MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
Để đảm bảo xét xử đúng đắn, khách quan nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, pháp luật tố tụng hình
sự đã quy định một vụ án có thể được xét xử ở hai cấp: cấp sơ thẩm và cấp phúc
thẩm. Đây là một nguyên tắc được áp dụng phổ biến tại các quốc gia trong đó có
Việt Nam, vì không phải trong mọi trường hợp, nhận thức về vụ án của hội đồng
xét xử đã đúng đắn ngay từ đầu. Thực tiễn, khi tiến hành tố tụng nói chung và khi
xét xử nói riêng đã từng xuất hiện nhiều nguyên nhân dẫn đến việc cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đưa ra những phán quyết không chính xác về
vụ án. Như vậy, việc quy định nguyên tắc hai cấp xét xử trong Bộ luật tố tụng hình
sự 2003 thể hiện sự thận trọng của Tòa án trong việc xét xử, đảm bảo cho việc xét
xử chính xác, công bằng và nghiêm minh. Để tìm hiểu rõ hơn về chế độ hai cấp
xét xử, nhóm chúng em lựa chọn đề tài: “Ý nghĩa của nguyên tắc thực hiện chế
độ hai cấp xét xử và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của nguyên tắc này”.
A. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ
HAI CẤP XÉT XỬ
1.1. Khái niệm cấp xét xử, cấp xét xử sơ thẩm, cấp xét xử phúc thẩm
Cấp xét xử là hình thức tổ chức tố tụng để xét xử và xét xử lại các vụ án.
Hình thức này được đảm bảo thực hiện bằng việc quy định các thủ tục tố tụng cụ
thể, tổ chức tố tụng xét xử cụ thể và tổ chức hệ thống Tòa án có thẩm quyền xét xử
theo các thủ tục tố tụng xét xử khác nhau, nhằm xét xử các vụ án được đúng đắn,
khách quan. Có hai cấp xét xử là cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm.
Cấp xét xử sơ thẩm là hình thức tổ chức tố tụng để xét xử lần đầu các vụ án
hình sự. Bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng
nghị để xét xử lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm.
1
nhất. Khi xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm phải căn cứ vào những
quy định của pháp luật về thẩm quyền theo sự việc, theo đối tượng và lãnh thổ.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án và quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp
luật ngay, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, bị cáo và những người tham gia tố
tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp
trên trực tiếp xét xử lại một lần nữa.
Hai là, bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời
hạn do Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với bản án,
quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc
thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai. Khi xét lại vụ án, Tòa án cấp
phúc thẩm không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án và quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm mà còn xét xử lại vụ án về mặt nội dung.
Ba là, với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát
hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục
giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Tòa án cấp giám đốc thẩm và tái thẩm không phải là
một cấp xét xử, không xét lại vụ án về mặt nội dung mà chỉ xem xét lại bản án
hoặc tính hợp pháp và tính có căn cứ của các bản án và quyết định đó. Khi giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm, Tòa án không thực hiện chức năng xét xử mà thực hiện
chức năng giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới.
3. Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HAI CẤP XÉT XỬ
3.1. Ý nghĩa pháp lý
Việc quy định một vụ án hình sự có thể được xét xử qua hai cấp là một bảo
đảm pháp lý cần thiết cho việc xét xử của Tòa án được chính xác và đúng đắn. Khi
qua hai cấp xét xử, nội dung của vụ án sẽ được xem xét, phân tích, đánh giá kỹ
lưỡng, toàn diện hơn. Từ đó, Tòa án sẽ đưa ra các phán quyết có sự chính xác cao
hơn. Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự là
cơ sở quan trọng để Viện kiểm sát, bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền
và lợi ích liên quan đến vụ án thể hiện thái độ không đồng tình với việc xét xử của
hiệu quả chức năng giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới.
