Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bốii cảnh thời đại ngày nay, toàn cầu hóa kinh tế, sự phát triển
nhanh chóng của khoa học công nghệ, việc chuyển sang phát triển nền kinh
tế tri thức đang đạt ra những cơ hội mới và những thách thứcc mới với tất cả
các nước đặc biệt là đối với các nước đang phát triển cần tiến hành công
nghiệp hoá hiện đại hoá. Để nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nước nghèo
kém phát triển, thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn với kinh tế với các nước
trong khu vực và trên thế giới chúng ta cần phải có khẳ năng thu hút đầu tư
phát triển nền kinh tế. Thu hút đầu tư trong khu vực công nghiệp và nông
thôn ở các tỉnh phải được thực hiện một cách nhanh chóng, cấp thiết. Có như
thế chúgn ta mới thực hiện được hai quá trình: 1. chuyển từ nền kinh tế nông
nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, chuyển từ xã hội văn minh nông
nghiệp sang nền xã hội văn minh công nghiệp; 2. chuyển từ nền kinh tế nông
nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Chuyển từ xã hội văn minh nông nghiệp
sang xã hội văn minh. Tất cả các nghiên cứu đó cho ra những vấn đề lý luận
cơ bản, kinh nghiệm nước ngoài, đánh giá thực trạng và đề xuất khuyến nghị
và mục tiêu. Phương hướng và giải pháp thực hiện việc phát triển khu vực
nông nghiệp và nông thôn.
Nam Định là một tỉnh phía Nam vùng đồng bằng sông Hồng, trong
thời gian qua cộng với các tỉnh trong vùng, Nam Định dù có bước phát triển
kinh tế - xã hội tương đối mạnh mẽ so với giai đoạn trước, đặc biệt là trong
khu vực nông nghiệp và nông thôn.Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã
hội tỉnh Nam Định đến năm 2010 đã được thực hiện và được uỷ ban nhân
dân tỉnh phê duyệt từ năm 2003. Trong báo cáo quy hoạch, các quy hoạch
phát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng kỹ thuật ( mạng lưới giao thông, cấp
điện, cấp nước, bưu chính viễn thông, các công trình bảo vệ môi trường …),
kết cấu hạ tầng xã hội ( mạng lưới trường học, bệnh viện, công trình văn hóa
– thông tin, công trình thể dục - thể thao … ), quy hoạch phát triển đô thị
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1. Cơ cấu vốn đầu tư
1.1 Khái niệm vốn đầu tư
Vốn đầu tư là toàn bộ các khoản chi phí đang trong quá trình chuyển
hoá thành vốn sản xuất. Trong đó vốn sản xuất là toàn bộ các tài sản sản
xuất được sử dụng làm phương tiện phục vụ trực tiếp quá trình sản xuất, bao
gồm có tài sản cố đinh và tài sản lưu động.Hoạt động làm chuyển hoá vốn
đầu tư thành vốn sản xuất được gọi là hoạt động đầu tư.
Như vậy vốn sản xuất là giá trị những tài sản được sử dụng làm
phương tiện trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ, bao gồm
vốn cố định và vốn lưu động.
Để có thể tạo ra được những tài sản vật chất cụ thể, nhất thiết phải sử
dụng vốn đầu tư thông qua hoạt động đầu tư.Tương ứng với sự phân biệt của
hai loại tài sản : sản xuất và phi sản xuất , vốn đầu tư cũng được chia làm hai
loại : Vốn đầu tư sản xuất và vốn đầu tư phi sản xuất.
