải pháp tốt nhất nhằm
đạt được mục đích đề ra.
1.4. Sáng tạo: sáng tạo là một tổ hợp các năng lực cho phép con người trên cơ sở kinh
nghiệm của mình thực hiện những thành tựu mới, độc lập trên bình diện cá nhân hay
bình diện XH, ở đó con người gạt bỏ được cách giải quyết ,cách đặt vấn đề, phương
sách giải quyết, truyền thống để đạt được các kết quả mới.
1.5. Tài năng: Tài năng là một tổ hợp các năng lực tạo nên tiền đề thuận lợi cho hoạt
Cải tiến các thiết bị ;các thao tác; trong quá trình học tập, thực hành, xử lí, lắp ráp
nhanh các thiết bị công cụ.
Xử lí các dữ liệu nhanh chính xác, sử dụng đúng, sáng tạo các ngôn ngữ, kí hiệu.
2.2. Về phẩm chất đạo đức:
Người tài năng thường có một số phẩm chất nổi bật:
- Hoạt động có mục đích,có tinh thần trách nhiệm cao, khiêm tốn và giàu tính
nhân văn.
- Có lòng say mê hứng thú trong công việc, óc tò mò, lao động kiên trì miệt mài.
- Có ý chí phấn đấu vươn lên với tinh thần chủ động cao.
Sáng kiến kinh nghiệm - Ngô Thị Thanh Nga- trường Tiểu học Lê văn Tám - TP Lào Cai
6
- Có tính độc lập trong suy nghĩ, trong hành động, dám lao vào cái mới, dám xả
thân chấp nhận khó khăn.
2.3. Sáng tạo :
Người có năng khiếu thường tư duy độc lập và có óc tư duy phong phú họ có khả
năng dự báo, luôn tìm ra những giải pháp độc đáo, tối ưu để ứng xử, để giải quyết vấn
đề.
Với tất cả những yếu tố trên, họ có khả năng phát hiện, sáng tạo ra những giá trị
vật chất, tinh thần mới cho xã hội.
Ba mặt thông tuệ, phẩm chất nổi đạo đức, sáng tạo với các nét đặc trưng nổi bật
nêu trên tạo nên cấu trúc tài năng.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH
CÓ NĂNG KHIẾU TOÁN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ VĂN TÁM
I. Đặc điểm tình hình của nhà trường:
Năm học 2009-2010 trường tiểu học Lê Văn Tám có 44 cán bộ giáo viên (Gồm 3
cán bộ quản lí, 41 giáo viên, 4 nhân viên phục vụ); có 29 lớp với 1080 học sinh ; có 19
giáo viên có trình độ đại học, 4 giáo viên có trình độ cao đẳng, 3 giáo viên đang theo
học đại học.
Đội ngũ giáo viên nhiều người có kinh nghiệm giảng dạy, có tinh thần trách
Sau đó SGD & ĐT tổ chức kì thi chọn HSG cấp tỉnh để lập 2 đội tuyển ( môn Toán,
môn Tiếng Việt) tham dự kì thi HSG cấp quốc gia.
1.2.3. Từ đầu tháng 2 đến giữa tháng 3 SGD & ĐT sẽ tập trung những giáo viên giỏi
trong tỉnh, có kinh nghiệm BDHSG tiếp tục bồi dưỡng đội tuyển theo những nội dung,
kiến thức, kĩ năng cao hơn.
2. Giai đoạn từ 1998 – 2003:
Đây là giai đoạn có những thay đổi lớn đó là : Bộ GD&ĐT chỉ đạo bỏ thi học sinh
giỏi các môn học cấp quốc gia và chỉ thi học sinh giỏi lớp 5 cấp tỉnh với 2 môn Tiếng
Việt – Toán.