4
Ngoài ra, việc quy định hai cấp xét xử trong tố tụng còn tránh tình trạng một
vụ án bị xử ở quá nhiều cấp khiến quá trình tố tụng kéo dài, ảnh hưởng tới hiệu
lực của bản án, quyết định, nhất là các bản án, quyết định đã có hiệu lực.
b. Ý nghĩa xã hội
Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự
góp phần rất lớn vào việc đảm bảo công bằng xã hội, nâng cao hiệu quả giáo dục ý
thức pháp luật và phòng ngừa tội phạm, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân
vào hoạt động xét xử của Tòa án, nâng cao uy tín của các cơ quan tiến hành tố
tụng nói chung và Tòa án nói riêng. Bởi lẽ, việc xét xử phải nhằm đến mục đích
cao nhất là đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật, tránh oan sai, đảm bảo
quyền bình đẳng của mọi công dân. Do vậy, sẽ không công bằng nếu tước bỏ
quyền được bảo vệ quyền lợi của bị cáo, người có quyền và lợi ích liên quan đến
vụ án tại một phiên tòa xét xử khác nếu chưa có các điều kiện thực tế để khẳng
định hay bảo đảm rằng phán quyết của lần xét xử đầu tiên là hoàn toàn chính xác.
Trường hợp sau đây là một ví dụ điển hình về ý nghĩa của việc thực hiện
nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự. Trong vụ án vườn điều ở Bình
Thuận, những người trong gia đình chị Nguyễn Thị Nhung đã bị Tòa án sơ thẩm
xét xử về tội giết người, cướp tài sản công dân, không tố giác tội phạm... Nếu Tòa
án không xét xử phúc thẩm thì gia đình chị đã phải chịu án oan. Tòa án sơ thẩm đã
không đánh giá đầy đủ và chính xác các chứng cứ nên đã kết luận vội vàng. Nhờ
có những phán quyết chính xác đúng đắn của Tòa án cấp phúc thẩm mà gia đình
chị Nhung đã được minh oan. Đồng thời, Tòa án cấp phúc thẩm đã kịp thời phát
hiện và sửa chữa những sai lầm trong quá trình xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm.
4. THỰC TIỄN THI HÀNH NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HAI CẤP
XÉT XỬ VÀ NGUYÊN NHÂN
tham gia tố tụng; các cơ quan điều tra còn vi phạm các thủ tục tố tụng; một số
người tiến hành tố tụng do bị mua chuộc nên xét xử sai sự thật... Ngoài ra, chất
lượng các luật sư chưa thật sự lớn mạnh, trình độ nghiệp vụ chưa đáp ứng kịp với
yêu cầu thực tiễn nên nhiều khi chưa đảm bảo được quyền lợi của bị can, bị cáo.
Thứ tư, hệ thống cơ sở vật chất phục vụ việc xét xử còn thiếu thốn, chưa tạo
điều kiện tốt nhất cho việc xét xử. Số lượng Tòa án chưa đủ để giải quyết các vụ
6
việc, diện tích trụ sở nhỏ, hẹp, chỗ ngồi còn thiếu. Hệ thống âm thanh, ánh sáng,
hệ thống lưu trữ tài liệu... chưa đủ đáp ứng yêu cầu xét xử.
Từ một số nguyên nhân trên, ta có thể đề ra những giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam.
5. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGUYÊN TẮC
THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HAI CẤP XÉT XỬ
5.1. Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
a. Hoàn thiện các quy định về xét xử sơ thẩm
Một là, cần hoàn thiện quy định về việc giao quyết định đưa vụ án ra xét xử
của Tòa án. Điều 182 Bộ luật tố tụng hình sự quy định chỉ giao quyết định đưa vụ
án ra xét xử cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa là chưa
thật sự đảm bảo quyền và lợi ích của tất cả những người tham gia tố tụng. Do đó,
Điều 182 cần mở rộng đối tượng được giao quyết định đưa vụ án ra xét xử bao
gồm cả những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích liên quan, đặc biệt là
người bị hại (hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền lợi của họ).
Những người này cần được biết sớm nội dung quyết định đưa vụ án ra xét xử
giống như bị cáo, để có thời gian chuẩn bị bảo vệ quyền lợi tại Tòa án.
