Thời hạn tố tụng trước xét xử trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHAN THỊ THU THỦY
THỜI HẠN TỐ TỤNG TRƢỚC XÉT XỬ
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014 3
Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Phan Thị Thu Thủy 4
MỤC LỤC
10
1.3.
Phân loại thời hạn trong giai đoạn trước xét xử
13
1.4.
Cách tính thời hạn tố tụng trong pháp luật hiện hành
15
1.5.
Chế định thời hạn trong tố tụng hình sự của một số nước điển
hình và kinh nghiệm đối với việc đổi mới, hoàn thiện chế định
thời hạn trong luật tố tụng hình sự của nước ta
20

Chương 2: QUI ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM
2003 VỀ THỜI HẠN TỐ TỤNG TRONG GIAI ĐOẠN
TRƢỚC XÉT XỬ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
22
2.1.
Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thời hạn
tố tụng
22
2.1.1.
Căn cứ để xác định thời hạn
22
2.1.2.
Thời hạn tố tụng trong giai đoạn khởi tố
28
2.1.3
Thời hạn tố tụng trong giai đoạn điều tra
29

hành tố tụng, cố ý hoặc vô ý làm sai các quy định về thời hạn
trong tố tụng hình sự
66
2.4.3.
Nguyên nhân thuộc về tổ chức bộ máy các cơ quan tiến hành
tố tụng và phương tiện, trang thiết bị trong hoạt động tố tụng
67

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG THỜI HẠN TỐ TỤNG HÌNH
SỰ GIAI ĐOẠN TRƢỚC XÉT XỬ
71
3.1.
Phương châm, định hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng về
thời hạn
71
3.2.
Một số vấn đề chung liên quan đến việc sửa đổi
73
3.3.
Đề xuất đổi mới, hoàn thiện quy định về thời hạn tố tụng
76
3.3.1.
Sửa đổi, bổ sung các quy định thời hạn cụ thể trong một số
điều luật tại Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành
78
3.3.2.
Một số kiến nghị về cán bộ tiến hành tố tụng
90
3.3.3.

TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TTHS
: Tố tụng hình sự
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa

7 DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
So sánh thời hạn tạm giam với thời hạn điều tra thời hạn
truy tố, thời hạn xét xử theo BLTTHS năm 2003
40
2.2
Thời hạn tạm giam trong các giai đoạn tố tụng

tội phạm và thành quả chung của công cuộc đổi mới của Nhà nước ta trong
những năm qua. Tuy nhiên, thực tiễn tố tụng giải quyết vụ án hình sự còn cho

9
thấy những bất cập sau về áp dụng thời hạn TTHS: (1) Thời hạn tố tụng giải
quyết vụ án trong các giai đoạn tố tụng còn bị vi phạm nhiều, việc để quá hạn
khởi tố, điều tra, truy tố làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ "Tội
phạm phải được được phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh
kịp thời" [34, Điều 1]; (2) Thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, nhất là
các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam còn bị vi phạm mang tính phổ
biến không những ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết vụ án mà còn vi phạm
quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo gây dư luận không tốt
cho xã hội; (3) Hiện tượng vi phạm thời hạn tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án gây ra những hậu quả tiêu cực về sự nghiêm minh của nền tư pháp XHCN,
lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan tiến hành tố tụng và công lý.
Hiện tượng vi phạm thời hạn TTHS nói chung và thời hạn TTHS ở
các giai đoạn tố tụng trước xét xử nói riêng do nhiều nguyên nhân thuộc về
các yếu tố khách quan và chủ quan trong đó có nguyên nhân qui định của luật
TTHS về thời hạn chưa phù hợp với thực tế giải quyết vụ án và các điều kiện
kinh tế - xã hội ở nước ta. Trước yêu cầu đấu tranh chống và phòng ngừa tội
phạm trong giai đoạn mới, một số quy định cụ thể về thời hạn của các hoạt
động, của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn cũng như thời hạn của các
giai đoạn tố tụng trong BLTTHS không còn phù hợp cần phải được nghiên
cứu, xem xét khi hoàn thiện BLTTHS. Nghị quyết số 49-NQ/TW có nêu một
trong những nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 là "Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục
tố tụng tư pháp" [10] với nội dung: "Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan
đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật. Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố
tụng tư pháp" [10] phù hợp với quá trình đổi mới công tác lập pháp và chương