2.1. Về nội dung, kiến thức, kĩ năng : Đảm bảo rèn luyện cho học sinh những kiến
thức, kĩ năng cơ bản, bám sát chương trình lớp học, cấp học, có kiến thức kĩ năng bổ
sung nâng cao. Giai đoạn này phòng GD Lào Cai có tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng
học sinh giỏi ở các trường trung tâm; mời giáo viên trực tiếp dạy bồi dưỡng tham dự và
viết các chuyên đề BDHSG ; mỗi giáo viên phụ trách một chuyên đề.
2.2. Thời gian bồi dưỡng được chia làm hai giai đoạn như sau :
2.2.1. Giai đoạn thứ nhất tính từ trung tuần tháng 9 đến hết tháng 1 nhà trường tổ
chức bồi dưỡng học sinh giỏi sau đó tổ chức thi học sinh giỏi cấp trường để chọn đội
tuyển học sinh giỏi tham dự kì thi cấp thị xã được tổ chức vào cuối tháng 1.
2.2.2. Giai đoạn thứ 2: Từ đầu tháng 2 đến giữa tháng 3, PGD tổ chức BD tại PGD
cho đội tuyển tham gia kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh tổ chức vào cuối tháng 3 .
Sáng kiến kinh nghiệm - Ngô Thị Thanh Nga- trường Tiểu học Lê văn Tám - TP Lào Cai
8
3. Giai đoạn từ 2004 đến nay: Giai đoạn này, BGD & ĐT phối hợp với tạp chí Toán
tuổi thơ tổ chức giao lưu Toán tuổi thơ cấp quốc gia. Giai đoạn này SGD & ĐT không
tổ chức thi HSG cấp tỉnh. Do vậy, việc bồi dưỡng ở các phòng giáo dục, các nhà trường
có thay đổi. Một số trường giai đoạn này thôi không bồi dưỡng HSG hoặc có trường
bồi dưỡng nhưng hiệu quả chưa cao, không có học sinh giao lưu cấp thành phố đạt giải.
3.1. Nội dung hình thức: Phương pháp bồi dưỡng được chia thành 2 hướng rõ ràng.
Cụ thể: với các lớp đã tiến hành thay sách phải nắm vững về yêu cầu về đổi mới
kiểm tra đánh giá.
đó. Chẳng hạn:
Từ những năm 1993- 1994 trường đã có học sinh tham gia thi HSG quốc gia có
em Lương Huyền Thương- giải khuyến khích (toàn tỉnh chỉ có 2 em đạt giải cấp quốc
gia).
Năm học 1994 – 1995 có 2 em đạt giải khuyến khích là em Nguyễn Phương Thu,
em Lương Quang Hưng.
Đến năm 1995 – 1996 đã có 2 em đạt giải nhất là em Nguyễn Thu Trang và em
Hoàng Văn Lâm cùng 2 giải nhì và 2 giải ba cấp Quốc gia.
Năm 1999 – 2000 có đến 16 em đạt giải cấp tỉnh và những năm học gần đây, hình
thức thi đã chuyển sang giao lưu các em không chỉ thi giải toán vận dụng thực tế và
cuộc sống các em còn phải giao lưu văn nghệ, trao đổi kinh nghiệm học toán. Do đó,
đòi hỏi học sinh phải toàn diện hơn, nhà trường vẫn có đội tuyển tham gia.
Năm học 2004 – 2005, năm đầu tiên thay đổi hình thức tổ chức từ thi HSG sang
giao lưu TTT trường đã có 4 em tham gia giao lưu cấp quốc gia cả 4 em đoạt huy
chương trong đó có 2 Huy chương bạc,2 Huy chương đồng.
Những năm tiếp theo, năm nào nhà trường cũng có số học sinh tham gia giao lưu,
thi Olympic TTT với số lượng đông và nhiều giải cao so với số HSG toàn thành phố.
Chỉ điểm sơ lược từ khi thành lập trường đến nay, qua các giai đoạn nhà trường
đã có những đóng góp đáng kể trong công tác chỉ đạo và bồi dưỡng HSG.
Thành tích đó được lãnh đạo ngành Giáo dục cũng như các cấp lãnh đạo ghi nhận, biểu
dương.