1.1.1 Vốn đầu tư sản xuất
Vốn đầu tư sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí nhằm duy trì hoặc
gia tăng mức vốn sản xuất.Vốn đầu tư sản xuất được chia thành vốn đầu tư
vào tài sản cố định và vốn đầu tư vào tài sản lưu động. Đến lượt mình, vốn
đầu tư vào tài sản cố định lại chia thành vốn đầu tư cơ bản và vốn đầu tư sửa
chữa lớn. Vốn đầu tư cơ bản làm tăng khối lượng thực thể của tài sản cố
định, bảo đảm bù đắp số tài sản bị hao mòn và tăng thêm phần xây lắp dở
dang. Còn vốn sửa chữa lớn không làm tăng khối lượng của thực thể của tài
sản do đó nó không có trong thành phần của vốn đầu tư cơ bản. Nhưng vai
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trò kinh tế của vốn sửa chữa lớn tài sản cố định cũng giống như vai trò kinh
tế của vốn đầu tư cơ bản là nhằm đảm bảo thay thế tài sản bị hư hỏng.
1.1.2 Vốn đầu tư phi sản xuất
Vốn đầu tư phi sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí phục vụ cho cơ
sở hạ tầng,các khoản chi công cộng,y tế, giáo dục không phục vụ sản xuất.
Với một quốc gia tiết kiệm có được là tổng số tiết kiệm trong nước và
tiết kiệm ngoài nước.Gọi S là tổng số tiết kiệm của một quốc gia, Sd là tiết
kiệm trong nước, Sf là tiết kiệm ngoài nước. Ta có : S = Sd + Sf. Nó được
thể hiện qua sơ đồ sau :
Sơ đồ 1: Các nguồn hình thành tiết kiệm một quốc gia
2.1 Tiết kiệm trong nước
Có thể nói nguồn tiết kiệm trong nước được coi là một trong hai
nguồn tiết kiệm quan trọng của một quốc gia. Không thẻ thiếu được một
trong hai nguồn chính vì vậy việc phát triển kinh tế đều phải ưu tiên cả hai
nguồn tiết kiệm này. Tiết kiệm trong nước bao gồm : Tiết kiệm của chính
phủ, tiết kiệm của các công ty, tiết kiệm của dân cư.
T?ng s? ti?t ki?m c?a qu?c gia
Ti?t ki?m trong nu?c
Ti?t ki?m ngoài nu?c
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sơ đồ 2 : Các kênh chính của vốn đầu tư trong nước
2.1.1 Tiết kiệm của chính phủ
Theo tính chất sở hữu ,tiết kiệm của chính phủ bao gồm tiết kiệm của
ngân sách nhà nước và tiết kiệm của các công ty nhà nước.Theo tổ chức kinh
tế, thì tiết kiệm của các công ty nhà nước và tiết kiệm của các công ty tư
nhân được kết hợp chung là tiết kiệm của các công ty.
Tiết kiệm của chính phủ ở đây giới hạn trong phạm vi tiết kiệm của
ngân sách nhà nước. Về nguyên tắc tiết kiệm được tính bằng cách lấy tổng
thu nhập trừ đi các khoản chi tiêu. Thu ngân sách của chính phủ chủ yếu là
các khoản thu thuế, ngoài ra còn có các khoản thu phí và lệ phí có tính chất
thuế. Nhưng đối với chính phủ, đặc biệt là chính phủ các nước đang phát
triển, chi cho đầu tư phát triển là một nhiệm vụ quan trọng, do đó tình trạng
phổ biến thường là bội thu ngân sách.
2.1.2 Tiết kiệm của các công ty
nước đang phát triển
Nguồn tiết kiệm ngoài nước, đó chính là các khoản đầu tư nước ngoài
hay còn gọi là đầu tư quốc tế. Đầu tư nước ngoài là phương thức đầu tư vốn,
tài sản nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ với mục
đích kiếm tìm lợi nhuận hoặc vì những mục tiêu chính trị xã hội nhất định
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sơ đồ 3 : Các kênh chính của nguồn đầu tư nước ngoài
2.2.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI )
Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài để đầu tư
cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận. Đây là
nguồn vốn lớn có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế của các nước
đang phát triển. Không có một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù phát triển
theo con đường tư bản hay chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa lại không cần đến
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tất cả đó đều coi là nguồn lực quốc
tế quan trọng cần khai thác từng bước để hòa nhập vào cộng đồng quốc tế.
