LVTS 2015 nguyên tắc bình đẳng trước tòa án trong luật tố tụng hình sự việt nam - Pdf 44

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ KIM CÚC

NGUY£N T¾C B×NH §¼NG TR¦íC TßA ¸N
TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ KIM CÚC

NGUY£N T¾C B×NH §¼NG TR¦íC TßA ¸N
TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ THỊ PHƯỢNG

HÀ NỘI - 2015



1.1.1. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án ........... 7
1.1.2. Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án ........... 11
1.2.

Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng
trước tòa án trong mối quan hệ với các nguyên tắc tố tụng
hình sự khác ...................................................................................... 13

1.3.

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án trong
pháp luật một số nước trên thế giới ................................................ 16

1.3.1. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa........................................................... 16
1.3.2. Cộng hòa liên bang Đức ..................................................................... 18
1.3.3. Cộng hòa liên bang Nga ..................................................................... 21
1.4.

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án trong
luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi
có Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 .............................................. 24

1.4.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1988 ...................................... 24
1.4.2. Giai đoạn từ năm 1988 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 ............................................................................................ 25


Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT
NAM HIỆN HÀNH VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN
BÌNH ĐẲNG TRƯỚC TÒA ÁN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG.......... 27

3.2.1. Củng cố, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng hình sự ........................................................................... 71
3.2.2. Nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức
và kiến thức pháp luật cho những người tiến hành hình sự và
tham gia tố tụng hình sự ..................................................................... 73
3.2.3. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến
thức pháp luật cho nhân dân ............................................................... 77
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 80


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật Tố tụng hình sự

HĐXX:

Hội đồng xét xử

KSV:

Kiểm sát viên

NTGTT:


cơ bản trong tố tụng hình sự Việt Nam. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng
trong việc định hướng cho hoạt động xét xử tại Tòa án, bảo đảm giải quyết vụ
án hình sự khách quan, chính xác, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của những người tham gia tố tụng, nâng cao hiệu quả thực tiễn trong công
cuộc cải cách tư pháp, hướng tới mục tiêu tranh tụng dân chủ trước Tòa án.
Chính vì vậy, ngay từ khi mới thành lập nhà nước, nội dung của nguyên tắc
bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án đã được ghi nhận trong nhiều văn bản
pháp luật, trong đó có Bộ luật tố tụng hình sự - nguồn chủ yếu, cơ bản và
quan trọng nhất của pháp luật tố tụng hình sự.
Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa
án trong những năm vừa qua đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận,
tuy nhiên vẫn còn những hạn chế thiếu sót. Nguyên nhân của tình trạng này
là do quy định của pháp luật còn nhiều bất cập chưa hoàn thiện, nhận thức
của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng về tầm quan
trọng của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án chưa cao. Kết
quả là sự vi phạm quyền bình đẳng của các bên vẫn còn tồn tại, làm giảm
chất lượng của hoạt động xét xử, vẫn còn oan sai và bỏ lọt tội phạm. Điều
này ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của các cơ quan tư pháp cũng như niềm tin
vào sự công bằng của pháp luật. Thực trạng này chưa phù hợp với mục tiêu
của Nghị quyết 49 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp “Xây
dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ
công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam
Xã hội chủ nghĩa”.

1


Nguyên tắc bình đẳng trước tòa án là một trong những nguyên tắc của
pháp luật quốc tế trong xã hội văn minh và là một tiêu chí để bảo vệ quyền
con người, do đó rất cần được bảo đảm trước tòa án. Tuy nhiên trong thời đại

thạc sỹ của tác giả Bùi Thị Giao về “Thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình
sự”, “Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Việt Nam” của
Hoàng Thị Sơn và Bùi Kiên Điện, hay các bài viết trên tạp chí khoa học pháp
lý như bài viết “Một số vấn đề cần chú ý đối với thẩm phán – chủ tọa phiên
tòa khi xét xử vụ án hình sự” của Đinh Văn Quế, “Tố tụng tranh tụng và vấn
đề cải cách tư pháp ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp
quyền” của PGS. TS Nguyễn Ngọc Chí, “Hoàn thiện một số quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự hiện hành nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên
tòa sơ thẩm” của ực, chuyên ngành khác nhau,
để có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình, ngoài việc nắm vững pháp luật tố
tụng và pháp luật nội dung, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Hội thẩm nhân dân
cần phải nắm được những kiến thức cơ bản của lĩnh vực, chuyên ngành có
liên quan đến vụ án đang giải quyết. Vì vậy, việc không ngừng nâng cao trình
độ pháp lý và kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, hội
thẩm nhân dân là một đòi hỏi khách quan xuất phát từ thực tiễn đấu tranh
phong chống tội phạm và yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp.

