ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƢƠNG THỊ ÁNH
NGUY£N T¾C GI¸M §èC VIÖC XÐT Xö
TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƢƠNG THỊ ÁNH
NGUY£N T¾C GI¸M §èC VIÖC XÐT Xö
TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG QUANG PHƢƠNG
HÀ NỘI - 2015
1.1.1. Định nghĩa giám đốc việc xét xử ............................................................ 6
1.1.2. Giám đốc việc xét xử - nguyên tắc của luật tố tụng hình sự Việt Nam ........... 7
1.2.
Vai trò và ý nghĩa của nguyên tắc giám đốc việc xét xử trong
luật tố tụng hình sự Việt Nam.............................................................. 9
1.2.1. Vai trò của nguyên tắc giám đốc việc xét xử.......................................... 9
1.2.2. Ý nghĩa của nguyên tắc giám đốc việc xét xử ...................................... 12
1.3.
Nội dung của giám đốc việc xét xử .................................................... 14
1.3.1. Phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
có vi phạm, sai lầm ............................................................................... 14
1.3.2. Thẩm quyền và tổ chức thực hiện giám đốc việc xét xử ...................... 15
1.3.3. Kết quả của giám đốc việc xét xử ......................................................... 20
1.4.
Nguyên tắc giám đốc việc xét xử trong luật tố tụng hình sự
Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2003 ............................................... 20
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
NGUYÊN TẮC GIÁM ĐỐC VIỆC XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN
HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH ......................................... 27
2.1.
Quy định của pháp luật hiện hành về nguyên tắc giám đốc việc
3.2.3. Giải pháp tổ chức bộ máy thực hiện nguyên tắc giám đốc việc xét xử ..... 60
3.2.4. Giải pháp trong việc tổ chức thực hiện nguyên tắc giám đốc việc
xét xử..................................................................................................... 65
3.2.5. Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ ........................................ 71
3.2.6. Giải pháp khác ...................................................................................... 77
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 81
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Xét về tổng số đơn
42
Bảng 2.2: Xét về số đơn đã được giải quyết
42
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tòa án nhân dân, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài
sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, nhân
phạm tội, đồng thời không làm oan người vô tội.
Tuy nhiên, thực tiễn công tác giám đốc việc xét xử các vụ án hình sự cho
thấy, mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhưng các quy định về giám đốc việc xét
xử trong luật tố tụng hình sự của nước ta chưa đầy đủ, nhiều điểm còn mâu
thuẫn, chồng chéo, chưa rõ ràng, khó áp dụng, gây nhiều tranh cãi. Việc giải
thích, hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc giám đốc xét xử chưa được các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quan tâm đúng mức, nên trong công tác giám đốc việc
xét xử các vụ án hình sự chưa đem lại kết quả như mong muốn. Tình trạng oan
sai chưa được sửa chữa kịp thời, nhất là đối với trường hợp Tòa án tuyên bố
không phạm tội, nhưng quyết định đó của Tòa án là không đúng hoặc áp dụng
hình phạt quá nhẹ, cho hưởng án treo không đúng nhưng không phát hiện kịp
thời nên đã hết thời hạn kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án.
