tiểu luận đảm bảo quyền bình đẳng trước tòa án trong luật tố tụng hình sự - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm qua, tình hình vi phạm pháp luật ở nước ta xảy ra nghiêm
trọng, diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng ảnh hưởng đến quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng với sự nỗ lực của toàn xã hội, các
cơ quan tiến hành tố tụng đã có nhiều cố gắng trong công tác tư pháp nên đã góp
phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh - chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tuy
nhiên, chất lượng công tác tư pháp nói chung và công tác xét xử nói riêng còn
chưa ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, còn
bộc lộ nhiều yếu kém, bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến các
quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân (theo số liệu
thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, tuy số lượng án oan có giảm dần, nhưng
vẫn còn: năm 2002 toàn bộ ngành Tòa án có 23 trường hợp bị kết tội oan, năm
2003 chỉ còn 7 trường hợp, năm 2004 còn 5 trường hợp), gây nhiều hậu quả
đáng tiếc cho người bị kết án oan, người thân và xã hội. Có người vì bị kết tội
oan nên đang là chủ doanh nghiệp tư nhân mà sau khi bị kết án phải làm thợ mộc
để kiếm sống qua ngày, trường hợp khác đã ở tù một thời gian, bị người thân xa
lánh, đầy mặc cảm với xã hội, đến khi kẻ phạm tội đích thực nhận tội mới được
trở về; còn có người vì bị kết án oan nên không biết bao nhiêu năm, tháng
miệt mài đưa đơn đi tìm công lý... Những điều đó đã tạo nên dư luận xã hội
không tốt, khiến nhân dân thiếu lòng tin vào tòa án và nền công lý xã hội chủ
nghĩa.
Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị ra đời vào ngày 02/01/2002
được xem như sự mở đầu cho công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta. Nghị
quyết này đề cập nhiều nội dung khác nhau của công tác tư pháp từ hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử cho đến việc đào tạo cán bộ tư pháp, nhưng tăng
cường yếu tố tranh tụng trong quá trình xét xử vụ án hình sự được coi là điểm
nhấn của cải cách tư pháp và là vấn đề trọng tâm của Nghị quyết. Theo đó,


việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại

qua đó đề xuất những giải pháp thiết thực nâng cao hiệu quả hoạt động tranh
tụng tại phiên tòa hướng tới xây dựng một phiên tòa hình sự thực sự công
bằng, dân chủ góp phần thực hiện quá trình cải cách tư pháp.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của luận văn được đặt
ra là:
1- Nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa như:
khái niệm, đặc điểm, điều kiện, yêu cầu của tranh tụng tại phiên tòa; Cơ sở
pháp lý quy định về tranh tụng tại phiên tòa; ý nghĩa của tranh tụng tại phiên
tòa.
2- Sơ lược về lịch sử các qui định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về
tranh tụng tại phiên tòa.
3- Phân tích, đánh giá thực trạng tranh tụng tại phiên tòa ở Việt Nam
những năm gần đây, qua đó rút ra những mặt tích cực cũng như những tồn tại,
hạn chế trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa.
4- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và những đánh giá về thực trạng tranh
tụng tại phiên tòa luận văn nêu ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở nước ta trước yêu cầu cải cách
tư pháp.
3. Phạm vi nghiên cứu
Bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa là vấn đề lớn trong hoạt động tố
tụng, có nhiều nội dung thể hiện ở các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án
nên trong phạm vi của một bài tiểu luận văn không thể xem xét và giải quyết
hết mọi vấn đề mà chỉ dừng lại nghiên cứu vấn đề đảm bảo quyền bình đẳng
trước tòa trong tòa án hình sự
Với phạm vi nghiên cứu này, đề tài nghiên cứu về tranh tụng tại phiên tòa
đảm bảo quyền đẳng giữa các bên dưới góc độ lý luận, phân tích những quy định
của pháp luật, và chỉ ra vướng mắc trong hoạt động thực tiễn . Từ đó đưa ra
những quan điểm, kiến nghị góp phần nhằm nâng cao chất lượng của hoạt
động xét xử nói riêng và của các cơ quan tư pháp nói chung.




pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các quan điểm của Đảng ta về cải
cách tư pháp được đề cập trong các Văn kiện của Đảng ta trong những năm
gần đây. Tại Nghị quyết 08/NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị Ban
chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về một số nhiệm vụ trọng
tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã chỉ rõ: “… Nâng cao chất lượng
công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật
sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… Việc phán quyết
của Tòa án (TA) phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên
cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của
người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, lợi
ích hợp pháp để đưa ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức
thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định… Các cơ quan tư pháp có
trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng…”.
Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) hiện hành về cơ bản đã đáp ứng
được yêu cầu theo tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TW, đó là đã quy định đầy
đủ và cụ thể hơn về trình tự, thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
hình sự. Đây là những cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng tranh tụng tại các
phiên tòa ở nước ta. Tranh tụng là một đề tài rất rộng và phức tạp, trong phạm
vi của bài viết này chúng tôi xin trao đổi về một số vấn đề sau:
1. Về phạm vi tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự
Chúng tôi cho rằng trước hết phải xác định phạm vi tranh tụng, tức là
xác định quá trình tranh tụng tại phiên tòa được bắt đầu từ thời điểm nào và
kết thúc vào khi nào? Bởi vì, có xác định chính xác phạm vi tranh tụng thì
mới có thể xác định đầy đủ và chính xác nội dung hoạt động của kiểm sát
viên khi tranh tụng tại phiên tòa. Về vấn đề này, hiện nay trong khoa học Tố
tụng Hình sự (TTHS) ở nước ta còn có nhận thức khác nhau.
Quan điểm thứ nhất: cho rằng tranh tụng tại phiên tòa chỉ bao gồm
phần tranh luận tại phiên tòa khi cho rằng tranh luận theo tinh thần Nghị

giai đoạn chuẩn bị của quá trình tranh tụng.


Theo chúng tôi, quan điểm thứ ba cho rằng quá trình tranh tụng tại
phiên tòa bao gồm* phần xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án là chính xác.
Bởi vì, chỉ sau khi Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án, thì kết quả tranh tụng
giữa các bên tại phiên tòa về vụ án mới được xác định và khi đó quá trình
tranh tụng tại phiên tòa mới kết thúc.
Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa chính là quá trình xác định sự thật
khách quan về vụ án. Bản chất này chi phối và định hướng mọi hoạt động và
hành vi tố tụng của các chủ thể tham gia phiên tòa. Tại đây, thông qua hoạt
động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể tiến hành tố tụng như
thẩm phán, kiểm sát viên cùng với sự tham gia của những người tham gia tố
tụng khác như luật sư; của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng… Hội đồng xét xử
có trách nhiệm xác định sự thật khách quan và ra phán quyết để giải quyết vụ
án. Bản chất của tranh tụng được thể hiện ở một số điểm sau đây:
- Tranh tụng tại phiên tòa là một cuộc điều tra công khai do các chủ thể
(thẩm phán, kiểm sát viên, người bào chữa,…) cùng tiến hành dưới sự điều
khiển của Hội đồng xét xử (chủ tọa phiên tòa). Tại đây các chứng cứ về vụ án
được các chủ thể của các bên và Hội đồng xét xử kiểm tra, đánh giá công khai
trên cơ sở các quy định pháp luật.
- Hoạt động tranh tụng được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nghiêm
ngặt, phức tạp về nội dung, thể hiện sự xung đột về lợi ích, về tâm lý giữa các
bên buộc tội và bên gỡ tội và bị hạn chế về mặt không gian và thời gian do
pháp luật tố tụng quy định tức là hoạt động này chỉ có thể thực hiện tại phiên
tòa và trong thời gian diễn ra phiên tòa.
- Mục đích của tranh tụng là xác định sự thật khách quan về vụ án
thông qua hoạt động kiểm tra, đánh giá công khai chứng cứ và giá trị chứng
minh của các chứng cứ về vụ án trên cơ sở các quy định pháp luật làm căn cứ