Cụ thể kết quả BDHSG môn Toán ở trường trong những năm qua thể hiện ở bảng
so sánh với số học sinh đạt giải trong các kì thi HSG và học sinh đoạt huy chương trong
giao lưu TTT cấp Quốc gia của trường tiểu học Kim Đồng và của toàn thành phố Lào
Cai qua bảng sau:
Sáng kiến kinh nghiệm - Ngô Thị Thanh Nga- trường Tiểu học Lê văn Tám - TP Lào Cai
10
BẢNG SO SÁNH SỐ HỌC SINH ĐẠT GIẢI TRONG KÌ THI HỌC SINH GIỎI
VÀ ĐOẠT HUY CHƯƠNG TRONG GIAO LƯU TOÁN TUỔI THƠ- GIẢI TOÁN
QUA MẠNG INTERNET CẤP TỈNH, CẤP QUỐC GIA
10 giải
cấp tỉnh
1 giải nhất
3 giải nhì
4 giải ba
2 giải KK
2004- 2005
8 huy
chương, 1
bằng khen
5 HCB
3 HCĐ
1 bằngkhen
2 huy
chương
1 HCB
1 HCĐ
4 huy
chương
2 HCB
2 HCĐ
Sáng kiến kinh nghiệm - Ngô Thị Thanh Nga- trường Tiểu học Lê văn Tám - TP Lào Cai
11
2005-2006
9 huy
chương, 1
bằng khen
1 HCV
4 HCB
4 HCĐ
1 HCB
1 HCĐ
2 huy
chương
2 HCĐ
2008 - 2009
5 huy
chương
2 HCV
2HCB
1 HCĐ
Ghi chú: Ký hiệu HCV- huy chương vàng; HCB – huy chương bạc; HCĐ - huy chương đồng
Nhận xét:
Nhìn vào bảng theo dõi số lượng học sinh đạt giải các cấp ở trên, phân tích từ thực
tế công tác BDHSG ta nhận thấy kết quả BDHSG của nhà trường khá ổn định và được
nâng cao về chất lượng giải.
IV. Những tồn tại, khó khăn trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi:
Do thay đổi cách đánh giá, thay đổi hình thức thi phần nào ảnh hưởng đến tâm lý
người học và người dạy. Một số giáo viên dạy BDHSG mất phương hướng bồi dưỡng.
Trên thực tế, thị trường sách có bán rất nhiều các loại sách như: sách bồi dưỡng, sách
nâng cao, 10 chuyên đề BDHSG, các phương pháp giải toán, các bài toán chọn lọc, tạp
chí Toán tuổi thơ…Từ đó, phải chọn tài liệu nào để dạy cũng là một khó khăn cho giáo
viên. Nếu không có định hướng tốt, giáo viên sẽ mua rất nhiều sách nhưng không biết
sẽ hướng dẫn HS học như thế nào, vào lúc nào và dễ gây quá tải cho học sinh.
Năm học 2003-2004, PGD & ĐT Lào Cai thấy được khó khăn đó nên đã mở
chuyên đề BDHSG, các chuyên đề này do các thầy cô giáo đã có kinh nghiệm BDHSG
thực hiện, giáo viên trực tiếp bồi dưỡng tham dự chuyên đề và viết nội dung dạy. Như-
ng từ đó đến nay, chưa có những chuyên đề mang tính tổng kết, rút kinh nghiệm. Nhất
là trong giai đoạn hiện nay, hình thức thi HSG đã thay đổi, mà một trong những yêu
cầu quan trọng là phải đổi mới trong việc kiểm tra đánh giá. Điều đó sẽ dẫn đến nhiều
13
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG CÔNG TÁC PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC
SINH CÓ NĂNG KHIẾU TOÁN LỚP 4 – 5
PHẦN I. PHÁT HIỆN HỌC SINH CÓ NĂNG KHIẾU TOÁN
1. Những biểu hiện của học sinh có năng khiếu toán:
Học sinh giỏi thường có những biểu hiện sau:
1.1. Có khả năng thay đổi phương thức hành động để giải quyết vấn đề phù hợp với
những thay đổi của các điều kiện.
