Thực hiện chế độ hai cấp xét xử” - Pdf 34

MỤC LỤC

A. GIỚI THIỆU
Bất kì một ngành luật nào cũng có những nguyên tắc cơ bản, nắm vai trò là
kim chỉ nam cho mọi hoạt động của ngành luật đó. Các nguyên tắc cơ bản của luật
TTHS cũng vậy, đó là những phương châm, những định hướng chi phối tất cả hoặc
một số hoạt động TTHS, được các văn bản pháp luật ghi nhận. Các nguyên tắc này
được quy định trong BLTTHS đồng thời nội dung của của một số nguyên tắc còn
được quy định trong hiến pháp và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Trong
số các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS thì nguyên tắc “Thực hiện chế độ hai cấp
xét xử” là một nguyên tắc có tính chất đặc thù, thể hiện sự thận trọng của tòa án
trong việc xét xử và tôn trọng quyền của bị cáo và những người tham gia tố tụng
khác được chống lại bản án và quyết định của tòa án.

B. NỘI DUNG
I.

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HAI
CẤP XÉT XỬ
1. Cơ sở thực tiễn, cơ sở pháp lý và quá trình hình thành nguyên tắc
a) Cơ sở thực tiễn
Pháp luật TTHS quy định nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử làm một
đảm bảo cho quá trình tìm ra sự thật khách quan của vụ án, giúp Tòa án xét xử
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần vào việc thực hiện đường lối chính
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay, tất cả vì mục
tiêu con người.
Nguyên tắc hai cấp xét xử tạo Điều kiện cho những người tham gia tố tụng sau
khi xét xử lần đầu có cơ hội yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại một lần nữa theo thủ
tục phúc thẩm. Đây cũng là cơ hội để Tòa án cấp trên sửa sai cho Tòa án cấp dưới
đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Nguyên tắc hai cấp xét xử được áp dụng trên thực tế còn có tác dụng nâng cao

– Thời kì 1980 đến nay:
Sau khi đất nước độc lập cùng với sự ra đời của Hiến pháp 1980, Luật tổ chức
TAND năm 1981 đã được ban hành. Mặc dù không chính thức ghi nhận nguyên tắc
hai cấp xét xử nữa nhưng tư tưởng cơ bản về chế độ hai cấp xét xử vẫn được thể
hiện rõ tại Điều 11 và các quy đinh khác của văn bản này. Phải đến khi BLTTHS
năm 1988 ra đời thì nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử mới được thể hiện một
cách đầy đủ và có nhiều thay đổi, tiến bộ hơn so với các quy định trước đây.
Tuy nhiên, các văn bản pháp luật trên cũng còn những hạn chế nhất định trong
thể hiện nguyên tắc hai cấp xét xử. Các hạn chế đó đã được khắc phục trong Luật tổ
chức TAND năm 2002 (Điều 11) và BLTTHS năm 2003 (Điều 20). Cụ thể thủ tục
xét xử sơ thẩm được quy định từ Điều 170 – Điều 229 BLTTHS và từ Điều 230 –
Điều 234 là các Điều luật quy định về thủ tục xét xử phúc thẩm.
2. Nội dung nguyên tắc
Nội dung của nguyên tắc có thể hiểu là những biểu hiện cụ thể của tư tưởng chỉ
đạo có tính bắt buộc về tổ chức tố tụng để xét xử về hình sự nhằm đảm bảo cho việc
xét xử đúng đắn, khách quan bảo đảm các quyền và lợi ích của công dân, lợi ích của
nhà nước, lợi ích của xã hội, được quy định tại Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm
2


2002 (Điều 11), BLTTHS (Điều 20) và các quy định liên quan khác trong các văn
bản quy phạm pháp luật TTHS. Theo đó, nội dung nguyên tắc hai cấp xét xử như
sau:
Thứ nhất, bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng
nghị theo quy định của BLTTHS. Xét xử sơ thẩm là cấp xét xử đầu tiên. Sau khi xét
xử sơ thẩm, bản án và quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực ngay, viện kiểm sát
có quyền kháng nghị; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng
cáo theo quy định của pháp luật, thời hạn kháng cáo, kháng nghị được quy định tại
Điều 234 BL TTHS: “Thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày



điểm của Tòa án cấp dưới: đòi hỏi các Tòa án cấp dưới khi đưa ra bản án hay quyết
định phải thực sự cân nhắc, thận trọng và trách nghiệm hơn. Và Tòa án phúc thẩm
cũng kịp thời sửa chữa những sai lầm và những vi phạm pháp luật mà cấp sơ thẩm
đã mắc phải, giảm thiểu được các vụ án oan sai. Thông qua hoạt động xét xử phúc
thẩm, Tòa án cấp trên không chỉ chỉ ra những sai lầm, thiếu sót mà Tòa án cấp dưới
đã mắc phải, tự mình sửa chữa những sai lầm, khắc phục những thiếu sót đó hoặc
đề nghị Tòa án cấp dưới sửa chữa những sai lầm của mình mà đây cũng chính là
một hình thức hướng dẫn áp dụng pháp luật có hiệu quả rất lớn giữa tòa án cấp
phúc thẩm với tòa án cấp sơ thẩm, nhờ đó mà chất lượng xét xử tại các cấp xét xử
ngày càng được nâng cao.
Thêm vào đó, việc xét xử lại vụ án mà Tòa án sơ thẩm đã xét xử sẽ giúp tìm ra
nguyên nhân dẫn đến những sai lầm hay những vi phạm pháp luật trong việc áp
dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án nói riêng. Từ
đó giúp tìm ra các giải pháp thích hợp để sửa chữa, khắc phục về lập pháp nhằm
hoàn thiện tổ chức tòa án đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc hai cấp xét xử và yêu cầu
cải cách tư pháp.
Đồng thời với việc qui định nguyên tắc này trong BLTTHS đảm bảo sự đồng
bộ với Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, qua đó tạo sự thống nhất và xuyên
suốt của pháp luật. Nguyên tắc này tạo Điều kiện để Viện kiểm sát, bị cáo và những
người tham gia tố tụng khác có Điều kiện thể hiện thái độ không nhất trí của mình
đối với việc xét xử của Tòa án.
2. Ý nghĩa chính trị
Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS đáp ứng các
yêu cầu của nhà nước pháp quyền đối với việc đảm bảo các quyền và lợi ích chính
đáng của công dân, đảm bảo dân chủ, đảm bảo xét xử đúng người đúng tội, áp dụng
đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, là sự thể hiện
nhận thức khoa học về hoạt động xét xử của tòa án phù hợp với nguyên tắc của chủ
nghĩa Mác – Lênin về nhận thức thế giới. Đó là, nhận thức luôn có sự vận động và

nghĩa vụ pháp lý của mình. Việc quy định nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS
với nội dung cơ bản là một vụ án hình sự có thể được xét xử và chỉ có thể xét xử ở
hai cấp xét xử là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, giúp tránh được tình trạng vụ án
được xét xử ở quá nhiều cấp, làm cho quá trình tố tụng kéo dài, ảnh hưởng tới hiệu
lực của bản án, quyết định nhất là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật.
Xây dựng cơ chế xét xử đảm bảo sự độc lập của Toà án, độc lập của Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân là một trong những yếu tố quyết định chất lượng xét
xử. Bởi lẽ "xét xử là phòng tuyến cuối cùng của việc bảo vệ pháp luật cần phải
được độc lập, do đó những người thực hiện nó cần phải được độc lập. Hơn nữa tính
tự chủ của quyền tư pháp là Điều kiện quan trọng và tiền đề bảo đảm sự độc lập của
xét xử và của những người thực hiện xét xử". Thông qua việc xét xử và đặc biệt là
qua các phiên tòa công khai, việc xét xử góp phần giáo dục công dân chấp hành
nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội, nâng cao ý
thức đâu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cũng như các hành vi vi phạm khác,
hơn thế nữa, nó có ý nghĩa trong việc đảm bảo việc áp dụng pháp luật đúng đắn và
thống nhất.
3. Ý nghĩa xã hội
Mục đích chính của Tòa án nhằm mục đích chính là xét xử đúng người đúng
tội, đúng pháp luật, tránh oan sai đảm bảo một trong những nguyên tắc cơ bản của
luật TTHS - đó là bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật
5