tòa với trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của Hội đồng xét xử (HĐXX), của những người tham gia tố tụng. Cụ thể
là,* Kiểm sát viên phải kiểm sát việc chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên


toà của Hội đồng xét xử (về việc khai mạc phiên tòa, kiểm tra căn cước của
những người tham gia tố tụng được tòa triệu tập ; giải thích cho họ về quyền
và nghĩa vụ, giải quyết việc hoãn phiên tòa, giải quyết việc đề nghị thay đổi
thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký tòa án, người giám định, người
phiên dịch…), của thư ký Toà án và những người tham gia tố tụng ( về sự có
mặt của bị cáo; về sự có mặt của người bào chữa …) từ khi bắt đầu đến khi
kết thúc phiên toà, nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của những người
tham gia tố tụng, bảo đảm cho việc xét xử được công minh đúng quy định của
pháp luật. Kiểm sát viên phải đề nghị hoãn phiên toà trong các trường hợp
sau:
- Bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng; người bào chữa bắt buộc vắng
mặt; người tham gia tố tụng khác vắng mặt sẽ gây trở ngại cho việc xét xử vụ
án;
- Thành phần Hội đồng xét xử không đúng với quy định của BLTTHS;
- Bị cáo yêu cầu hoãn phiên toà, nếu việc giao nhận bản cáo trạng và
quyết định đưa vụ án ra xét xử không đúng quy định tại khoản 2 Điều 49 và
khoản 1 Điều 182 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Trường hợp Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử thì Kiểm sát viên phải
tham gia phiên toà và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải
quyết vụ án. Sau phiên toà phải báo cáo ngay với lãnh đạo Viện cấp mình để
báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên xem xét quyết định.
2.2. Giai đoạn kiểm tra công khai các chứng cứ về vụ án.
Đây là giai đoạn đầu của quá trình tranh tụng. Giai đoạn này được bắt
đầu từ thời điểm kiểm sát viên công bố cáo trạng và kết thúc trước khi kiểm
sát viên trình bày lời luận tội. Đây là giai đoạn kiểm tra công khai các chứng

viên theo dõi, ghi chép đầy đủ nội dung xét hỏi của Hội đồng xét xử, của
người bào chữa và ý kiến trả lời của người được xét hỏi để chủ động tham gia
xét hỏi làm sáng tỏ hành vi của bị cáo, xác định sự thật khách quan của vụ án.
Khi xét hỏi, Kiểm sát viên phải đặt câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, tránh giải thích,
kết luận ngay. Khi có người tham gia tố tụng xuất trình tài liệu mới tại phiên


toà, Kiểm sát viên cần kiểm tra và xét hỏi về nguồn gốc, nội dung tài liệu đó
để có kết luận chính xác. Trường hợp chưa đủ điều kiện kết luận mà tài liệu
mới đó có thể làm thay đổi nội dung, tính chất vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị
Hội đồng xét xử hoãn phiên toà để xác minh.
2.3. Tranh luận giữa các bên
Đây là giai đoạn trung tâm, là đỉnh điểm của quá trình tranh tụng giữa
các bên tại phiên tòa. Giai đoạn này được bắt đầu từ thời điểm kiểm sát viên
trình bày lời luận tội và kết thúc trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị
án. Trên cơ sở những quy định của pháp luật, các chủ thể của bên buộc tội và
bên bào chữa tiến hành đánh giá chính thức công khai giá trị chứng minh của
các chứng cứ về vụ án để đưa ra quan điểm, nhận định, kết luận của mình về
vụ án; các bên thể hiện rõ quan điểm của mình là chấp nhận hay bác bỏ các
chứng cứ, quan điểm hay kết luận của “bên kia” về các vấn đề cụ thể cần giải
quyết trong vụ án. Nội dung tranh tụng trọng tâm của các bên được thể hiện
trong lời luận tội của kiểm sát viên, lời bào chữa của luật sư (lời tự bào chữa
của bị cáo), ý kiến tranh luận của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị
hại, cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoặc của chính bản thân họ và
lời đối đáp qua lại giữa các bên. ở giai đoạn này, HĐXX không trực tiếp tham
gia vào quá trình tranh luận* giữa các bên mà nhiệm vụ chủ yếu của HĐXX,
cụ thể là của thẩm phán - chủ toạ phiên tòa là điều khiển quá trình tranh tụng
để hướng sự tranh luận của các bên* tập trung vào việc làm sáng tỏ quan
điểm còn mâu thuẫn với nhau và ghi nhận quan điểm, ý kiến của các bên
tranh tụng về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