Ngay cả những quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh như Mỹ, Nhật dưới tác
động của cách mạng khoa học công nghệ hiện nay cũng không thể tự mình
giải quyết được vấn đề kinh tế - xã hội đã đang và sẽ tiếp tục được đặt ra.
Chỉ có con đường hợp tác trong đó có FDI là loại hình đầu tư hợp tác có
hiệu quả.
Đầu tư FDI tồn tại dưới nhiều hình thức, song những hình thức chủ
yếu là hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp
100 % vốn nước ngoài. Thông qua đầu tư FDI, các nước đi đầu tư tận dụng
V?n d?u tu qu?c
t?
Vốn đầu tư của tư nhân
Vốn trợ giúp phát triển
Vốn đầu tư trực tiếp V?n d?u tu giỏn ti?p Tín dụng thương mại Vốn hỗ trợ dự án Vốn hỗ trợ phi dự án Tín dụng thương mại
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.2.4 Nguồn vốn tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là nguồn vốn mà các nước nhận vốn vay sau
một thời gian phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho nước cho vay. Các nước thu
lợi nhuận thông qua lãi suất tiền vay.
Việc sử dụng nguồn vốn tín dụng thương mại, các nước tiếp nhận vốn
không phải chịu bất cứ một rằng buộc nào về chính trị xã hội, có toàn quyền
sử dụng vốn. Mặc dù vậy do đây là nguồn vốn cho vay với lãi suất thương
mại nên nếu các nước tiếp nhận không sử dụng hiệu quả nguồn vốn này thì
có nguy cơ dẫn đến tình trạng mất khả năng tri chả dẫn đến vỡ nợ
3. Tác động của vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế nói chung và
khu vực nông nghiệp và nông thôn nói riêng.
Vốn đầu tư có tác động rất lớn đến tăng trưởng kinh tế nói chung và
khu vực nông nghiệp và nông thôn nói riêng. Nó làm thúc đẩy tăng trưởng,
cải thiện đời sống nhân dân từ đó có thể phát triển khu vực nông nghiệp và
nông thôn nói riêng. Ngược lại khi khu vực nông nghiệp và nông thôn phát
triển thì nó lại là điều kiện để phát triển toàn bộ nền kinh tế đất nước nói
chung.
3.1 Phân tích mô hình Harrod – Domar
Khi nghiên cứu mô hình kinh tế do hai nhà kinh tế học là Roy Harrod
ở Anh và Evsay Domar ở Mỹ đồng thời dựa trên tư tưởng của Keynes,
chúng ta đã biết đến hệ số ICOR.Mô hình này cho rằng, đầu ra của bất kỳ
đơn vị kinh tế nào dù là của một công ty, một ngành hay toàn bộ nền kinh tế
sẽ phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho đơn vị đó.
Nếu gọi đầu ra là Y và tốc độ tăng trưởng đầu ra là g, ta có công thức
sau: g = ∆Y / Y
Nếu gọi S là mức tích lũy của nền kinh tế thì tỷ lệ tích lũy (s) trong
GDP sẽ là : s = St / Y
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nền kinh tế với đường tổng cầu AD2 đang cân bằng tại điểm E2 thì
dưới tác động của tăng đầu tư sẽ làm dịch chuyển đường tổng cầu sang phải,
vào vị trí AD1, thiết lập điểm cân bằng mới tại E1. Điều đó cũng đồng nghĩa
với việc làm cho mức sản lượng tăng từ Y2 đến Y1 và mức giá tăng từ P2
đến P1.
Ngày nay vốn đầu tư và vốn sản xuất được coi là yếu tố quan trọng
của quá trình sản xuất. Vốn sản xuất vừa là yếu tố đầu vào , vừa là sản phẩm
đầu ra của quá trình sản xuất. Vốn đầu tư không chỉ là cơ sở để tạo ra vốn
sản xuất, tăng năng lực sản xuất của các doang nghiệp của nền kinh tế, mà
còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học – công nghệ góp phần đáng
kể vào việc đầu tư theo chiều sâu , hiện đại hóa quá trình sản xuất.