73


Công tác đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho các chức danh tư pháp
cần được tập trung vào một cơ sở đào tạo để có thể tập trung được đầy đủ cơ
sở vật chất, nhân lực cũng như mới xây dựng được một chương trình tổng
thể với nội dung và phương pháp đào tạo khoa học, thống nhất phù hợp với
từng ngành nghề.
Quy định cụ thể, đầy đủ các tiêu chuẩn bổ nhiệm, bổ nhiệm lại các
chức danh tư pháp cũng như quy định chặt chẽ quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm
lại các chức danh này như tổ chức thi đầu vào các lớp đào tạo các chức danh
tư pháp, thay chế độ tuyển chọn bằng chế độ thi tuyển các chức danh tư pháp.
Trong nhiệm kỳ của Thẩm phán, Kiểm sát viên cần tổ chức thi sát hạch, kiểm

được tham gia xét xử vụ án, tránh những trường hợp Hội thẩm không đọc hồ
sơ vụ án cũng tham gia xét xử, đồng thời tránh được những trường hợp “chữa
cháy” hội thẩm, chủ tọa phải thay thế bằng Hội thẩm khác, trong khi đó, quyết
định vụ án đưa ra xét xử không có tên Hội thẩm tham gia theo quyết định và
chủ tọa phiên tòa lại phải giải thích cho các đương sự về sự bổ sung Hội thẩm
mới, làm như vậy gây ra sự lúng túng cho Hội thẩm khi các đương sự không
đồng ý các Hội thẩm được bổ sung không theo quyết định mà các đương sự
đã nhận được. Kinh phí tham gia xét xử rất ít. Từ 50.000đ được nâng lên
90.000đ/ngày xét xử cũng như đọc hồ sơ vụ án, dẫn đến các Hội thẩm thường
không yên tâm, tập trung công việc xét xử. Trong quá trình cải cách tư pháp
hiện nay, cần nghiên cứu thêm quy định Hội thẩm của một số nước trong khu
vực và trên thế giới.
Nâng cao phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Thẩm
phán, Hội thẩm và Kiểm sát viên để các chủ thể này có thể thực hiện tốt chức
năng, nhiệm vụ của mình trong TTHS nói chung và trong việc bảo đảm quyền
bình đẳng cho các chủ thể tại phiên tòa nói riêng, giúp cho họ tránh được
những tác động tiêu cực và vi phạm pháp luật. Xử lý nghiêm các trường hợp
Thẩm phán, Kiểm sát viên có vi phạm. Ngoài ra việc rèn luyện để nâng cao đạo

75


đức, nghề nghiệp của người Thẩm phán, Kiểm sát viên phải được tiến hành
thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình công tác của họ, thông qua đó để
nhìn nhận, đánh giá lại chính mình, nêu cao tinh thần trách nhiệm trước công
việc, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện để khắc phục những khuyết điểm, xây
dựng và hoàn thiện những ưu điểm, phẩm chất tốt đẹp của bản thân. Nâng cao
đạo đức nghề nghiệp cho người Thẩm phán, Kiểm sát viên là việc làm thường
xuyên mà trước hết thuộc về trách nhiệm của mỗi Thẩm phán, Kiểm sát viên và
của cả hệ thống chính trị và sự giúp đỡ, giám sát của nhân dân.

quan, học hỏi nâng cao trình độ của luật sư của các nước tiên tiến.
3.2.3. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến
thức pháp luật cho nhân dân
Cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức
pháp luật đến mọi tầng lớp nhân dân nhằm giúp họ nhận thức đúng, đầy đủ về
các quyền, nghĩa vụ để có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của
mình khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án, từ đó góp phần nâng cao ý
thức pháp luật, tinh thần xây dựng pháp chế xã hội chủ nghĩa, động viên mọi
cá nhân, cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội, đơn vị kinh tế tham gia vào công
tác đấu tranh phòng chống tội phạm; có nghĩa vụ tạo điều kiện, cung cấp tin
tức, giúp đỡ các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện
tốt các quyền bình đẳng mà pháp luật đã trao cho họ.