Việc nghiên cứu nội dung, ý nghĩa, vai trò của giám đốc việc xét xử,
nghiên cứu thực tiễn công tác giám đốc việc xét xử các vụ án hình sự, để làm
rõ những vướng mắc, những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân. Trên cơ sở
đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám
đốc việc xét xử các vụ án hình sự là rất cần thiết. Đó cũng là lý do học viên
chọn đề tài: “Nguyên tắc giám đốc việc xét xử trong luật tố tụng hình sự
Việt Nam” để làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Hoạt động giám đốc việc xét xử đã được các nhà làm luật cũng như
những người làm công tác thực tiễn quan tâm và nghiên cứu. Công trình
nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Nâng cao hiệu quả công tác giám đốc việc xét
xử các vụ án hình sự” của Th.S Đinh Văn Quế làm chủ biên, Tòa án nhân dân
tối cao, Hà Nội 2005; Công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: “Một số
2
giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm,
- Nghiên cứu những vấn đề chung, quy định của pháp luật có liên quan
đến nguyên tắc giám đốc việc xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam;
- Nghiên cứu, khảo sát số liệu thực tế về số đơn khiếu nại, bản án,
quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. Từ đó làm rõ
nguyên nhân của những hạn chế đó;
- Từ những hạn chế đã được làm rõ và nguyên nhân của những hạn
chế, luận văn đưa ra các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng hiệu quả
giám đốc việc xét xử các vụ án hình sự.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ
chức Tòa án nhân dân liên quan đến nguyên tắc giám đốc việc xét xử, các báo
cáo tổng kết, rút kinh nghiệm của Tòa án nhân dân tối cao, thực tiễn giám đốc
việc xét xử trong thời gian qua, trong đó có kết quả giám đốc thẩm, tái thẩm.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu gồm các quy định trong pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam, thực tiễn giám đốc việc xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, bao
gồm cả việc giải quyết đơn yêu cầu giám đốc thẩm, tái thẩm. Luận văn cũng
nghiên cứu và giải quyết những vấn đề liên quan đến giám đốc việc xét xử để
làm rõ đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật tố tụng hình
sự Việt Nam. Về thời gian, luận văn nghiên cứu thực tiễn giám đốc việc xét
xử trong các năm từ năm 2010 đến năm 2014.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Để hoàn thành luận văn, tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ
nghĩa Mác – Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp
luật, về cải cách tư pháp.
4
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC GIÁM ĐỐC
VIỆC XÉT XỬ TRONG LUẬT TỔ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm nguyên tắc giám đốc việc xét xử trong Luật tố tụng
hình sự Việt Nam
1.1.1. Định nghĩa giám đốc việc xét xử
Phát biểu tại một Hội nghị triển khai công tác Tòa án cho một năm mới,
Nguyên Phó thủ tướng chính phủ, Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư trung ương
Đảng Trương Vĩnh Trọng có nói rằng: “Việc và cơm vào miệng vẫn có thể có
những hạt bị rơi, không có việc gì được trọn vẹn. Tòa án cũng vậy thôi, xét xử
thì cũng có thể có sai lầm, nhưng các đồng chí hãy cố gắng, làm thế nào để
hạn chế cái sai lầm đó tối đa nhất dẫn đến loại trừ nó. Và khi đã phạm sai lầm
thì biết phát hiện kịp thời để mà khắc phục những sai lầm đó”.
Thể chế hóa Điều 134 của Hiến pháp năm 1992 (nay là Điều 104 Hiến
pháp sửa đổi, bổ sung năm 2013): “Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét
xử của các Tòa án khác , trừ trường hợp do luật đi ̣nh ” [40], Bộ luật tố tụng
hình sự quy định giám đốc việc xét xử là một nguyên tắc cơ bản của luật tố
tụng hình sự với nội dung Tòa án cấp trên giám đốc việc xét xử của Tòa án
cấp dưới, Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân
và Tòa án quân sự các cấp để bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật được tiến
hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với hoạt động của Tòa án cấp
dưới thể hiện ở việc kiểm tra, xem xét hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới;
phát hiện những thiếu sót, sai lầm trong hoạt động xét xử của Tòa án cấp
dưới, từ đó sửa chữa, hướng dẫn Tòa án cấp dưới áp dụng thống nhất pháp
luật. Công tác giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với hoạt động xét xử
của Tòa án cấp dưới còn thể hiện bằng việc xem lại các bản án và quyết định
6
7
nói riêng, việc kiểm tra, kiểm soát, giám sát là công việc phải thực hiện
thường xuyên. Giám đốc việc xét xử trong hệ thống Tòa án nhân dân về bản
chất cũng giống như kiểm tra, kiểm soát và giám sát. Tuy nhiên nó cũng có
những đặc thù riêng. Tòa án xét xử độc lập nhưng phải tuân theo pháp luật.