Việc tăng vốn đầu tư cũng góp phần vào việc giải quyết công ăn việc làm
cho người lao động khi mở ra các công trình xây dựng và mở rộng quy mô
sản xuất. Cuối cùng, cơ cấu sử dụng vốn đầu tư là điều kiện quan trọng tác
động vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước.
P
E1
E2
AD1
AD2
AS
12
P1
P2
Y1 YY2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Điều cần lưu ý là sự tác động của vốn đầu tư và vốn sản xuất đến tăng
trưởng kinh tế không phải là quá trình riên lẻ mà nó là sự kết hợp, đan xen
lẫn nhau, tác động liên tục vào nền kinh tế.
3.3 Tác động của vốn đầu tư đến khu vực nông nghiệp và nông thôn
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng gía trị
sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng
sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội,
quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản
xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ
công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa
của nhân dân ở nông thôn.
4. Các biện pháp sử dụng hiệu quả vốn đầu tư
Ở nước ta nền nông nghiệp, về cơ bản chưa thoát khỏi tình trạng sản
xuất nhỏ, phân tán, manh mún. Trình độ phát triển hiện tại còn thấp xa so
với phát triển nông nghiệp và nông thôn theo yêu cầu bền vững . Bên cạnh
đó khả năng cạnh tranh còn thấp kém trong điều kiện thị trường ngày càng
gay gắt. Ảnh hưởng của Trung Quốc với phát triển kinh tế toàn cầu và với
phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Chính vì những lý do đó vấn
để phát triển nông nghiệp và nông thôn là vấn đề cần được đặt ra hàng đầu.
Nhiều nước đặc biệt là các nước đang phát triển mặc dù nhận được
nhiều viện trợ từ các nước phát triển nhưng do không sử dụng hiệu quả được
vốn đầu tư hiện có nên công cuộc đổi mới kinh tế vẫn diễn ra một cách trì
trệ, chưa kịp thời với sự phát triển của thế giới. Vậy một câu hỏi đặt ra là
biện pháp sử dụng hiệu quả vốn đầu tư vào nền kinh tế là gì ? . Để có thể sử
dụng hiệu quả vốn đầu tư trong công cuộc phát triển kinh tế có rất nhiều giải
pháp. Sau đây là một số giải pháp chính.
4.1 Tạo môi trường khuyến khích và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư
Môi trường đầu tư được hệ thống pháp luật và chính sách của nhà
nước đảm bảo.Nếu hệ thống pháp luật công bằng hợp lý và được đảm bảo
thực thi đối với mọi thành phần kinh tế. Nhờ đó các nguồn vốn đầu tư được
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả. Việc đưa ra các quy hoạch hình
thành một số vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa; cơ sở vật chất và hạ tầng
hiện thông qua hai kênh: Gián tiếp và trực tiếp. Kênh dẫn vốn gián tiếp được
thực hiện thông qua các trung gian tài chính, các quỹ đầu tư … Kênh dẫn
vốn trực tiếp được thực hiện thông qua thị trường chứng khoán.
