Ý nghĩa của nguyên tắc xác định sự thật của vụ án và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này - Pdf 34

MỤC LỤC
A. MỞ BÀI……………………………………………………………………..1
B. NỘI DUNG………………………………………………………………….1
I.
Nguyên tắc xác định sự thật……………………………………………1
1. Cơ sở của nguyên tắc xác định sự thật vụ án……………………………..1
1.1. Cơ sở lí luận……………………………………………….……………
1
1.2. Cơ sở pháp lý……………………………………………….…………..2
1.3. Cơ sở thực tiễn…………………………………………….…………..2
2. Nội dung cơ bản của nguyên tắc xác định sự thật của vụ án……….…...2
II.
Ý nghĩa của nguyên tắc xác định sự thật của vụ án…………………..3
III. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này………6
1. Một số khó khăn khi thực hiện nguyên tắc này…………………………..6
2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc…..…..7
2.1. Hoàn thiện một số quy định của pháp luật……………………..……..7
2.2. Hoàn thiện việc thực hiện nguyên tắc…………………………..….….8
2.3. Một số kiến nghị………………………………………………….…….9
C. KẾT THÚC…………………………………………………………….…10

1


A. MỞ BÀI
Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự là những phương châm, những
định hướng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động tố tụng hình sự được các văn bản
pháp luật ghi nhận. Quá trình giải quyết vụ án hình sự thông qua các giai đoạn
khác nhau, nhưng các giai đoạn đó đều có mục đích chung là xác định sự thật của
vụ án, do vậy xác định sự thật của vụ án không chỉ là nguyên tắc quan trọng của tố
tụng hình sự mà còn là nguyên tắc vô cùng quan trọng đối với bất kì luật hình thức

định đúng đắn vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự.
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. bị
can, bị cáo không bị buộc phải chứng minh là mình vô tội. Luật tố tụng hình sự
không quy định bị can bị cáo phải khai đúng sự thật, mặt khác bị can bị cáo cũng
không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Muốn xác định được bị can, bị cáo có
tội hay không thì phải dựa trên cơ sở những chứng cứ đã thu được trong vụ án để
xem xét. Trong quá trình điều tra, xét xử bị can, bị cáo có quyền đưa ra những
chúng cứ để chứng minh là mình vô tội. Trên cơ sở những chúng cứ rút ra từ
những lời khai của bị can, bị cáo kết hợp những chứng cứ khác, cơ quan tiến hành
tố tụng xác định bị can, bị cáo có tội hay không có tội
1.2. Cơ sở pháp lý:
Nguyên tắc xác định sự thật được quy định tại Điều 10 Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 (BLTTHS). Ngoài ra, việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc này còn
được quy định tại một số Điều luật trong Bộ luật này và các văn bản luật liên quan.
1.3. Cơ sở thực tiễn:
Trong thực tiễn xét xử vụ án, bị can bị cáo không có những điều kiện về khả
năng, trình độ chuyên môn, và trong một số trường hợp không được pháp luật trao
cho quyền để tiến hành việc thu thập chứng cứ, xác định sự thật của vụ án để có
thể chứng minh mình vô tội hoặc tội nhẹ hơn. Vì thế việc xác định sự thật của vụ
án được pháp luật tố tụng coi là một nguyên tắc cơ bản mà Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát và Tòa án có trách nhiệm phải xác định sự thật của vụ án.
2. Nội dung cơ bản của nguyên tắc xác định sự thật của vụ án:
Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án được quy định trong Điều 10 Bộ luật
tố tụng hình sự với những nội dung cơ bản sau:
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp
pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm
rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết
tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Mọi
tình tiết thu được trong quá trình điều tra, xét xử đều được đánh giá trên cơ sở pháp
3

chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ...”. Việc xác định sự
thật phải được tiến hành do cán bộ tư pháp thuộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
và Toà án và chỉ được sử dụng biện pháp hợp pháp. Nguyên tắc này đã loại trừ
những trường hợp người tiến hành tố tụng lại sử dụng các biện pháp có khả năng
xâm hại nghiêm trọng tới các quyền cơ bản của công dân để làm rõ sự thật của vụ
án. Để đảm bảo một cách tối đa quyền lợi của người dân, cơ quan tiến hành tố tụng
phải có đầy đủ căn cứ chứng minh tội phạm, thể hiện qua bản án kết tội của Tòa án
mới có thể khẳng định là có tội. Do vậy, việc thực hiện đúng nguyên tắc xác định
4


sự thật là cơ sở quan trọng nhất để khẳng định một người là có tội hay không có
tội.
Quá trình xác định sự thật là một quá trình vô cùng phức tạp, khi giữa các
giai đoạn đều có sự liên quan mật thiết với nhau. Nguyên tắc này là cơ sở pháp lý
để cơ quan có thẩm quyền do Luật TTHS quy định bao gồm cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án có quyền áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của
vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ nhằm làm rõ những chứng cứ xác
định có tội, xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Ngoài ra nguyên tắc này cũng đặt ra nghĩa
vụ đối với các cơ quan này không được thiên vị, cảm tình cá nhân, mà phải thu
thập và đánh giá chứng cứ của vụ án trên tất cả các phương diện, cân nhắc kỹ mọi
tình tiết có thể làm ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án. Từ đó, mọi tình
tiết thu được trong quá trình điều tra, xét xử đều được đánh giá trên cơ sở pháp lý
để rút ra kết luận về vụ án.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Ý nghĩa chính trị - xã hội: Xác định sự thật của vụ án là một trong những
yếu tố để thực hiện công bằng xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, mọi công dân đều sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, pháp luật
sẽ được chấp hành nghiêm chỉnh. Các quyền cơ bản của những con người trong xã

Ông Nguyễn Bá Nhàn (sinh năm 1962, trú tại Bình Phước) bị bắt giữ dựa
trên kết luận của tổ chức giám định kỹ thuật hình sự Công an TPHCM “dấu vân
tay phát hiện bên trong hộc tủ bằng gỗ ở trong phòng ngủ nạn nhân tại hiện trường
với dấu tay ngón “nhẫn phải” trên chỗ bản mẫu so sánh mang tên Trương Bá Nhàn
là do ngón tay của cùng một người in ra”. Đồng thời tại nơi ở của ông Nhàn,
CQĐT thu giữ 62 triệu đồng và 5 lượng vàng. Kiểm tra việc sử dụng thời gian của
ông vào sáng 12/12/2001 qua các nhân chứng cho thấy, 8h30 ông Nhàn đi bỏ mối
khẩu trang với ông P.C.C và cùng về đến nhà ông này vào khoảng 10h15, sau đó
ông C. đi đón con, ông Nhàn trở về nhà. Khoảng 11h30, ông đến phòng răng, nơi
ông thường đến chữa răng), chờ đến 12h vào làm răng. Khoảng thời gian từ 10h15
đến 11h30, CQĐT cho rằng ông Nhàn không chứng minh được trong khi dấu vân
tay của ông để lại tại hộc tủ đựng tiền nhà nạn nhân. “Do vậy, căn cứ vào tài liệu
chứng cứ đã thu thập được đủ cơ sở để kết luận Trương Bá Nhàn đã thực hiện hành
vi giết người, cướp tài sản”.
Tuy nhiên, trong vụ án này, ngoài chứng cứ buộc tội là dấu vân tay để lại
hiện trường, CQĐT không thu thập được một chứng cứ nào khác. Số tiền thu giữ ở
nhà ông Nhàn sau khi điều tra, CQĐT đã trả lại cho mẹ vợ ông vì đó là tiền bà
bán đất, gửi con gái giữ giùm. Ông Nhàn bị tạm giam 3 năm 8 tháng 1 tuần, với 3
lần nhận giấy triệu tập của tòa nhưng cả 3 lần đều không thể đưa ra xét xử.
Ngày 8/6/2006, Cơ quan CSĐT Công an TPHCM ra quyết định đình chỉ
điều tra bị can đối với ông vì đã hết thời hạn điều tra mà chưa đủ chứng cứ chứng
minh hành vi phạm tội. Ông được trả tự do. Nhưng nỗi thống khổ của ông chưa kết
6