Với những đặc trưng của hoạt động xét xử, hệ thống tòa án là nơi đem đến
cho các bên tranh tụng sự bình đẳng, công bằng, góp phần thiết lập trật tự xã
hội. Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống tòa án cũng không phải không có
những vi phạm, sai lầm nếu những nguyên tắc cơ bản của hoạt động tố tụng
không được bảo đảm. Khi đó, không những quyền lợi chính đáng của các
đương sự không được bảo đảm, mà uy tín của Nhà nước cũng bị giảm sút. Là
một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, luật tố tụng hình sự chịu sự
chi phối của các nguyên tắc nhất định. Theo quy định tại Chương 2 “Những
nguyên tắc cơ bản” của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, thì trong tố tụng
hình sự có 30 Điều (từ Điều 3 đến Điều 32) các nguyên tắc cơ bản. Tại Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003 về “Giám đốc việc xét xử” quy định: “Tòa án cấp
trên giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp dưới, Tòa án nhân dân tối cao giám
đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp để bảo đảm
việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất” [39, Điều 21]. Quy
định này không phải mới được bổ sung và Bộ luật tố tụng hình sự 2003 mà nó
đã được quy định tại Chương 1 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 (Bộ luật tố
tụng hình sự đầu tiên của nước ta với nội dung tương ứng: “Tòa án cấp trên
giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp dưới, Tòa án nhân dân tối cao giám đốc
việc xét xử của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp để bảo đảm việc
áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất” [34, Điều 22].
Bên cạnh đó, những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về nhiệm vụ,
quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm; về phát hiện bản án, quyết định của Tòa
án có hiệu lực pháp luật nhưng có sai lầm; về xét lại bản án, quyết định của Tòa
Như vậy, công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, tố cáo những
9
việc làm trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan và
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ
quan đó. Trong hoạt động kiểm tra, giám sát việc xét xử của các cơ quan tiến
hành tố tụng, cơ quan, tổ chức, công dân có quyền khiếu nại các quyết định,
hành vi tố tụng của cơ quan cũng như người có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là không đúng pháp luật. Trong
giai đoạn xét xử, việc khiếu nại được gửi đến cho Chánh án tòa án cùng cấp
hoặc Tòa án cấp trên. Song song đó, cơ quan có thẩm quyền cũng phải có
nghĩa vụ tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu
nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại và
tố cáo biết và có biện pháp khắc phục. Kinh nghiệm đấu tranh phòng chống
tội phạm cho thấy phải dựa vào quần chúng, phát huy tính tích cực, chủ động
của quần chúng trong việc phát hiện, ngăn chặn tội phạm, kiểm tra, giám sát
việc xét xử, thi hành pháp luật cũng như trong công tác thi hành án thì mới đạt
được hiệu quả cao. Đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm không chỉ là
quyền mà còn là nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức. Phát hiện, tố giác hành vi
phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ
lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Tạo điều
kiện để các tổ chức và công dân tham gia tố tụng hình sự là trách nhiệm của
các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, khi nhận được tin báo, tố giác, khiếu
nại của các tổ chức hoặc công dân chuyển đến, cơ quan tiến hành tố tụng sau
khi xem xét phải trả lời kết quả giải quyết tin báo, trả lời đơn cho tổ chức
hoặc công dân đã báo tin biết.