Hà Nội, 2009.
Ngoài ra, còn có một số bài đăng trên tạp chí khoa học pháp lý như:

11
- Sửa đổi bổ sung các quy định về thời hạn tố tụng trong Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2003, của ThS. Hoàng Anh Tuyên, Tạp chí Kiểm sát, số 8/2012.
- Hoàn thiện thủ tục truy tố trong Bộ luật Tố tụng hình sự, của TS. Đỗ
Văn Đương, Tạp chí Kiểm sát, số 8/2012.
- Một số vướng mắc trong việc áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự 2003
và những kiến nghị sửa đổi, của TS. Phạm Minh Tuyên, Tạp chí Tòa án nhân
dân (TAND), tháng 10/2005;
- Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về biện pháp
tạm giam, của PGS.TS Trần Văn Độ - phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
(TANDTC), Chánh án Tòa án Quân sự trung ương.
- Hoàn thiện quy định về tạm giữ tạm giam trong Bộ luật Tố tụng hình
sự Việt Nam, của ThS Hoàng Văn Hạnh, Tạp chí Luật học, số 7/2008.
Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến thời hạn tố tụng
nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát. Tuy nhiên, về phương diện
nghiên cứu lý luận chuyên sâu và có hệ thống về thời hạn vẫn chưa được quan
tâm một cách đúng mức mặc dù đây là một quy định có ý nghĩa lớn trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự. Do vậy, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn xung
quanh thời hạn, trực tiếp liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự đòi hỏi
cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích của luận văn
- Làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận những nội dung cơ
bản về thời hạn tố tụng giai đoạn trước xét xử theo pháp luật TTHS Việt Nam.
- Phân tích những bất cập của các quy định về thời hạn tố tụng giai
đoạn trước xét xử trực tiếp liên quan đến quá trình khởi tố, điều tra, truy tố tội
phạm cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là làm rõ khái niệm về thời hạn tố
tụng; phân tích, đánh giá qui định của pháp luật TTHS và nghiên cứu thực
tiễn thi hành qui định về thời hạn tố tụng ở Việt Nam theo BLTTHS hiện hành.

13
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu các quy định của
pháp luật về thời hạn TTHS và thực tiễn thi hành để thấy những hạn chế, những
bất cập cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật TTHS ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về
Nhà nước và pháp luật. Ngoài ra, luận văn cũng kế thừa có chọn lọc những
vấn đề lý luận và thực tiễn được các nhà nghiên cứu đi trước đưa ra, những tài
liệu, công trình đã được công bố trên các tạp chí, bài viết và tài liệu của các
cơ quan từ hoạt động thực tiễn xét xử các vụ án hình sự.
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như:
phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, diễn giải, suy luận logic, phương pháp
xã hội học phương pháp hệ thống, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để rút ra
các kết luận khoa học của mình.
Trong quá trình hoàn thành, tác giả luận văn đã sử dụng tổng hợp và
đồng bộ các phương pháp nghiên cứu có độ tin cậy cao của khoa học luật hình
sự và một số ngành khoa học khác. Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn đặc biệt coi
trọng các phương pháp điều tra điển hình, so sánh, hệ thống, lịch sử, phân
tích, tổng hợp để làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu của luận văn.
7. Kết quả nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu "Thời hạn tố tụng trước xét xử trong luật tố tụng
hình sự Việt Nam" nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về thời hạn
tố tụng trước xét xử, thực tiễn áp dụng, những bất cập, hạn chế còn tồn tại và
đưa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả quy định về thời