thúc ở đó khi mà không đủ sức lo và cũng để có tiền thăm nuôi ông, cha mẹ ông
đành bán tống bán tháo 4 mẫu đất đã cho vợ chồng ông. Việc này khiến vợ ông và
gia đình bên ấy hiểu lầm. Đã thế, ông lại mang mặc cảm của một người vừa trở về
từ trại giam, không việc làm, thân phận pháp lý không rõ ràng nên hạnh phúc gia
đình thêm chênh vênh.

tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.
Có thể thấy nguyên nhân dẫn đến hủy bản án sơ (phúc) thẩm chính là thiếu
sót trong việc nhận định, xác minh và đánh giá các chứng cứ. Vấn đề này là do
nhiều lý do khác nhau, tuy nhiên một trong những nguyên nhân nổi bật là sự hạn
chế về năng lực, trình độ của cán bộ tư pháp chưa đáp ứng được đòi hỏi thực
tiễn. Trong thực tiễn của hoạt động điều tra, một số điều tra viên chưa nắm chắc
được những quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, đặc biệt là
trong những vụ án liên quan đến lĩnh vực kinh tế, kế toán, tài chính, khoa học công
nghệ; phương pháp điều tra còn hạn chế, thụ động, nặng về hành chính, khả năng
mở rộng và khám phá còn yếu; trong một số vụ án số lượng và giá trị của chứng cứ
rất lớn nên các điều tra viên không thu thập được đầy đủ và có đánh giá chưa đúng
về vụ án. Đặc biệt, với các tội phạm diễn ra trong một thời gian dài thì, việc xác
định sự thật thực sự rất khó khăn bởi những người tiến hành tố tụng có thể được
thay thế theo thời gian, cùng với đó là sự phối hợp nhân dân, cơ quan và tổ chức
không thực sự hiệu quả do vậy dẫn đến việc bỏ sót tình tiết hay đưa ra những kết
luận thiếu chính xác là điều thường xảy ra.
Bên cạnh đó là sự thiếu trách nhiệm hoặc cố ý vi phạm pháp luật của một số
điều tra viên khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Vì thành tích cá nhân, tập thể hoặc
vì động cơ vụ lợi của một số chủ thể tiến hành tố tụng mà tình trạng sai, oan trong
các vụ án hình sự ngày một gia tăng. Do đó, pháp luật cần có những biện pháp và
hình thức xử lý nghiêm khắc nhất với những cán bộ, công chức, viên chức biết luật
mà vẫn thực hiện trái pháp luật.
2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc
2.1. Hoàn thiện một số quy định của pháp luật
Để nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc, nhận thấy chúng ta cần phải có
một hệ thống pháp luật ổn định và chặt chẽ. Theo quan điểm của nhóm, việc
hướng đến hình thức tranh tụng trong phiên tòa là một trong những phương án
có tính khả thi cao nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này. Rõ ràng,
với hình thức đó, Viện Kiểm sát sẽ phải có những căn cứ thực sự thuyết phục mới
có thể buộc tội được một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì tất yếu việc xác

công tác tố tụng nói chung mà còn nâng cao trách nhiệm của những người có nghĩa
vụ chứng minh. Nếu như không đảm bảo việc xác định sự thật một cách khách
quan, toàn diện và đầy đủ thì rõ ràng việc thực hiện chức năng công tố của Viện
Kiểm sát cũng như xét xử của Tòa án, thi hành án của cơ quan Thi hành án… là
không thể đảm bảo.
Trong phiên điều trần nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động tư pháp và
hoàn thiện công tác cải cách tư pháp, một vấn đề mấu chốt được đặt ra là cần nâng
cao và mở rộng hoạt động đào tạo chuyên môn cho cán bộ tư pháp. Việc nâng cao
hiệu quả thực hiện nguyên tắc xác định sự thật của vụ án tất yếu cũng hướng đến
mục đích nâng cao chất lượng của hoạt động tư pháp nói chung. Một thực trạng dễ
thấy là cán bộ tư pháp còn thiếu rất nhiều về số lượng và yếu về chất lượng. Hiện
9