1.2. Có khả năng di chuyển từ trừu tượng, khái quát sang cụ thể và từ cụ thể sang trừu
tượng khái quát.
1.3. Có khả năng xác lập sự phụ thuộc giữa dữ kiện theo hai hướng xuôi và ngược.
VD: Khi đã lĩnh hội sự phụ thuộc của tổng vào giá trị của các số hạng, học sinh có
thể xác lập sự phụ thuộc của các số hạng vào sự biến đổi của tổng.
1.4. Có ý thức tìm tòi nhiều lời giải khác nhau đối với một số, một tình huống, một bài
toán hoặc thích xem xét một vấn đề theo nhiều khía cạnh khác nhau. Chẳng hạn: Khi đã
Sáng kiến kinh nghiệm - Ngô Thị Thanh Nga- trường Tiểu học Lê văn Tám - TP Lào Cai
14
thấy qua một số ví dụ cụ thể nói chung tích của hai số tự nhiên là một số lớn hơn từng
thừa số, đặt vấn đề tìm các phản ví dụ, phủ định phán đoán đó.
1.5. Có sự quan sát tinh tế, biết phát hiện nhanh ra các dấu hiệu chung và riêng, mau
chóng phát hiện ra điểm nút, tháo gỡ bằng cách tìm ra hướng giải quyết vấn đề hợp lý,
độc đáo, nhanh gọn, sáng tạo.
VD: Khi giải bài toán: Thái có số bi bằng
3
2
số bi của Bình, sau đó hai bạn chơi
với nhau một số ván và Thái đã ăn được của Bình một số viên bi. Hỏi Thái đã ăn của
Bình mấy viên bi? Học sinh đă phát hiện được dấu hiệu của bài toán trong dạng toán
tìm hai số khi biết tổng và tỉ số (ẩn tổng) và điểm nút được phát hiện. Khi Thái ăn được
điểm trung bình môn của năm học trước (Lớp 4 lấy kết quả năm học lớp 3; lớp 5 lấy
kết quả năm học lớp 4)
2.2. Tổ chức kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm với hình thức ra đề đảm bảo các
yêu cầu của chuẩn kiến thức kĩ năng để có đánh giá chính xác, kết hợp với điểm trung
bình môn của năm trước để chọn đội tuyển lần 1.
2.3. Tổ chức ôn tập sau đó tiến hành khảo sát lần 2 với nhóm đã được chọn lần một.
2.4. Kết hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên dạy bồi dưỡng qua kiểm tra định tính,
qua giao tiếp với các em để thành lập đội tuyển HSG lớp 4, lớp 5.
2.5. Ra các bài tập có nhiều cách giải cho HS tự phân tích đề, phát triển bài toán theo
nhiều hướng khác nhau. Từ đó phát hiện HS có khả năng học toán.
PHẦN II. CÁC BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH CÓ NĂNG KHIẾU
TOÁN LỚP 4–5.
1. Phát huy tính tích cực, chủ động, nhận thức các kiến thức của học sinh
Điều kiện cần thiết nhất là phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong
việc thực hiện nhiệm vụ chiếm lĩnh lượng kiến thức và kĩ năng học toán cho học sinh.
Muốn vậy người giáo viên cần hiểu mỗi học sinh với tư cách là chủ thể của quá trình
nhận thức dưới sự tổ chức điều khiển của giáo viên trong quá trình đó để chia ra làm
hai nhóm phương pháp dạy học toán thông báo luyện tập và hoạt động tìm tòi.
Ở nhóm phương pháp thứ nhất vai trò của người thầy cực kì quan trọng, Khi cần
truyền đạt kiến thức mới (cũ) cho HS, GV nêu vấn đề khéo léo sẽ kích thích được tính
chủ động của HS và gây dựng cho các em niềm đam mê học tập.
