[ Bản Full ] Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam - Pdf 29

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TÔ THỊ THU TRANG THỜI HẠN CỦA CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014 Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Tô Thị Thu Trang

4
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa

1.2.
Thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
16
1.2.1.
Khái niệm thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự
16
1.2.2.
Căn cứ quy định thời hạn các biện pháp ngăn chặn trong luật
tố tụng hình sự
18
1.2.3.
Thời hạn biện pháp ngăn chặn với các thời hạn khác có liên
quan trong quá trình giải quyết vụ án
27
1.3.
Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình
sự một số nước trên thế giới
29
1.3.1.
Luật tố tụng hình sự của Hoa Kỳ
29
1.3.2.
Luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức
31
1.3.3.
Luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga
34
5


51
2.2.4.
Quy định về thời hạn của biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
56
2.2.5.
Quy định về thời hạn của biện pháp bảo lĩnh
58
2.2.6.
Quy định về thời hạn của biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có
giá trị để bảo đảm
60
2.3.
Thực trạng áp dụng các quy định về thời hạn của các biện
pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ khi có Bộ luật tố
tụng hình sự đến nay
62
2.3.1.
Tình hình và kết quả áp dụng trong thực tiễn
62
2.3.2.
Những tồn tại, hạn chế của việc áp dụng thời hạn của các
biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
63
2.3.3.
Những khó khăn, vướng mắc, bất cập từ thực tiễn
73
6

Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỜI HẠN CỦA

Tiến hành tổng kết thực tiễn, tổ chức rút kinh nghiệm về việc
áp dụng các quy định về thời hạn của biện pháp ngăn chặn
quy định trong tố tụng hình sự
104
3.2.4.
Giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế và trao đổi kinh nghiệm
với các nước về áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng
về thời hạn của biện pháp ngăn chặn
105

KẾT LUẬN
108

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
110
7 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
CAND
: Công an nhân dân
CQĐT
: Cơ quan điều tra
TAND
: Tòa án nhân dân

nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, các quyền cơ bản của công dân
được Hiến pháp và các văn bản pháp luật ghi nhận. Do đó, khi áp dụng các
biện pháp ngăn chặn cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về căn cứ, thẩm
quyền, thủ tục và thời hạn áp dụng.
Thực tế áp dụng các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn
trong TTHS cho thấy còn nhiều vi phạm, tình trạng quá hạn tạm giữ, tạm
giam còn xảy ra, việc áp dụng thời hạn tạm giam hiện nay còn quá dài, vượt
mức quy định, thời hạn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú còn chưa
đảm bảo.v.v đã ảnh hưởng lớn các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Nguyên nhân của những vi phạm trên xuất phát từ việc các quy định của pháp
luật chưa chặt chẽ, số lượng, chất lượng cán bộ làm công tác tiến hành TTHS
còn thiếu, có nơi còn chưa chưa đáp ứng yêu cầu, chưa chú trọng bảo đảm
những quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, công tác kiểm
9
tra, giám sát còn chưa được thường xuyên, kịp thời, hiểu biết pháp luật của
người dân còn nhiều hạn chế v.v
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, cần thiết phải nghiên cứu chuyên
sâu các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật
TTHS Việt Nam hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này, và
đó cũng là lý do, luận chứng cho sự cần thiết để chúng tôi lựa chọn đề tài
"Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam"
làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Do việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn không chỉ có ý nghĩa về mặt
TTHS mà còn có vai trò lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm,
đặc biệt là xuyên suốt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự, nên đã có
nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, những khía
cạnh, phương diện khác nhau về các biện pháp ngăn chặn trong TTHS.
Hiện nay, khoa học luật TTHS trong và ngoài nước đã có nhiều công
trình khoa học nghiên cứu về các biện pháp ngăn chặn, nhưng chủ yếu chỉ đề