Trong thị trường tài chính, sự vận hành của cả hai kênh dẫn vốn sẽ bổ
sung cho nhau, tạo khả năng sử dụng vốn có hiệu quả. Trong điều kiện nước
ta hiện nay, hệ thống tài chính cần phải tiếp tục phát triển và chuyển đổi phù
hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nhằm biến hệ thống
tài chính thành trung tâm thu hút và phân bổ các nguồn vốn đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế. Cụ thể như sau : Củng cố nâng
cao năng lực kinh doanh và sức cạnh tranh của các trung gian tài chính với
các hình thức đa dạng, thích hợp. Khuyến khích các trung gian tài chính phát
triển các loại dịch vụ mới phù hợp; hoàn thiện và phát triển đồng bộ thị
trường tài chính, đặc biệt ưu tiên phát triển thị trường vốn trung gian dài
hạn, đảm bảo sự vận hành an toàn hiệu quả; tạo lập khuôn khổ pháp luật
giám sát hoạt động tài chính trên thị trường, thực hiện minh bạch vì lợi ích
người đầu tư và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia; Từng bước mở cửa thị
trường tài chính Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
4.3 Tiếp tục hoàn thiện chính sách tài chính, tiền tệ
Chính sách tài chính tiền tệ có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế
của một đất nước. Nhà nước sử dụng các chính sách này nhằm điều khiển
nền kinh tế đi đúng định hướng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà
nước. Tùy theo thị trường có khuyết tật như thế nào mà nhà nước có thể thực
hiện chính sách tài khóa thắt chặt hay mở cửa. Như vậy để nền kinh tế hoạt
động theo đúng hướng, có sự phát triển tốt trên mọi mặt đòi hỏi phải có sự
quyết định đúng đắn của các nhà lãnh đạo
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tiếp tục cải cách hệ thống thuế theo hướng : Thuế và chi phí là nguồn
thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, đồng thời phải đảm bảo nuôi dưỡng
nguồn thu, khuyến khích sản xuất, công bằng xã hội.
vốn. chính vì vậy việc nâng cao hiệu quả của nguồn vốn đầu tư từ ngân sách
là rất cần thiết.
Để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư ngân sách cần thực hiện một số biện
pháp sau : cần xác định đúng các chủ trương đầu tư trong dài hạn; quản lý
chặt chẽ quá trình đầu tư. Khắc phục những tiêu cực trong việc nhận dự án
về công trình xây dựng. Tăng cường biện pháp đảm bảo chất lượng công
trình; công khai hóa vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước. Đây được coi là các
biện pháp chính trong quá trình rót ngân sách từ nhà nước xuống các tỉnh để
đầu tư ở các tỉnh mà nhà nước cho là cần thiết.
Như vậy trong bất luận trường hợp nào, sản xuất nông nghiệp vẫn
luôn được coi là hoạt động trung tâm của kinh tế nông thôn. Nói phát triển
khu vực nông thôn về kinh tế trước hết và chủ yếu là nói đến hiện đại hóa
nông nghiệp. Một số công trình nghiên cứu nước ngoài đã phác họa sự khác
biệt giữa nông nghiệp truyền thống và nền nông nghiệp hiện đại cả về trình
độ và tính chất của sự phát triển có tính đến ở mức độ nhất định các yếu tố
xã hội. Để có thể phát triển lên được nền nông nghiệp hiện đại chúng ta cần
nỗ lực rất nhièu của toàn thể nhân dân cả nước. Thực tế cho thấy trên thế
giới ngày nay sự phân hóa về trình độ phát triển nông nghiệp giữa các quốc
gia rất rõ rệt, phụ thuộc vào việc các quốc gia đó đang thực hiện nền nông
nghiệp truyền thống hay hiện đại.
5. Vai trò của ngành nông nghiệp đối với việc phát triển kinh tế
Ở nước ta nông nghiệp giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh
tế, bởi nước ta là nước có xuất phát điểm là một nước nông nghiệp. Ngành
nông nghiệp của nước ta hiện nay còn có sự phát triển rất thấp, việc phát
triển nông nghiệp đang còn lạc hậu, chưa có sự đầu tư đúng đắn trong ngành
nông nghiệp. Chính vì thế việc phát triển nông nghiệp cần có một lượng vốn
phát triển nhất định và phải có sự đầu tư đúng đắn với tình hình hiện tại của
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nước ta. Nông nghiệp không những là ngành cung cấp 65% trong công cuộc
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
5.3 Cung cấp vốn cho phát triển kinh tế
Khu vực nông nghiệp cũng có thể là nguồn cung cấp vốn cho phát
triển kinh tế, với ý nghĩa lớn lao là vốn tích lũy ban đầu cho công nghiệp
hóa. Đa số các nước đang phát triển có những thuận lợi đáng kể, đó là tài
nguyên thiên nhiên và các sản phẩm nông nghiệp. Ở các nước không giàu tài
nguyên ( như dầu hỏa ), thì nông sản đóng vai trò quan trọng trong xuất
khẩu, và ngoại tệ thu được sẽ dùng để nhập khẩu máy móc, trang thiết bị cơ
bản và những sản phẩm trong nước chưa sản xuất được. Bên cạnh đó dân số
nông thôn ở các nước đang phát triển còn là thị trường quan trọng để tiêu thụ
các sản phẩm công nghiệp như tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng. Nếu nhà
nước có chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế ở khu vực nông thôn và thu
nhập đuợc phân phối công bằng thì thị trường nông thôn ngày càng có nhu
cầu mở rộng về sản phẩm công nghiệp. Ngược lại nếu có thị trường rộng lớn
ở nông thôn thì công nghiệp có thể tiếp tục phát triển sau khi đã bão hòa nhu
cầu của thành thị về các sản phẩm công nghiệp.