77


KẾT LUẬN
Bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án là một nguyên tắc được thể
hiện xuyên suốt trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm cho hoạt động
xét xử tại Tòa án được dân chủ, công khai, góp phần bảo vệ quyền bà lợi
ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng cũng như động viên được sự
tham gia tích cự của các chủ thể này trong quá trình xác định sự thật khách
quan của vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nguyên tắc bảo đảm quyền
bình đẳng trước Tòa án yêu cầu Tòa án phải đảm bảo cho các bên tham gia
phiên tòa phải được bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa
ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước tòa.
Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa
án cho thấy nguyên tắc này đã đạt được những hiệu quả nhất định, tuy nhiên,


Bộ chính trị (2002), Nghị quyết số 08/ NQ – TW ngày 02/01/2002 về một
số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội.

2.

Bộ chính trị (2005), Nghị quyết số 48/ NQ – TW ngày 24/5/2005 về
Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến
năm 2010, Hà Nội.

3.

Bộ chính trị (2005), Nghị quyết số 49/ NQ – TW ngày 02/06/2005 về
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.

4.

Bộ Tư pháp (2012), Báo cáo Tổng kết 5 năm thi hành Luật Luật sư, Hà Nội.

5.

Chủ tịch hội đồng chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1946),
Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946, Hà Nội.

6.

Chủ tịch hội đồng chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1946),
Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946, Hà Nội.

7.

nghĩa vụ của người bào chưa khi tranh tụng trong phiên tòa xét xử hình
sự”, Tạp chí kiểm sát, (17).
15. Nguyễn Đức Mai (2008), “Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự hiện hành nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên
tòa sơ thẩm”, Tạp chí Luật học, (7).
16. Phan Thị Thanh Mai (2011), “Hoàn thiện quy định của luật tố tụng hình
sự nhằm bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật”, Tạp
chí Luật học, (6).
17. Đỗ Thị Phượng (2008), “Kiến nghị bổ sung quy định về tư cách tố tụng
của người đại diện hợp pháp và người bị kết án vào Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003”, Tạp chí Luật học, (7).
18. Đinh Văn Quế (2008), “Một số vấn đề cần chú ý đối với thẩm phán - chủ
tọa phiên tòa khi xét xử vụ án hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (14).
19. Đinh Văn Quế (2008), “Một số vấn đề cần chú ý khi xác định người
tham gia tố tụng trong vụ án hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (13).
20. Quốc hội (1946), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1946, Hà Nội.
21. Quốc hội (1959), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1959, Hà Nội.
22. Quốc hội (1980), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1980, Hà Nội.
23. Quốc hội (1988), Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1988, Hà Nội.
81


24. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Hà Nội.
25. Quốc hội (2002), Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội.
26. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ

luật sư bào chữa khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa hình sự”, Tạp chí
Dân chủ và pháp luật, (5).
41. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (1997), Bộ luật tố tụng hình sự của Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
42. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (bản dịch) (2001), Bộ luật tố tụng hình
sự của Cộng hòa liên bang Nga, Hà Nội.
43. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (bản dịch) (2002), Bộ luật tố tụng hình sự
của Cộng hòa liên bang Đức, Hà Nội.
44. Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng.
Trang Web
45. http://nguoiduatin.vn, “Tòa thường coi nhẹ chứng cứ của luật sư, vì sao?”.
46. http://phapluattp.vn, “Quyết nâng cao chuẩn đầu vào cho nhân lực tư pháp”.
47. http://phapluattp.vn, “Tranh luận để phiên tòa dân chủ, minh bạch hơn”.
48. http://www.congly.com.vn, “Khoảng 80% các vụ án hình sự thiếu luật
sư tham gia”.
49. http://www.phapluattp.vn, “Muốn mở văn phòng luật sư phải có kinh
nghiệm năm năm”.
50. http://www.vietnamnet.vn,“Bị cáo lấy cái chết để minh oan”.

83




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status