bào chữa và những người tham gia tố tụng khác chưa được tranh luận thì
Kiểm sát viên thực hiện theo đề nghị của chủ tọa phiên toà. Cần chú ý, nếu
nội dung đề nghị của chủ toạ phiên toà chưa được tranh luận thì Kiểm sát viên
tiếp tục tranh luận, nếu đã tranh luận một phần thì Kiểm sát viên tranh luận bổ
sung cho đầy đủ.
2.4. Giai đoạn đánh giá và công bố kết quả tranh tụng


Đây là giai đoạn có vai trò quyết định toàn bộ quá trình tranh tụng. Giai
đoạn này được bắt đầu từ thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và kết thúc sau
khi tuyên án. Hội đồng xét xử thực hiện hoạt động này một cách độc lập tại
phòng nghị án, không có sự tham gia của bất cứ ai. Tại đây các thành viên của
Hội đồng xét xử thảo luận về tính hợp pháp, tính liên quan và tính khách quan
của các chứng cứ đã được kiểm tra xác minh tại phiên tòa; xem xét các yêu
cầu, đề nghị và quan điểm của các bên về vụ án trên cơ sở các quy định của
pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự,
Luật thương mại… Sau khi thảo luận, Hội đồng xét xử tiến hành biểu quyết
theo đa số về từng vấn đề cụ thể của vụ án. Hội đồng xét xử chấp nhận hay
không chấp nhận quan điểm, yêu cầu, đề nghị của các bên buộc tội, bên bào
chữa và quyết định về các vấn đề cụ thể cần giải quyết trong vụ án như về tội
danh, về điều, khoản, điểm của BLHS cần áp dụng cũng như các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ cần áp dụng với bị cáo; mức hình phạt; mức bồi thường thiệt
hại… hoặc HĐXX tuyên bố bị cáo không phạm tội. Việc đánh giá chính thức
kết quả tranh tụng của các bên về vụ án được HĐXX thể hiện bằng phán
quyết ở dạng bản án hoặc quyết định.
Bản án hoặc quyết định của HĐXX là văn bản pháp lý ghi nhận kết quả
tranh tụng giữa các bên về vụ án ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Phán quyết này
là nhân danh Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam, được Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa tuyên đọc công khai kể cả trong những trường hợp xét
xử kín. ở giai đoạn này, KSV phải thực hiện những nhiệm vụ sau:

gia tố tụng khác (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch,…)
3) Tại phiên tòa sơ thẩm, KSV tham gia phiên tòa với nhiệm vụ thực
hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của HĐXX và những
người tham gia tố tụng khác. Đây là hai nhiệm vụ có mối liên hệ chặt chẽ và
không tách rời nhau. Tại phiên tòa, KSV thực hiện tốt chức năng thực hành
quyền công tố chính là tạo điều kiện thuận lợi, hiệu quả để kiểm sát việc tuân
theo pháp luật và làm tốt việc kiểm sát tuân theo pháp luật tại phiên tòa sẽ