Nhóm phương pháp thứ hai đòi hỏi giáo viên phải chú ý theo dõi tiến trình nhận
thức của từng HS để có những tác động có tính chất định hướng để các em chủ động
tìm tòi kiến thức nhằm đạt hiệu quả cao.
Sáng kiến kinh nghiệm - Ngô Thị Thanh Nga- trường Tiểu học Lê văn Tám - TP Lào Cai
16
Giáo viên cần khai thác tối đa hiệu quả của công cụ giải toán trong việc đào tạo
và BDHSG, sau khi hướng dẫn HS tìm hiểu, khám phá kiến thức, GV cần cho HS phát
hiện thủ thuật giải toán nhanh để HS có kĩ năng tính toán tìm đáp số nhanh khi gặp bài
tập điền kết quả một cách chính xác.
Sáng kiến kinh nghiệm - Ngô Thị Thanh Nga- trường Tiểu học Lê văn Tám - TP Lào Cai
17
5
4
Cách 1: So sánh phân số với 1
Cách 2: So sánh qua phân số trung gian:
So sánh phân số
b
a
và
g
e
;
d
c
là phân số trung gian:
b
a
<
d
c
và
d
c
<
g
e
thì
b
a
1995
1994
=
1995
1
Vì
1994
1
>
1995
1
nên
1994
1993
<
1995
1994
Cách 4: So sánh bằng sơ đồ đoạn thẳng
Ví dụ: So sánh
3
2
và
5
4
Trên đoạn thẳng đơn vị học sinh dễ dàng nhận thấy
5
4
chiếm nhiều phần của đơn
vị hơn
số bi của An. Chi có số bi hơn TBC
của 3 bạn là 6 hòn bi. Hỏi Chi có bao nhiêu hòn bi?
3.3. Biện pháp thứ 3. Luôn đặt ra yêu cầu giải bằng nhiều cách: phân tích, so sánh
chọn lọc phương pháp tối ưu nhất cho một bài toán.
Những cách giải khác nhau của một bài toán góp phần hình thành và củng cố cho
HS về tính chất của phép tính số học, về quan hệ giữa những phép tính số học.
HS so sánh các cách giải đó, chọn ra được cách hay hơn và tích luỹ được nhiều
thủ thuật để giải toán, rèn trí thông minh, óc sáng tạo và tiết kiệm thời gian khi làm bài.
VD: Sau khi dạy bài “Diện tích hình chữ nhật” ở lớp 4, giáo viên cho các em giải bài
tập sau:
Bài toán: Một miếng đất hình chữ nhật dài 160 m, rộng 45 m, nếu chiều rộng tăng
thêm 5 m thì phải bớt chiều dài đi bao nhiêu mét để diện tích miếng đất không thay
đổi?
Với đề bài toán này, các em HS đã đưa ra nhiều cách giải khác nhau. Dưới đây là
cách giải thông thường mà các em đã đưa ra.
Cách 1: (Xem hình vẽ)
Cạnh AQ dài: 45 + 5 = 50(m)
Diện tích hình chữ nhật ABPQlà: 160 x 50 = 8000(m
2
)
Diện tích hình chữ nhật ABCD là: 160 x 45 = 7200 (m
2
)
Diện tích hình chữ nhật DCPQ là: 8000 – 7200 = 800 (m
2
)
Vì cùng bằng diện tích ABPQ trừ đi diện tích miếng đất lúc đầu nên diện tích MNPB
bằng diện tích CDQP và cũng bằng 800 m
2
Vậy chiều dài phải bớt đi là: 800 : 50 = 16 (m)
545
45160)545(160
+
×−+×
(1)
Cách giải thứ hai có thể gộp lại trong biểu thức: 160 -
545
5160
+
×
(2)
Cách giải thứ ba có thể gộp lại trong biểu thức:
545
5160
+
×
(3)
Cả ba cách giải này đều đi đến cùng một đáp số 16 m vì theo quy tắc chia một
hiệu cho một số ta có thể biến đổi từ biểu thức (1) thành biểu thức (2) và theo quy tắc
nhân một số với một hiệu thì ta có thể biến đổi từ biểu thức (1) thành biểu thức (3).