chính quyền và ngày càng được hoàn thiện trong BLTTHS năm 1988 và năm
2003. Trong pháp luật hiện hành, tuy không khái niệm về thời hạn tố tụng
nhưng có quy định về đơn vị tính thời hạn theo giờ, ngày, tháng, năm và xác
định thời hạn tiến hành các hoạt động tố tụng, thời hạn ban hành các quyết
định tố tụng, thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm
giam, thời hạn điều tra, truy tố, xét xử đối với từng loại tội phạm…
Dưới góc độ giải thích thuật ngữ nêu trong từ điển và từ bản chất pháp
lý của những quy định pháp luật về thời hạn có thể thấy: Thời hạn TTHS là
một loại thời hạn pháp lý, do luật TTHS quy định, là khoảng thời gian được
xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để tiến hành và kết thúc các
hoạt động tố tụng, hành vi và quyết định tố tụng cụ thể.
Từ định nghĩa trên đây, có thể rút ra một số đặc điểm của thời hạn
TTHS như sau:
Thứ nhất, mục đích của thời hạn TTHS là nhằm bảo đảm cho từng
hoạt động trong quá trình giải quyết vụ án hình sự phải được và chỉ được thực
hiện trong khoảng thời gian luật định.
Thứ hai, thời hạn TTHS vừa mang tính khách quan, vừa mang tính
chủ quan. Khách quan vì nó được tính toán trên cơ sở tính chất, mức độ phức

16
tạp của vụ án kế hợp với năng lực của chủ thể tiến hành tố tụng để xác định
khoảng thời gian vật chất cần thiết cho việc thực hiện các hoạt động tố tụng.
Chủ quan vì việc xác định thời hạn tố tụng được thực hiện bởi con người (nhà
làm luật), đồng thời trong từng giai đoạn cụ thể còn là yêu cầu của nhân dân,
của xã hội đối với quá trình phát hiện và xử lý tội phạm.
Thứ ba, các thời hạn tố tụng có liên quan chặt chẽ và tác động qua lại
lẫn nhau tạo thành sự đồng bộ, thống nhất trong suốt quá trình giải quyết các
vụ án hình sự cũng như ở từng giai đoạn tố tụng. Thời hạn giải quyết vụ án là
khoảng thời gian được xác định từ thời điểm khởi tố vụ án đế khi vụ án được
xét xử xong và bản án có hiệu lực pháp luật. Đây là "cái chung" bao gồm các

định thời hạn TTHS một cách hợp lý và việc tuân thủ đúng đắn các quy định về
thời hạn là một trong những điều kiện quan trọng góp phần thực hiện có hiệu
quả các nhiệm vụ của TTHS. Điều đó thể hiện rõ trên các phương diện sau:
Thứ nhất, chế định thời hạn TTHS có tác động tích cực đến các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, bảo đảm đẩy nhanh tiến độ
giải quyết vụ án, nhằm "phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công
minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm".
Bằng việc quy định các thời hạn đối với các hoạt động tố tụng, hành vi
tố tụng (thời hạn kiểm tra, xác minh tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi
tố; thời hạn tạm giữ; thời hạn điều tra; thời hạn tạm giam để điều tra; thời hạn
quyết định việc truy tố; thời hạn chuẩn bị xét xử; thời hạn tạm giam để chuẩn bị
xét xử; thời hạn xét xử phúc thẩm; thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm; thời
hạn đưa bản án, quyết định ra thi hành; thời hạn điều tra, truy tố, xét xử và thời
hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với những vụ án áp dụng theo thủ tục
rút gọn; thời hạn gửi các quyết định tố tụng; thời hạn phê chuẩn các quyết định
tố tụng…). Tính xác định về mặt thời hạn tố tụng vừa có ý nghĩa xác lập quyền
hạn vừa ràng buộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm của các chủ thể tiến hành tố
tụng tích cực hoạt động phát hiện và xử lý tội phạm trong thời hạn luật định.