Như vậy ở hầu hết các nước đang phát triển sẽ không có sự phát triển
quốc gia, nếu không có sự phát triển nông thôn. Những vấn đề cốt lõi của
nghèo đói, bất công tăng lên, dân số gia tăng nhanh chóng và thất nghiệp
ngày càng tăng đều có nguồn gốc ở sự trì trệ và thụt lùi của hoạt động kinh
tế ở các vùng nông thôn so với thành thị. Do vậy phát triển nông nghiệp và
nông thôn là cơ sở thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.
5.4 Vai trò của nông nghiệp và nông thôn trong nền kinh tế - xã hội
hiện đại.
Nông nghiệp không chỉ là cơ sở cho sự phát triển công nghiệp và cho
công cuộc công nghiệ hóa hiện đại hóa đất nước. Trái lại nông nghiệp hiện
đại là một loại công nghiệp và dịch vụ có năng suất và hiệu quả cao, có giá
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trị sử dụng thiết yếu không gì thay thế được, tạo ra giá trị gia tăng lớn, có thể
cao, nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp sạch là hướng chủ đạo trong phát
triển nông nghiệp, công nghiệp dịchvụ phát triển gắn bó chặt chẽ với nông
nghiệp; có hạ tầng kỹ thuật – xã hội phát triển.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương II
Thực trạng về việc sử dụng vốn đầu tư phát triển trong khu vực nông
nghiệp và nông thôn tại tỉnh Nam Định
1. Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của tỉnh Nam định
1.1 Đặc điểm tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý kinh tế của tỉnh trong vùng
Nam Định nằm ở cực Nam châu thổ song Hồng, ở toạ độ 19 độ 53
phút đến 20 độ vĩ độ Bắc và từ 105 độ 37 phút đến 106 độ 37 phút kinh độ
đông.Phía bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Đông giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây
Nam giáp tỉnh Ninh Bình, phía Đông Nam giáp với biển Đông.Diện tích tự
nhiên của tỉnh năm 2005 là 1.649,86 km2 được chia thành 10 đơn vị hành
chính gồm 9 huyện và thành phố loại 2 trực thuộc tỉnh.Thành phố Nam Định
là trung tâm văn hoá, chính trị của cả tỉnh, cách thủ đô Hà Nội 90 km2 về
phía Nam theo quốc lộ 1 và quốc lộ 21.
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nam Định nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của Tam giác tăng
trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long và tuyến hành lang kinh tế Côn Minh
– Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Hành lang Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội
- Hải Phòng và Vành đai kinh tế ven vịnh Bắc Bộ, có mạng lưới đường bộ
(QL 1, QL 10, QL 21), đường sắt xuyên Việt dài 45 km với 5 nhà ga, đường
biển và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho giao lưu kinh tế, có bờ biển dài trên
72 km và vùng thềm lục địa rộng lớn. Đặc biệt chỉ cách Thủ đô Hà Nội,
thành phố Hải Phòng khoảng 90 km. Đó là những thị trường tiêu thụ rộng
lớn (nhất là nông sản thực phẩm và lao động), là trung tâm hỗ trợ đầu tư, kỹ