Thứ hai, nguyên tắc này bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án đưa ra
là đúng nhằm “chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính
tin cho nhân dân. Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tư
tưởng vì con người, vì nhân dân, lấy dân làm gốc luôn là mục tiêu, tôn chỉ
trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chủ tịch. Muốn Đảng và
11
Nhà nước vững mạnh, phát triển thì phải có niềm tin của dân vào Đảng, Nhà
nước và chính quyền. Một trong những cách hiệu quả để tạo được lòng tin
cho nhân dân chính là việc thực thi pháp luật một cách nghiêm chỉnh, thống
nhất. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự cũng vậy. Việc xuất hiện những vụ án
oan sai là biểu hiện sự giảm sút của hệ thống pháp luật, người dân không còn
biết bấu víu vào đâu và phải tự tìm mọi cách để cứu mình. Thông qua hoạt
động giám đốc việc xét xử, các bản án và quyết định của Tòa án luôn được
đảm bảo tính đúng đắn, hạn chế tối đa và dần tiến tới loại bỏ những sai sót. Vì
vậy, phát hiện và sửa chữa kịp thời những sai lầm nhằm nâng cao hiểu biết
pháp luật cho nhân dân, hình thành lòng tin của họ vào pháp luật và Đảng và
Nhà nước, qua đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, thái độ tôn trọng pháp
luật của mọi thành viên trong xã hội. Làm tốt công tác giám đốc xét xử chính
là giúp cho các thành viên trong xã hội thấy rõ hơn trách nhiệm xã hội và
nghĩa vụ công dân của mình trong việc xây dựng, giữ gìn, bảo vệ thành quả
cách mạng, tạo niềm tin vững chắc vào Đảng, chính quyền và chế độ Xã hội
chủ nghĩa, qua đó nâng cao ý thức chính trị, tự giác chấp hành nghiêm các
quy định của pháp luật, tích cực, chủ động tham gia thực hiện nhiệm vụ phát
triển kinh tế- xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh của đất nước. Thông qua
hoạt động giám đốc xét xử nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ và
nhân dân sẽ tạo sự thống nhất cao trong quá trình triển khai thực hiện pháp
luật ở tất cả các cấp, các ngành, các đơn vị, từng bước tạo ra mặt bằng dân trí
pháp lý phù hợp, góp phần tạo ra sự ổn định về chính trị- xã hội, làm nên sức
mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.
được những thiếu sót, yếu kém của các Tòa án cấp dưới. Tòa án cấp trên giám
đốc việc xét xử của Tòa án cấp dưới thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát,
xem xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa. Từ đó phát
hiện những sai sót, yếu kém của các Tòa án cấp dưới và kịp thời sửa chữa, khắc
phục, điều chỉnh những sai sót, yếu kém đó; Những bất cập của pháp luật, khi
13
áp dụng vào thực tế không còn phù hợp sẽ được phát hiện. Thông qua đó, rút
kinh nghiệm từ thực tiễn, Tòa án sẽ có những đề án, kế hoạch cụ thể để sửa đổi,
bổ sung pháp luật, hoàn thiện pháp luật sao cho phù hợp với công tác xét xử
trên thực tiễn và phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.
1.3. Nội dung của giám đốc việc xét xử
1.3.1. Phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật có vi phạm, sai lầm
Chủ thể phát hiện và hình thức phát hiện rất phong phú và đa dạng
Theo Điều 274 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, thì người bị kết án,
các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân có quyền phát hiện và
kiến nghị những vi phạm pháp luật hoặc những tình tiết mới trong các bản án
hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật với những người có thẩm
quyền kháng nghị để những người này xét có quyết định kháng nghị theo
trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hay không. Nếu không có căn cứ kháng
nghị, thì người có quyền kháng nghị phải trả lời cho người hoặc cơ quan tổ
chức đã phát hiện biết rõ lý do vì sao không kháng nghị. Không hạn chế
quyền phát hiện các vi phạm, sai lầm này. Việc không hạn chế quyền phát
hiện vi phạm pháp luật, sai lầm trong áp dụng pháp luật trong các bản án hoặc
quyết định đã có hiệu lực pháp luật là thể hiện quyền giám sát hoạt động xét
xử của toàn xã hội đối với Tòa án.
Hình thức phát hiện lại rất phong phú đa dạng. Người phát hiện có thể
định (sáu tháng hoặc một năm). Ngoài việc kiểm tra của Tòa án cấp trên
với Tòa án cấp dưới, thì ở từng Tòa án cũng tự kiểm tra hoạt động xét xử
của Tòa án mình nếu phát hiện bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp
luật có sai lầm hoặc có tình tiết mới liên quan đến vụ án thì phải báo cáo
với người có quyền kháng nghị để xem xét việc có kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hay không.
15
Công tác kiểm tra bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp.