18
Thứ hai, chế định thời hạn góp phần bảo đảm quyền tự do, dân chủ
của công dân, quyền con người trong TTHS.
Quá trình giải quyết vụ án hình sự thường liên quan đến việc hạn chế
quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền con người. Việc điều tra, truy tố,
xét xử do đó ngoài việc phải tuân thủ đầy đủ, đúng đắn các quy định của pháp
luật về trình tự, thủ tục, thẩm quyền còn phải bảo đảm tuân thủ thời hạn do
luật định. Tùy thuộc vào đặc điểm của hệ thống chính trị, nguyên tắc tổ chức
bộ máy nhà nước, điều kiện kinh tế - xã hội, pháp luật ở các nước đều có những
quy định giám sát, xử lý các hành vi của nhân viên tư pháp xâm phạm đến các
quyền công dân, trong đó có vi phạm thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn

bởi vì chính con người, thông qua ý thức của mình, cho rằng cần có một lượng
thời gian này hay lượng thời gian khác cho từng hoạt động, hành vi tố tụng.
Hoạt động TTHS là hoạt động phức tạp liên quan đến nhiều cơ quan,
tổ chức, cá nhân. Việc tiến hành tố tụng từ khi phát hiện tội phạm đều phải
tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định về khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và
thi hành án hình sự. Ở mỗi giai đoạn phải đảm bảo trình tự trước, sau và thủ
tục tiến hành một cách chặt chẽ. BLTTHS quy định cụ thể chức năng, nhiệm
vụ quyền hạn của các CQĐT, VKS, tòa án cũng như mối quan hệ giữa các cơ
quan đó với nhau. Mối quan hệ cấp trên - cấp dưới trong một cơ quan tiến
hành tố tụng cũng được xác định cụ thể trong TTHS nhằm đảm bảo việc hoạt
động tố tụng được tiến hành chặt chẽ, đúng pháp luật, không tuỳ tiện, lạm
quyền. BLTTHS chặt quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
những người tiến hành tố tụng: quyền và nghĩa vụ của những người tham gia
tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân.
Thứ sáu, thời hạn trong TTHS thể hiện nhiệm vụ của luật TTHS là
phát hiện, chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi
phạm tội góp phần bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN,

20
đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm. Tính xác định về thời gian, tính bắt buộc cho từng
giai đoạn tố tụng, hoạt động tố tụng (như điều tra, kiểm sát điều tra, xét xử,
các biện pháp ngăn chặn…) trong thời hạn bao hàm ý nghĩa ràng buộc tất cả
các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ pháp luật trên nền tảng pháp chế
và dân chủ, vừa tạo ra quyền để cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đạt hiệu
quả, mục đích của luật tố tụng nào lại không gắn liền với một thời hạn nhất
định để đảm bảo được yêu cầu cả về hai phía: các cơ quan bảo vệ pháp luật
thực hiện tốt nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của mình và quyền lợi ích hợp
pháp của công dân được đảm bảo. Từ lúc khởi tố vụ án hình sự, thời hạn các

ngăn chặn (Điều 177).
Thứ hai, căn cứ vào các biện pháp được áp dụng trong quá trình TTHS
giải quyết vụ án, có các loại thời hạn sau:
- Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra thu thập chứng cứ, có: Luật
TTHS qui định các biện pháp điều tra thu tập chứng cứ. Các biện pháp này về
cơ bản được áp dụng trong thời hạn của giai đoạn điều tra, tuy nhiên đối với
một số thủ tục khi tiến hành áp dụng các biện pháp đó luật còn qui định thời
hạn ở một số thủ tục. Chẳng hạn: Điều 126 BLTTHS 2003 qui định biện pháp
khởi tố bị can thì ở Khoản 4 qui định: Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra
quyết định khởi tố bị can, CQĐT phải gửi quyết định khởi tố và các quyết
định liên quan đến việc khởi tố bị can đó cho VKS cùng cấp để xét phê chuẩn
việc khởi tố. Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố
bị can, VKS phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định
khởi tố bị can và gửi ngay cho CQĐT. Hay trong Điều 141 BLTTHS năm 2003,
thẩm quyền ra lệnh khám xét có quy định: trong trường hợp không thể trì
hoãn, những người được quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này có
quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xong, người ra
lệnh khám phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp…