đảm bảo cho việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần
giảm thiểu oan sai và không để lọt tội phạm.
3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của kiểm sát viên
tại phiên tòa hình sự
3.1. Sự cần thiết nâng cao chất lượng tranh tụng của kiểm sát viên tại
phiên tòa hình sự
Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa hình sự nói chung và
chất lượng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự nói riêng là một
đòi hỏi, nhu cầu tất yếu khách quan của công cuộc đổi mới ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay. Đòi hỏi này xuất phát từ các yếu tố sau đây:
1) Một trong những nội dung cơ bản của công cuộc đổi mới đất nước
trong giai đoạn hiện nay là tiến hành cải cách tổ chức và hoạt động của hệ
thống các cơ quan Tư pháp. Ngành Kiểm sát nhân dân là một trong những bộ
phận giữ vai trò quan trọng trong hệ thống các cơ quan Tư pháp. Trong
TTHS, Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp nói chung và trong giai
đoạn xét xử tại phiên tòa nói riêng. Vì vậy, Viện kiểm sát chỉ có thể hoàn
thành tốt chức năng này khi đội ngũ kiểm sát viên làm tốt nhiệm vụ tranh tụng
của mình tại phiên tòa hình sự.
2) Tình hình tội phạm ở nước ta trong những năm gần đây ngày càng
diễn biến phức tạp, thủ đoạn phạm tội cũng ngày càng tinh vi xảo quyệt hơn.

quy định đến 15 năm tù. Như vậy, số lượng án hình sự do Viện kiểm sát cấp
huyện thực hành quyền công tố sẽ tăng lên. Trong khi đó đội ngũ kiểm sát
viên nói chung và kiểm sát viên chuyên trách kiểm sát điều tra xét xử án hình
sự ở Viện kiểm sát cấp huyện chưa được kiện toàn đầy đủ, trình độ lại không
đồng đều. Đây là một khó khăn mà ngành kiểm sát phải nỗ lực phấn đấu để
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng tranh tụng
của kiểm sát viên tại phiên tòa cũng là một trong những yêu cầu cấp bách
trong giai đoạn cải cách tư pháp


Chương 2: Thực trạng tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự va
viec ap dung nguyen tac dam bao quyen binh dang truoc toa
Từ khi Nghị quyết số 08/NQ-TW được quán triệt, hầu hết các vụ án đã
được đưa ra xét xử với sự đổi mới thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa
trên cơ sở những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự mới và theo tinh thần
cải cách tư pháp của Bộ Chính trị. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thể hiện
được tính khách quan, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của cả kiểm sát viên, luật
sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Phiên tòa đã thể hiện được
tính dân chủ, bình đẳng giữa những người tiến hành tố tụng, người tham gia
tố tụng trong việc đưa ra chứng cứ, bày tỏ quan điểm khác nhau, cùng tranh
luận xác định sự thật khách quan. Cùng với việc xét hỏi, Hội đồng xét xử còn
chấp nhận luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng xuất trình chứng cứ
mới. Hội đồng xét xử xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ mới, chứng cứ
có trong hồ sơ, chứng cứ đã được kiểm sát viên phân tích, đánh giá khi luận
tội bảo vệ cáo trạng, phát biểu tại phiên tòa, quan điểm của kiểm sát viên, của
người bào chữa và những người tham gia tố tụng để ra phán quyết cuối cùng.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng bên cạnh những phiên tòa xét xử
đúng với tinh thần tranh tụng còn có những phiên tòa không đạt yêu cầu.
Có những phiên toà, thẩm phán thiếu trách nhiệm, không nghiên cứu kỹ
hồ sơ vụ án, cẩu thả trong công tác chuẩn bị phiên tòa, trong phiên tòa cũng

sung sau. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều vụ án do hạn chế về thời gian mà thủ
tục này bị vi phạm, đương sự không được trình bày hoặc trình bày không hết
ý kiến của mình. Thậm chí có trường hợp họ cũng không được xét hỏi ở giai
đoạn trước đó. Đây là những vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng và vi phạm
tinh thần của tranh tụng tại phiên tòa.
Thực tiễn xét xử hiện nay còn tồn tại thiếu sót của thẩm phán – chủ tọa
phiên tòa là khi xét hỏi bị cáo thường thẩm vấn theo hướng buộc tội như cáo
trạng của Viện kiểm sát, giúp Viện kiểm sát bảo vệ cáo trạng. Không ít trường
hợp kiểm sát viên tham gia phiên tòa trong suốt thời gian xét hỏi không hỏi
một câu nào mà chỉ đọc bản cáo trạng rồi ngồi xem Hội đồng xét hỏi khi nào