Từ ví dụ này giáo viên giúp HS có thể nêu ra nhận xét, sau khi tìm ra nhiều cách
giải thì viết gộp các phép tính giải lại để có một biểu thức, rồi tìm cách biến đổi biểu
thức ấy thành nhiều các dạng khác để suy ra cách giải mới (nếu có)
3.4. Biện pháp thứ 4: Thường xuyên yêu cầu các em lập đề toán và tự giải trên cơ
sở là các tình huống cụ thể, sau đó tập cho các em thành thói quen tìm tòi sáng tạo.
Qua đó đánh giá xem HS đã thực sự nắm được “Dạng toán mới” chưa.
3.4.1. GV đưa ra đề toán thiếu yêu cầu, HS tự điền yêu cầu vào rồi giải.
VD: An làm một công việc mất 3 giờ, Bình làm công việc đó mất 4 giờ, Công
làm công việc đó mất 2 giờ
Học sinh có thể nêu yêu cầu:
3
?
Chẳng hạn: Số học sinh nữ của lớp em gấp rưỡi số học sinh nam. Số học sinh nữ
hơn số học sinh nam 9 bạn. Hỏi lớp em có bao nhiêu bạn nam, bao nhiêu bạn nữ?
3.5.Biện pháp thứ 5: Tổ chức cho học sinh tự tìm tòi, tranh luận và thảo luận để tìm
cách giải quyết về vấn đề gọi tắt là: tự phát hiện ở ngay trong giờ học trên lớp.
Chẳng hạn: Khi dạy bài “Nhân với số có hai chữ số” tiết 73 – Toán 4 giáo viên sẽ
tung vấn đề ra để các em tự tìm hướng giải quyết.
VD: Tính 38 x 24
Sáng kiến kinh nghiệm - Ngô Thị Thanh Nga- trường Tiểu học Lê văn Tám - TP Lào Cai
21
55 lít
Làm thế nào bây giờ?
*Học sinh A thực hiện: Tách 24 = 8 x 3
38 x 24 = 38 x (8 x 3) = (38 x 8) x3
*Học sinh B thực hiện:
Em tách theo phép cộng 24 = 7 + 8 + 9
Dùng quy tắc nhân một số với một tổng. 38 x 24 = 38 x (7 + 8 + 9)
= 38 x 7 + 38 x 8 + 38 x 9
*Học sinh khá giỏi có thể thực hiện:
Em dùng phép trừ: 38 = 40 – 2
Theo quy tắc nhân một hiệu với một số. 38 x 24 = (40 - 2) x 24
= 40 x24 – 2 x 24
(40 x 24 là nhân với số tròn chục đã học)
*Học sinh khác lại thực hiện: Em dùng phép cộng theo cách khác24 = 10+10 + 4
Theo quy tắc nhân một số với một tổng. 38 x 24 = 38 x (10 + 10 + 4)
= 38 x 10 + 38 x 10 + 38 x 4
Qua cách làm này, GV có thể thu thập được nhiều cách giải tuỳ theo khả năng của
HS. Sau đó GV cho các em trình bày cách thực hiện của mình để tập thể lớp thảo luận
về các phát hiện.
tập thể và các tài liệu biên soạn theo nội dung phát triển từ kiến thức học trên lớp như:
* Đề cương bồi dưỡng học sinh giỏi của nhóm cốt cán PGD-ĐT Lào Cai
* Các phương pháp giải toán ở Tiểu học (2 tập)
* Tạp chí Toán tuổi thơ.
* Một số thủ thuật giải toán ở Tiểu học.
3.8.2. Nhóm cốt cán nhà trường soạn các bài toán ứng dụng thực tế gắn với các dạng
toán điển hình và các phương pháp giải toán ở Tiểu học.