trình của các tác giả sau:
- Những điều cần biết về bắt, giữ, khám xét, của Phạm Quang Mỹ và
Phạm Hữu Kỳ, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 1983;
- Những điều cần biết về bắt người, tạm giữ, tạm giam đúng pháp
luật, của Phạm Quang Mỹ và Phạm Hữu Kỳ, Nhà xuất bản Pháp lý, 1993;
- Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự; của Viện nghiên cứu
khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp - 1990, 1992,
- Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, của
Viện Nhà nước và Pháp luật, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994;
- Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự, của Viện Nghiên cứu
Nhà nước và Pháp luật, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1994;
11
- Các biện pháp ngăn chặn và vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng,
của TS. Nguyễn Vạn Nguyên, Nhà xuất bản Công an nhân dân (CAND), 1995;
- Các biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, của
Nguyễn Mai Bộ, Nhà xuất bản CAND, 1997.
- Biện pháp ngăn chặn khám xét và kê biên tài sản trong Bộ luật tố
tụng hình sự, của ThS. Nguyễn Mai Bộ, 2004;
- Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, của TS. Trần
Quang Tiệp, 2005.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây cho thấy, ở nước ta
đã có nhiều công trình nghiên cứu cơ bản và trực diện về các biện pháp ngăn
chặn, căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn đối với riêng thời hạn của
các biện pháp ngăn chặn trong TTHS Việt Nam, nhìn một cách tổng quan có
thể khẳng định chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu. Ngoài ra, trong
bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về "Một số
nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" nêu rõ: "Tăng
cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ đảm bảo đúng pháp luật phát
hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ"; Nghị quyết số

dụng các biện pháp ngăn chặn; Khái niệm thời hạn biện pháp ngăn chặn, căn
cứ quy định thời hạn, thời hạn của các biện pháp ngăn chặn với các thời hạn
khác có liên quan trong quá trình giải quyết vụ án.
- Khái quát sự phát triển của các quy định về biện pháp ngăn chặn
cũng như thời hạn của các biện pháp ngăn chặn được trong lịch sử pháp luật
TTHS của nước ta từ năm 1945 đến nay để rút ra những nhận xét, đánh giá;
- Nghiên cứu các quy định về thời hạn của từng biện pháp ngăn chặn
cụ thể trong BLTTHS Việt Nam hiện hành, từ đó rút ra những nhận xét,
đánh giá;
13
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về thời hạn của
các biện pháp ngăn chặn, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế
xung quanh việc áp dụng;
- Từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy
định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong BLTTHS Việt Nam hiện
hành, cũng như những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng
các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong thực tiễn.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề thời hạn của các
biện pháp ngăn chặn trong luật TTHS Việt Nam, kết hợp với việc nghiên
cứu đánh giá tình hình áp dụng các quy định về thời hạn của các biện pháp
ngăn chặn trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ
pháp luật, cơ quan tư pháp, những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu
quả áp dụng các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong
thực tiễn.
Luận văn cũng có tham khảo những bài học kinh nghiệm lập pháp một
số nước trong khi nghiên cứu về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn.
Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng thời hạn của
các biện pháp ngăn chặn trên phạm vi cả nước.

và phát triển của các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong
pháp luật TTHS Việt Nam từ năm 1945 cho đến nay;
- Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ bức tranh về tình hình áp dụng các
quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn của các cơ quan tiến hành
tố tụng; những tồn tại, hạn chế của thực tiễn áp dụng pháp luật;
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề
xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao
15
hiệu quả áp dụng pháp luật trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và
cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
dành cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán
bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên
thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Kết quả
nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức
chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các Cơ quan điều tra
(CQĐT), Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thời hạn của các biện pháp ngăn
chặn.
Chương 2: Quy định về thời hạn biện pháp ngăn chặn trong pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Những giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả áp dụng
các quy định về thời hạn của biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự. 16