kết thúc phần xét hỏi thì đọc bản luận tội. Vai trò của kiểm sát viên tại phiên
tòa chỉ như người chứng kiến, rõ ràng là kiểm sát viên đã không ý thức được
mình là một bên không thể thiếu của quá trình tranh luận tại phiên tòa, dường
như việc xét hỏi và tranh luận là của Hội đồng xét xử.
Trong phiên tòa, luật sư là một bên của quá trình tranh tụng nhưng
nhiều trường hợp, bài bào chữa chỉ mang nặng việc khai thác các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ hoặc bắt bẻ về câu chữ, hay những lỗi tố tụng nhỏ mà không
đi vào những tình tiết của vụ án một cách toàn diện, để khai thác bảo vệ
quyền lợi chính đáng của bị cáo.
2. Nguyên nhân của những hạn chế trong tranh tụng tại phiên tòa
hình sự
2.1. Quy định pháp luật chưa đầy đủ, chưa phù hợp
Mặc dù pháp luật TTHS hiện hành của chúng ta đã có những quy định
khá tiến bộ về tranh tụng tại phiên toà, như: quy định về bảo đảm quyền bào
chữa của bị cáo tại phiên toà; quy định về nguyên tắc bình đẳng giữa kiểm sát
viên với người bào chữa, bị cáo trong việc đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và
tranh luận trước Toà án, nhằm bảo đảm tính khách quan của hoạt động xét
xử… Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) cũng quy định khi xét hỏi và tranh

tranh tụng tại phiên tòa chưa phải là căn cứ có tính quyết định với phán quyết
của Tòa án.
Viện kiểm sát là cơ quan đại diện cho Nhà nước thực hành quyền công
tố, nói một cách khác, Viện kiểm sát là bên buộc tội, thế nhưng Viện kiểm sát
lại kiêm luôn cả chức năng kiểm sát việc xét xử, như vậy rõ ràng là không thể
khách quan. Cần phải xác định Viện kiểm sát chỉ thực hành quyền công tố, vì
như vậy mới tránh tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi, đồng thời, Viện kiểm
sát sẽ chuyên sâu hơn về nhiệm vụ của mình.
2.2. Đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư chưa đáp ứng được
yêu cầu nhiệm vụ


Đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư hiện nay còn nhiều hạn chế,
ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng nói chung, chất lượng xét xử vụ án hình
sự nói riêng.
Năng lực, trình độ chuyên môn: năng lực của thẩm phán, kiểm sát viên
có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của quá trình tranh tụng tại phiên tòa,
được thể hiện ở hai khía cạnh là trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh
nghiệm khi tham gia phiên tòa, đối với thẩm phán là kỹ năng điều khiển phiên
tòa và kiểm sát viên là kỹ năng tranh tụng. Trong đó trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ có ảnh hưởng rất lớn vì chủ yếu các trường hợp án bị sửa, hủy là do
việc nắm và vận dụng pháp luật của thẩm phán và kiểm sát viên còn hạn chế.
Trong những năm gần đây, luật sư đã tham gia nhiều vào tranh tụng
trong vụ án hình sự. Tuy nhiên ở nhiều vụ án mà có sự tham gia của luật sư
thì việc tranh cãi chỉ xoay quanh quan điểm định tội danh hoặc tìm ra những
chỗ chưa hoàn chỉnh của công tác điều tra để “bắt bẻ” chứ rất hiếm khi đưa ra
được những bằng chứng phản bác đắt giá… chưa kể sự mâu thuẫn, căng thẳng
trong khi tranh cãi thay vì phải xuất phát từ sự cọ xát về chứng cứ, luận điểm
thì đôi lúc chỉ vì thái độ, ngôn ngữ mang tính hình thức. Nhiều lúc công đoạn
tranh luận chỉ là sự công kích giữa hai phía buộc tội và gỡ tội, tuy là có kịch