3.8.3. Đăng kí mua tạp chí Toán tuổi thơ, đọc và làm các bài tập, các đề thi theo từng
giai đoạn cho phù hợp.
3.8.4. Khi dạy hết mỗi phần, giáo viên soạn hệ thống bài tập phô tô cho học sinh.
3.8.5. HS tự phát triển đề toán trên các bài toán cơ bản đã được học và tự giải.
3.9. Biện pháp thứ 9: Nhà trường cần thúc đẩy một số nhân tố tham gia vào quá
trình bồi dưỡng học sinh có năng khiếu toán.
Sáng kiến kinh nghiệm - Ngô Thị Thanh Nga- trường Tiểu học Lê văn Tám - TP Lào Cai
23
3.9.1. Giáo viên dạy giỏi: tinh thông về chuyên môn nghiệp vụ, có tâm huyết trong việc
giáo dục học sinh, có điều kiện đầu tư cho nghề dạy học, có kinh nghiệm trong giáo
dục, bồi dưỡng học sinh.
3.9.2. Nhà trường tạo điều kiện, phương tiện phục vụ cho hoạt động dạy và học: Thư
viện, thiết bị, sân chơi, bãi tập v.v ; có tập thể sư phạm mạnh để có thể thực hiện có
hiệu quả việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên.
3.9.3. Ban giám hiệu, các tổ khối trưởng là nòng cốt chuyên môn, phải quan tâm đến
vấn đề phát hiện bồi dưỡng học sinh có năng khiếu, lập được tổ cốt cán chuyên môn,
bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ này đáp ứng với khả năng và nhu cầu học tập của HS.
3.9.4. Cần tạo cho học sinh có nhu cầu, có động cơ học tập lành mạnh, có năng lực học
tập, đặc biệt là năng lực tự học.
3.9.5. Các bậc cha mẹ quan tâm tạo điều kiện cho con em học tập, kết hợp chặt chẽ với
nhà trường, với giáo viên trong việc tổ chức giúp đỡ con em mình học tập một cách
khoa học.
Những nhân tố trên cần được huy động, tham gia tích cực, có phối hợp hài hoà
2001
2001-
2002
2002
-
2003
2003
-
2004
2004-
2005
2005-
2006
2006-
2007
2007-
2008
2008 -
2009
Số
HS
đạt
giải
16giải
7 nhì
6 ba
3 KK
15 giải
2 nhì
12 ba
chương
2 HCV
2 HCB
1 HCĐ
Trong năm học 2009 - 2010, nhà trường có 5 học sinh đạt giải, trong đó có 2 giải
nhất, 1giải nhì, 2 giải ba và 1 giải khuyến khích trong giao lưu Toán tuổi thơ cấp thành
phố. có 3 /6 em của thành phố được chọn tham dự thi Olym pic TTT cấp quốc gia. Có 7
trong tổng số 31 em toàn thành phố tham dự thi giải toán qua mạng Internet cấp quốc
gia.Từ kết quả trên cho thấy công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu
Toán của nhà trường đã đi đúng hướng, đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục của TPLC nói riêng, của tỉnh Lào Cai nói chung.
PHẦN C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Một số kết luận:
Phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu toán có vai trò quan trọng trong
việc đào tạo nhân tài cho đất nước. Việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu
ở trường Tiểu học là tiền đề cho việc phát triển và bồi dưỡng HSG ở các cấp học tiếp
theo". Để có những học sinh giỏi về các môn khoa học sau này đòi hỏi phải có những
học sinh có năng khiếu ở Tiểu học. Chính vì Vậy, mỗi giáo viên muốn phát hiện và bồi
dưỡng học sinh có năng khiếu toán đạt kết quả cần phải nắm vững các biểu hiện để
phát hiện và biết sử dụng linh hoạt các biện pháp bồi dưỡng, kết hợp với những yếu tố
tham gia trong quá trình bồi dưỡng.
Sáng kiến kinh nghiệm - Ngô Thị Thanh Nga- trường Tiểu học Lê văn Tám - TP Lào Cai
25