(Điều 5 BLTTHS 2003). Xuất pháp từ mục đích ấy nên BLTTHS năm 2003 đã ra
đời và đảm mang lại những ý nghĩa tích cực.
Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS đã góp phần
lớn trong việc đảm bảo công bằng xã hội, nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp
luật, phòng ngừa tội phạm, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động
xét xử của Tòa án, nâng cao uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và

như năm 2002 có 23 người bị kết tội oan, năm 2003 có 7 người, năm 2004 có 5
người, năm 2005 có 4 người.
6


Nhìn chung các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục tố tụng và các nguyên
tắc tố tụng được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ. Những kết quả đó góp phần tăng
cường pháp chế, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời là
sự ghi nhận thành công bước đầu của công cuộc cải cách tư pháp, tăng cường hiệu
quả và hiệu lực của hệ thống cơ quan tư pháp, trọng tâm là hoạt động xét xử của
Tòa án. Bên cạnh những kết quả khách quan đó, việc xét xử ở cấp sơ thẩm thời gian
qua vẫn còn những hạn chế nhất định như:
Lượng án tồn đọng tại TAND cấp huyện hàng năm nhìn chung có xu hướng
ngày càng giảm nhưng vẫn còn nhiều và có chiều hướng tăng, giảm không ổn định.
Ví dụ năm 2002 thụ lý 31.127 vụ tồn đọng 1.195 vụ bằng 3,38% số vụ đã thụ lý;
năm 2003 thụ lý 33.493 vụ tồn đọng 821 vụ bằng 2,45%; năm 2004 thụ lý 35.029
vụ tồn đọng 1517 vụ bằng 4,33%; năm 2005 thụ lý 41.518 vụ tồn đọng 1120 vụ
bằng 2,69% số vụ đã thụ lý. Năm 2006, theo thống kê chung lượng án tồn động tại
các Tòa án cấp sơ thẩm (cả cấp huyện và cấp tỉnh) là 2,40% số vụ thụ lý, lượng án
tồn động giảm hơn so với các năm trước.
b) Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật TTHS về nguyên tắc hai
cấp xét xử trong xét xử phúc thẩm
Căn cứ vào tình hình xét xử phúc thẩm có thể kết luận như sau:
– Số lượng vụ án đã giải quyết, xét xử phúc thẩm chiếm tỷ lệ cao trên tổng số
vụ án Tòa án cấp phúc thẩm đã thụ lý. Tuy nhiên, tình trạng tồn đọng án tại Tòa án
cấp phúc thẩm hàng năm vẫn còn tương đối cao. Ví dụ, năm 2006, số lượng thụ lý
của Tòa án các cấp là 14.285 vụ trong đó có 13.485 vụ án được giải quyết, xét xử
phúc thẩm chiếm 94,39% tổng số vụ án thụ lý. Năm 2007, số lượng vụ án thụ lý là
15.127 vụ trong đó có 14.480 vụ đã giải quyết xét xử phúc thẩm chiếm 95,72%
tổng số vụ án thụ lý.