xử lý như thế nào? Thu thập tài liệu chứng cứ là việc rất quan trọng để luật sư
có thể tham gia tranh luận một cách bình đẳng tại phiên tòa, nhưng nếu Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát gây khó khăn trong việc cấp giấy phép bào chữa
cho luật sư thì chế tài nào xử lý? Và rất nhiều vấn đề cần phải có sự quy định
cụ thể để tạo ra một cơ chế đồng bộ chuẩn xác cho việc thực hiện tranh tụng.
Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu: Một nguyên nhân cũng
không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến quá trình tranh tụng tại phiên tòa,
đảm bảo tính trang nghiêm của Tòa án là cơ sở vật chất, trang thiết bị của
ngành Tòa án phần lớn đã xuống cấp, lạc hậu, không phù hợp với yêu cầu của
công tác xét xử trong tình hình mới. Một số Tòa án quá chật hẹp, nhiều khi
phải xử án tại phòng làm việc, xử án xong lại kê bàn ghế như cũ. Phòng xử


như vậy không đảm bảo tính trang nghiêm của Tòa án; chỗ ngồi cho luật sư
chật hẹp, không có phòng cách ly người làm chứng và các bên tham gia tố
tụng, ảnh hưởng nhiều đến quá trình tranh tụng tại phiên tòa.
Ý thức pháp luật trong một bộ phận nhân dân vẫn còn hạn chế: tham
gia vào quá trình tranh tụng còn có bị cáo, người bị hại, người liên quan v.v..
nhưng nhận thức, ý thức pháp luật trong một bộ phận nhân dân vẫn còn hạn
chế. Họ tham gia vào các giai đoạn tố tụng còn chưa nắm vững được luật để
bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình, nên chưa thể ý thức được rằng họ tham
gia vào quá trình tố tụng ấy cũng là để bảo vệ pháp luật, giám sát việc thực thi
pháp luật của các cơ quan tư pháp, nhất là hiện nay công tác hướng dẫn, tuyên
truyền phổ biến giáo dục pháp luật về lĩnh vực tư pháp chưa sâu rộng.
Chương 3: Các giải pháp nham nang cao quyền bình đẳng trước toa
doi voi toa an hinh su

1.Hiệuquảxétxử:
Những kết quả nghiên cứu trên các lĩnh vực khoa học có liên quan đến việc
xét xử các vụ án hình sự cho thấy hiệu quả xét xử phụ thuộc vào rất nhiều yếu


các

vụ

án

hình

sự:

Về thực chất, các biện pháp pháp lý nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả xét
xử, chính là sự điều chỉnh về mặt pháp lý, để thực hiện đồng bộ các quy phạm
pháp luật khác, nhằm bảo đảm để tất cả các thành tố tham gia vào hệ thống
xét xử (các chủ thể tham gia vào quá trình xét xử và phục vụ xét xử cũng như
toàn bộ tổ chức bộ máy, nguyên tắc vận hành, quan hệ dọc, ngang... trong hệ
thống Tòa án) đều hướng vào mục đích: Nâng cao hiệu quả xét xử. Nói cách
khác, là tất cả các định hướng quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả xét xử, đều
phải được bảo đảm điều chỉnh bởi một cơ chế pháp lý hữu hiệu; được bảo
đảm thực hiện bởi tổng thể các quy phạm thống nhất mục đích. Đó là các quy
phạm trực tiếp điều chỉnh để bảo đảm:
a. Tổ chức hợp lý hệ thống xét xử;
b. Tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm đúng đội ngũ cán bộ tư
pháp - xét xử nói chung, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân nói riêng.
c. Không ngừng bổ sung, hoàn thiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh
hoạt động tố tụng, tư pháp; khắc phục những quy định chồng chéo, những quy
định trái với những nguyên tắc chung;
d. Bảo đảm đầy đủ các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết phục
vụ cho các hoạt động xét xử;




Trích đoạn Tiếp tục hoàn thiện tố tụng hình sự trong xétxử phúc thẩm Theo quy định của pháp luật hiện hành, ở nước ta thực hiện việc xét xử Bảo đảm tuân thủ triệt để các nguyên tắc của tố tụng hình sự: Là một hướng quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả xét xử Đây cũng là vấn đề khó
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status