Hai là, cần sửa đổi quy định về sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, cụ
thể cần bỏ Điểm c Khoản 2 Điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự (Nếu sự vắng mặt
của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và họ đã được giao giấy triệu tập hợp lệ,
Tòa án có thể xét xử vắng mặt bị cáo). Nó sẽ hạn chế tối đa các trường hợp xét xử
năng phá án, tổng kết thực tiễn xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật và
làm án lệ, không nên có một Toà án tối cao với hàng trăm thẩm phán như hiện
nay. Các thẩm phán Toà án phúc thẩm không nên là thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao. Toà án nhân dân tối cao chỉ gồm 15 đến 17 thẩm phán và cấu thành Hội
đồng (toàn thể) thẩm phán; tất cả các thẩm phán này đều tham gia vào các hoạt
động nghiệp vụ của Toà án nhân dân tối cao.
5.3. Nâng cao hiệu quả công tác giải thích, áp dụng pháp luật
Muốn nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, pháp luật sau khi ban hành phải
được giải thích, hướng dẫn một cách kịp thời, cụ thể và rõ ràng. Để thực hiện được
điều đó, cần phải có sự giao trách nhiệm giải thích pháp luật trong lĩnh vực xét xử
8
cho Tòa án nhân dân tối cao chứ không chỉ cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Nguyên nhân vì đây là cơ quan trực tiếp áp dụng pháp luật nên dễ dàng phát hiện
những vướng mắc, bất cập, sự không rõ ràng và cụ thể trong các quy định của
pháp luật. Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân tối cao có bề dày kinh nghiệm thực hiện
chức năng tổng kết, hướng dẫn xét xử nên việc giải thích pháp luật sẽ chính xác
hơn so với các cơ quan khác. Việc giải thích này chỉ có giá trị thực tiễn cao khi đi
kèm với công tác hướng dẫn thực hiện pháp luật.
Ngoài ra, tổ chức hệ thống Tòa án theo cấp xét xử với việc bỏ thẩm quyền xét
xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao như đã phân tích sẽ tạo điều kiện cho
Tòa án nhân dân tối cao tập trung vào việc hướng dẫn áp dụng pháp luật. Không
chỉ vậy, việc bỏ thẩm quyền xét xử cấp phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao
còn giúp Tòa án có điều kiện thực hiện những chức năng mới như giải thích pháp
luật; tổng kết, phát triển và ban hành án lệ… góp phần giải quyết tính thiếu đồng
bộ, thiếu khả thi của hệ thống pháp luật nước ta hiện nay.
5.4. Nâng cao năng lực của người tiến hành tố tụng và đội ngũ luật sư
a. Nâng cao năng lực của thẩm phán
Trước tiên cần thay đổi cơ chế bổ nhiệm thẩm phán. Những thẩm phán được
tạo lại nhằm giúp đội ngũ luật sư luôn luôn được cập nhật kiến thức mới, nâng cao
các kỹ năng nghề nghiệp. Những luật sư nào không đáp ứng được các yêu cầu của
các quá trình nâng cao kiến thức sẽ bị tước chứng chỉ hành nghề, điều đó sẽ giúp
các luật sư không ngừng học hỏi trau dồi kiến thức, nâng cao chất lượng tranh
tụng khi tham gia phiên tòa.
5.5. Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động xét xử
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác xét xử cần được tăng cường,
như đầu tư xây dựng mới và mở rộng trụ sở làm việc, nâng cao chất lượng trụ sở...
Ngoài ra các trang thiết bị làm việc khác như xe cộ, bàn ghế hội trường xét xử, bàn
ghế làm việc, loa đài, máy vi tính, máy photocopy... cũng cần được tăng cường,
giúp cho các Tòa án có những điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác.
B. KẾT LUẬN
10
Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử được ghi nhận thành một điều
luật – Điều 20 Bộ luật tố tụng hình sự. Nó là quan điểm chung chỉ đạo trong tổ
chức tố tụng, tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng trình
tự tố tụng, bảo đảm xét xử đúng đắn, khách quan về vụ án, bảo vệ có hiệu quả các
quyền của những người tham gia tố tụng. Do đó, cần có những giải pháp thiết thực
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nguyên tắc trong thực tiễn xét xử hiện nay.
11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
***
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb.
CAND, Hà Nội, 2011;