22
- Thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn được qui định tương ứng khi
áp dụng các biện pháp này trong các giai đoạn tố tụng, đồng thời cũng qui
định thời hạn cụ thể khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Chẳng hạn, biện
pháp tạm giam được qui định áp dụng trong giai đoạn điều tra như sau: Thời
hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít
nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá
bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng.
Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian
dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện
pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam,

việc điều tra; yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử được gửi cho VKS để xem
xét, quyết định việc khởi tố. Thời hạn gửi là hai mươi bốn giờ kể từ khi ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự.
- Điều 141, khoản 2 BLTTHS quy định thẩm quyền ra lệnh khám xét:
Trong trường hợp không thể trì hoãn, những người được quy định tại khoản 2
Điều 81 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn hai mươi
bốn giờ, kể từ khi khám xong, người ra lệnh khám phải thông báo bằng văn
bản cho VKS cùng cấp.
Cách tính thời hạn theo giờ tại các quy định trên là giờ vật lý được xác
định tròn 60 phút.
Đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau. Như vậy thời
điểm trước 22 giờ và sau 6 giờ sáng theo BLTTHS không phải là ban đêm.
Điều 131, khoản 3 BLTTHS quy định không hỏi cung vào ban đêm,
trừ trường hợp không thể trì hoãn được, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản,
do đó không được hỏi cung bị can vào thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến
6 giờ ngày hôm sau.
Điều 143, khoản 3 BLTTHS quy định không được khám chỗ ở vào
ban đêm. CQĐT, phải hết sức thận trọng khi quyết định khám chỗ ở trong

24
khoảng 22 giờ đêm đến 6 giờ sáng ngày hôm sau trong trường hợp không thể
trì hoãn và phải ghi rõ lý do vào biên bản.
* Thời hạn tính theo ngày
Trong BLTTHS, thời hạn tính theo ngày được quy định tại nhiều
điều luật:
+ Điều 87: Thời hạn tạm giữ
+ Điều 103: Nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin bảo về tội phạm và kiến
nghị khởi tố.
+ Điều 111: Quyền hạn điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan,
Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của cơ quan Công an

dương lịch, ngày Quốc tế lao động, ngày Quốc khánh…)
* Thời hạn tính theo ngày và tháng
Có một số thời hạn vừa tính theo ngày vừa tính theo tháng, ví dụ Điều
176 BLTTHS quy định thời hạn chuẩn bị xét xử sở thẩm đối với tội phạm rất
nghiêm trọng, trong thời hạn hai tháng kể tử ngày nhận hồ sơ vụ án, Thẩm
phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong những quyết định:
đưa vụ án ra xét xử; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; tạm đình chỉ vụ án có thể
quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá ba mươi ngày.
Đối với trường hợp này cần tuân thủ nguyên tắc thời hạn quy định là
ngày phải tính theo ngày, thời hạn quy định là tháng phải tính theo tháng,
không nên quy đổi ba mươi ngày là một tháng, sáu mươi ngày là hai tháng,
bởi vì thời hạn trong TTHS là thời hạn mang tính pháp lý, quy ước như đã
phân tích ở trên.
* Thời hạn tính theo năm
Trong BLTTHS có một quy định thời hạn một năm tạm đình chỉ thi
hành án pháp tù đến một năm.
+ Điều 261, 262: một số trường hợp được hoãn thì hành án phát tù
hoặc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù đến một năm.

Trích đoạn Thời hạn khi phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lạ Thời hạn tạm giữ Thời hạn tạm giam THỰC TIỄN ÁP DỤNG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HèNH SỰ NĂM 2003 VỀ THỜI HẠN TỐ TỤNG GIAI ĐOẠN TRƢỚC XẫT XỬ ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỜI HẠN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status