Trong những năm qua, việc kiểm tra các bản án đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án các cấp chủ yếu do Ban thanh tra Tòa án nhân dân tối cao thực hiện
theo kế hoạch kiểm tra định kỳ. Đối với Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao
việc kiểm tra bản án đã có hiệu lực pháp luật chưa được thường xuyên, chủ
yếu là do thiếu biên chế, lại phải tập trung giải quyết đơn khiếu nại và nhiều
việc khác. Do đó, những sai sót của Tòa án các cấp ít được phát hiện qua việc
kiểm tra bản án. Trong thời gian trở lại đây, do đổi mới lề lối làm việc mà đặc
biệt là đổi mới việc giải quyết đơn khiếu nại, nên từng bước Tòa hình sự đã
kiểm tra được một số bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp. Riêng
đối với bản án của Tòa án quân sự, do không có quy định phải gửi cho Tòa án
nhân dân tối cao nên không thực hiện được việc kiểm tra. Qua kiểm tra bản
án, Tòa hình sự đã phát hiện nhiều thiếu sót trong việc xét xử của Tòa án các
cấp, kịp thời rút kinh nghiệm cho Tòa án đã ra bản án, những trường hợp sai
lầm nghiêm trọng đã rút hồ sơ nghiên cứu và đề xuất Chánh án kháng nghị.
Việc thực hiện giám đốc xét xử các vụ án hình sự ở các Tòa án cấp
tỉnh. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì Tòa án cấp
trên giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp dưới, trong đó, Tòa án nhân dân
cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền kiểm tra bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành
- Giúp Chánh án tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
thực hiện tốt công tác theo dõi thi hành án hình sự.
Việc thực hiện giám đốc xét xử các vụ án hình sự ở các Tòa án quân
sự. Giám đốc việc xét xử các vụ án hình sự ở các Tòa án quân sự cũng tương
tự như đối với các Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, do đặc thù của Tòa án quân
sự là Tòa án của lực lượng vũ trang, nên việc tổ chức cũng như hoạt động
giám đốc việc xét xử của Tòa án quân sự cũng có đặc điểm riêng phù hợp với
lực lượng vũ trang và bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật. Có thể
17
tóm tắt hoạt động giám đốc việc xét xử các vụ án hình sự của Tòa án quân sự
thông qua các hình thức sau:
- Kiểm tra các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa
án quân sự cấp dưới;
- Kiểm tra hoạt động của các Tòa án quân sự cấp dưới;
- Kiểm tra nguồn tin từ các bài trên báo, phương tiện thông tin đại
chúng và các nguồn khác;
- Giải quyết khiếu nại đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật;
- Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với các bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp dưới;
- Xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục
Giám đốc thẩm, tái thẩm.
Công tác nghiên cứu hồ sơ, đề xuất kháng nghị: Việc nghiên cứu hồ sơ
vụ án của Thẩm tra viên Tòa hình sự được quy định trong quy chế của đơn vị,
cụ thể là: sau khi nhận được hồ sơ vụ án, Thẩm tra viên phải vào sổ thụ lý; sổ
thụ lý phải phản ánh quá trình nhận, nghiên cứu, báo cáo, các bước giải quyết
hồ sơ. Khi nghiên cứu hồ sơ phải lập tiểu hồ sơ và lưu giữ tiểu hồ sơ. Thẩm
án đã có hiệu lực pháp luật không bị giới hạn. Tất cả mọi người, mọi cơ quan
Nhà nước, tổ chức xã hội đều có quyền phát hiện. Việc phát hiện chính xác,
kịp thời sẽ giúp cho việc sửa chữa kịp thời những vi phạm pháp luật của Tòa
án trong công tác xét xử. Hoạt động kiểm tra, phát hiện giữ vai trò là tiền đề
cho việc thực hiện giám đốc xét xử. Thực tiễn cho thấy, vẫn còn tồn tại rất
nhiều những bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật vi
phạm pháp luật nghiêm trọng nhưng không được phát hiện, tình trạng xử
không đúng người đúng tội, oan sai vì không phát hiện được hoặc do công tác
kiểm tra, giám sát việc xét xử chưa tốt, không đạt hiệu quả cao.
19