nay, phần lớn cán bộ tư pháp ở nước ta được đào tạo tại Học viện tư pháp tuy
nhiên kết quả đào tạo không hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu. Một trong những
nguyên nhân đó chính là chất lượng đầu vào khi mà phần lớn người học có trình độ
tại chức. Hơn nữa, một số điều kiện liên quan khác như trình độ giáo viên, giáo
trình giảng dạy cũng chưa đáp ứng yêu cầu. Do vậy, hoàn thiện công tác giảng dạy,
đào tạo tại Học viện Tư pháp là một vấn đề cần thiết.
Một trong những giải pháp cần thiết nữa đó chính là nâng cao sự phối – kết
hợp giữa các cơ quan, tổ chức với nhau, giữa các cơ quan, tổ chức với nhân dân
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp nói chung là nâng cao hiệu quả thực
hiện nguyên tắc xác định sự thật nói riêng. Bên cạnh đó cũng cần nâng cao trách
nhiệm của những người tham gia tố tụng hình sự nhằm hỗ trợ cho cán bộ tư pháp
hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Nhằm hạn chế những hành vi vi phạm trong công tác xác định sự thật của
những người tiến hành tố tụng, một vấn đề cũng vô cùng cấp thiết đó chính là quán
triệt công tác đào tạo ngay từ đầu tại các cơ sở đào tạo.
Để nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này, thiết nghĩ cần phải nâng cao

của người tiến hành tố tụng lại gắn liến với nguyên tắc suy đoán vô tội, tức là mối
liên hệ giữa ý thức chủ quan và đòi hỏi khách quan. Trong khi người tiến hành tố
tụng có quyền và thậm chí tin vào bị can, bị cáo là người có tội thì đồng thời xác
định nếu không đủ chứng cứ để khẳng định được điều đó thì phải tuyên bố bị cáo
vô tội. còn nguyên tắc xác định sự thật của vụ án là đòi hỏi trực tiếp đối với mọi
hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng trong việc thu thập và đánh giá các
chứng cứ và các tình tiết của vụ án. Vì vậy như trên đã nói, phần 2 của Điều 11
BLTTHS (trách nhiệm chứng minh tội phạm) là nội dung của nguyên tắc suy đoán
vô tội nên cần được quy định vào Điều 10 của BLTTHS thì hợp lý hơn.
Nguyên tắc “xác định sự thật của vụ án” (Điều 10 BTTHS 2003). Nguyên
tắc này qui định “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến
hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình
vô tội”. Theo qui định này thì trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Theo chúng tôi, với định hướng phân định rõ chức
năng, thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng như Nghị quyết 49 Bộ chính
trị đã nêu thì nên bỏ trách nhiệm chứng minh tội phạm của Tòa án do trách nhiệm
này thuộc chức năng của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Mặt khác, việc phải
chứng minh tội phạm sẽ ảnh hưởng tới tính khách quan của Tòa án khi ra bản án và
phán quyết của mình, đồng thời thiên chức “trọng tài anh minh”, “người cầm cân
nảy mực” của Tòa án dễ bị hiểu sai lệch. Vì vậy, nguyên tắc này cũng nên sửa đổi
theo hướng toà án không có trách nhiệm chứng minh tội phạm.
C. KẾT THÚC
Trên đây là những nhận định và ý kiến về bài làm của nhóm. Vì kiến thức hạn
chế cũng như nguồn tài liệu còn ít, nên bài làm cũng chưa giải quyết được hết vấn
đề đặt ra. Rất mong được sự đóng góp của thầy cô.
Chúng em xin cảm ơn!
11


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status