2. Giải pháp nâng cao hiệu của việc áp dụng nguyên tắc
Trước khi đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng
nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử, ta cần phải chỉ ra nguyên nhân khiến
cho hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc này bị hạn chế.
– Quy định pháp luật tố tụng về 2 cấp xét xử chưa thật sự hoàn thiện, việc giải
thích, hướng dẫn, áp dụng pháp luật còn chưa kịp thời, đầy đủ.
– Tổ chức hệ thống tòa án chưa phù hợp, chưa đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc
thực hiện chế độ hai cấp xét xử.
– Đội ngũ người tiến hành tố tụng còn thiếu về số lượng, môt bộ phận còn yếu
về nghiệp vụ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về chuyên môn.
– Cơ sở vật chất phục vụ việc xét xử còn hẹp, chưa tạo Điều kiện tốt nhất cho
việc xét xử, đội ngũ luật sư chưa thật lớn mạnh, trình độ nghiệp vụ chưa đáp ứng
kịp yêu cầu thực tiễn.
Căn cứ vào những nguyên nhân trên, ta sẽ vạch ra những yêu cầu cơ bản nhất
nhằm khắc phục sự hạn chế hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc.
a) Hoàn thiện pháp luật
Để nâng cao hiệu quả nguyên tắc này cần phải có các quy định pháp luật cụ
thể, đồng bộ và thống nhất Điều chỉnh các hoạt động xét xử sơ thẩm, phúc thẩm;
giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án theo đúng tinh thần nguyên tắc “Thực hiện chế
độ hai cấp xét xử”.
Thứ nhất, cần có các quy định khác để hạn chế được tình trạng xét xử nhiều
lần một vụ án do quyết định của tòa phúc thẩm mà không có một giới hạn cụ thể.
Quy định cụ thể hơn về giới hạn về số lần xét xử, tạo ra sự kiểm soát cả về thời
8


gian cũng như trình tự tố tụng. Pháp luật tố tụng cần quy định hạn chế số lần Tòa
án cấp phúc thẩm, hội đồng giám đốc thẩm được quyền hủy bản án, quyết định
của Tòa án cấp dưới để giao Tòa án cấp dưới xét xử lại. Quy định như vây sẽ góp
phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của các tòa trong quá trình giải quyết các vụ

thì để Toà án cấp huyện và Toà án cấp tỉnh xét xử sơ thẩm tạm thời là hợp lý. Tuy
nhiên, nếu mở rộng phạm vi tài phán của Toà án, thì cần tổ chức lại hệ thống Toà
án sơ thẩm 2 cấp (cấp thấp nhất ở từng quận, huyện, liên quận, huyện hoặc mỗi
9


quận, huyện có nhiều Toà án; cấp cao hơn có thể ở từng tỉnh hoặc mỗi tỉnh, thành
phố có một số Toà án) với đa số các vụ án được xét xử ở Toà án cấp thấp nhất.
Thành lập các Toà án phúc thẩm độc lập ở các vùng (giống như các Toà
Thượng thẩm trước đây). Khi có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, tòa án phúc
thẩm xét xử lại vụ án về mặt nội dung cũng như xét xử lại tính hợp pháp và tính có
căn cứ của bản án sơ thẩm.
Quy định lại thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm; quy định cụ thể là tòa án
nào được quyền thực hiện thẩm quyền này. Không chỉ Tòa án nhân dân tối cao mà
64 tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hiện nay cũng có
thẩm quyền này. Việc trao quyền giám đốc thẩm,tái thẩm cho cả các tòa án địa
phương thì không thể tránh khỏi những chồng chéo, mâu thuẫn trong giải thích và
áp dụng pháp luật. Chính vì vậy, thẩm quyền giám đốc thẩm nên được trao về cho
Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án nhân dân tối cao với chức năng hướng dẫn, giải
thích pháp luật cho tòa án nhân dân các cấp sẽ hoàn toàn phù hợp khi thực hiện
thẩm quyền giám đốc thẩm.
c) Giải pháp về con người
Bên cạnh việc cải cách bộ máy tòa án thì vấn đề con người cũng cần có sự quan
tâm thích đáng. Cần phải chú trọng hơn nữa việc đào tạo, nâng cao trình độ của các
vị thẩm phán. Trong nhiều vụ án chỉ vì thẩm phán có năng lực kém, giải quyết vụ
án không đúng, không hợp tình hợp lí mà dẫn tới tình trạng kháng cáo, kháng nghị
làm cho quá trình giải quyết vụ án phải trải qua nhiều cấp xét xử hơn, gây tốn kém,
lãng phí. Do đó cần cấp thiết nâng cao số lượng các thẩm phán có năng lực cao,
được đào tạo một cách bài bản, có đạo đức tốt đưa vào làm việc trong Tòa án các
cấp đồng thời tăng mức lương của thẩm phán lên mức phù hợp để thẩm phán có thể




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status