hơn, để công tác phát hiện tội phạm được nhanh chóng, chính xác, kịp thời xử
lý tội phạm và hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người
vô tội, trong một số trường hợp nhất định, pháp luật phải cho phép các cơ
quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp cưỡng chế nào đó hạn chế
quyền và lợi ích của công dân, trong đó có các biện pháp ngăn chặn.
Theo Từ điển Tiếng Việt "ngăn chặn" là "chặn lại ngay từ đầu, không
để cho gây tác hại" [55]. Theo định nghĩa của Giáo trình của Khoa Luật - Đại
học Quốc gia Hà Nội, biện pháp ngăn chặn được hiểu là biện pháp cưỡng chế
TTHS được quy định trong pháp luật TTHS, do người có thẩm quyền ở các
cơ quan tiến hành tố tụng hoặc các cơ quan khác được giao một số hoạt động
tố tụng áp dụng, công dân đối với bị can, bị cáo, người phạm tội tang, người
có lệnh truy nã hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành
vi phạm tội, không để họ cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục
phạm tội cũng như nhằm đảo bảo cho việc thi hành án [10, tr. 248].
1.1.1.2. Mục đích của biện pháp ngăn chặn
Mục đích của các biện pháp ngăn chặn là không cho tội phạm tiếp tục
xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để cho người phạm tội tiếp tục thực hiện
tội phạm hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trốn tránh sự trừng phạt
của pháp luật. Đồng thời, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn nhằm tạo
điều kiện thuận lợi để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án như không để
người phạm tội có thể xóa bỏ dấu vết phạm tội, tiêu hủy chứng cứ, thông cung
giữa những người phạm tội hoặc với người làm chứng, đảm bảo sự có mặt của bị
can, bị cáo, bị án khi có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng… Như vậy, biện
pháp ngăn chặn không nhằm mục đích trừng trị như hình phạt mà nhằm mục đích
phòng ngừa và có thể làm giảm hậu quả của tội phạm gây ra, để làm rõ sự thật
khách quan của vụ án, mặc dù khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn cũng có thể
hạn chế quyền tự do thân thể, tự do đi lại của người bị áp dụng. Do đó, mọi nhận
thức áp dụng biện pháp ngăn chặn để trấn áp, trừng trị người bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn đều là không đúng; như quan niệm của nhà Luật học I.I. Karpes:
18

- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều
tra, truy tố, xét xử: Những biểu hiện của việc gây khó khăn cho công tác điều
tra, truy tố, xét xử có thể là bị can, bị cáo trốn khỏi nơi cư trú; nhiều lần
không có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng mà không có
lý do chính đáng; xóa bỏ dấu vết tội phạm; tiêu hủy chứng cứ; làm thay đổi tài
liệu liên quan đến tội phạm; mua chuộc người bị hại, người làm chứng, người
giám định, người phiên dịch; thông đồng cấu kết với nhau đối phó lại hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử… Căn cứ này được hiểu là bị can, bị cáo đã có
hành vi gây cản trở hoặc có khả năng thực hiện ngay tức khắc việc gây cản trở
cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Đối tượng để áp dụng căn cứ này
thường là bị can, bị cáo, người bị truy nã; Cũng có thể áp dụng đối với người
chưa có quyết định khởi tố bị can như một người thực hiện tội phạm và sau đó
bỏ trốn hoặc sau khi phát hiện dấu vết tội phạm trên người hoặc nơi ở của
người bị nghi thực hiện tội phạm và có căn cứ cho rằng người đó trốn hoặc
tiêu hủy chứng cứ, cụ thể là những trường hợp bắt khẩn cấp hoặc phạm tội
quả tang theo quy định của BLTTHS.
- Để đảm bảo thi hành án: Thi hành án là giai đoạn cuối cùng của
TTHS, phát huy hiệu lực của bản án được thi hành trong thực tế. Việc cản trở
thi hành án được thể hiện: bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng, không có nghề
nghiệp hoặc bị cáo có nhân thân xấu như có tiền án, tiền sự, đối tượng côn đồ
hung hãn,… Khi có căn cứ cho rằng bị cáo cản trở việc thi hành án thì có thể
áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn thích hợp như: Tạm giam; Cấm đi
khỏi nơi cư trú; Bảo lãnh; Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
1.1.1.4. Ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn
Thứ nhất, các biện pháp ngăn chặn thể hiện sự chuyên chính của nhà
nước XHCN trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm: Tội phạm trực tiếp
hoặc hoặc gián tiếp xâm hại đến sự bền vững và ổn định của chế độ nhà nước,
chế độ kinh tế - chính trị và xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tự do,
20
danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân. Do đó, Nhà nước ta coi việc đấu

tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Mỗi biện pháp ngăn chặn có những
quy định khác nhau về đối tượng, thẩm quyền, thủ tục áp dụng, do đó tùy
từng trường hợp cụ thể để lựa chọn biện pháp ngăn chặn phù hợp sẽ mang lại
ý nghĩa tích cực và hiệu quả trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.
1.1.2. Thời hạn tố tụng hình sự
Pháp luật về TTHS đều có quy định về thời hạn trong từng giai đoạn tố
tụng cụ thể nhằm đảm bảo các hành vi tố tụng được thực hiện một cách chính
xác, khách quan. Trong giai đoạn trước khi khởi tố vụ án hình sự, BLTTHS đã
quy định về thời hạn giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm, đảm bảo mọi tội
phạm được phát hiện kịp thời để từ đó quyết định khởi tố hoặc không khởi tố
vụ án hình sự. Theo quy định tại Điều 103 BLTTHS năm 2003, thời hạn này là
hai mươi ngày đối với sự việc đơn giản, hai tháng đối với vụ việc phức tạp. Thời
hạn điều tra vụ án hình sự được quy định tại Điều 119 BLTTHS năm 2003
như sau: Không được quá bốn tháng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết
thúc điều tra. Trong trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ
án, trong thời hạn mười ngày trước khi hết hạn điều tra, CQĐT phải có văn bản
đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra. Trong suốt giai đoạn điều tra, Viện
kiểm sát thực hiện chặt chẽ việc kiểm sát điều tra của CQĐT, đồng thời thực
hiện một số hoạt động điều tra trong thời hạn mà pháp luật cho phép v.v
Có thể thấy rằng, ở mỗi giai đoạn TTHS, pháp luật đều quy định chặt
chẽ một thời hạn nhất định, không có hoạt động tố tụng nào lại không bị ràng
buộc bởi một thời hạn cụ thể. Việc quy định thời hạn tố tụng nhằm để các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có ý thức tinh thần trách
nhiệm về các hoạt động của mình đảm bảo đúng thời gian quy định, chống lại
sự tùy tiện và những biểu hiện vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của những
người tham gia tố tụng.
22
Theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành: Thời hạn TTHS bao gồm
hai loại: thời hạn của thủ tục tố tụng và thời hạn của các biện pháp ngăn chặn.
Bộ luật tố tụng hình sự quy định về thời hạn của thủ tục tố tụng cụ thể

BLTTHS năm 2003 lại không quy định khái niệm về thời hạn TTHS. Điều 96
BLTTHS năm 2003 chỉ quy định riêng về cách tính thời hạn trong TTHS. Từ
những quy định tại Điều 96 BLTTHS và từ thực tiễn hoạt động TTHS có thể
đưa ra khái niệm về thời hạn TTHS như sau: Thời hạn trong TTHS chính là
giới hạn, thời gian dành cho các chủ thể của TTHS thực hiện các quyền và
nghĩa vụ pháp lý của mình theo quy định của pháp luật; là khoảng thời gian
được ấn định để chủ thể TTHS phải thực hiện hoặc kết thúc một hoạt động tố
tụng nào đó và thời hạn cũng là một tiêu chí để xác định trách nhiệm của các
chủ thể TTHS.
1.2. THỜI HẠN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ
1.2.1. Khái niệm thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự
Từ phân tích ở trên cho thấy, thời hạn của các biện pháp ngăn chặn
trong TTHS thuộc phạm vi, giới hạn của thời hạn trong TTHS. Các quy định
nghiêm ngặt của pháp luật TTHS về thời hạn đối với từng biện pháp ngăn
chặn là thực sự cần thiết để đảm bảo việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
được chính xác, khách quan và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của những
người tham gia tố tụng. Cũng như các loại thời hạn tố tụng khác, thời hạn của
các biện pháp ngăn chặn được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác
để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố
tụng thực hiện việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với cá nhân, tổ chức,
người bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn do BLTTHS quy định.
Theo quy định của BLTTHS thì các biện pháp ngăn chặn trong
TTHS sự bao gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh,
24
đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Vì vậy thời hạn của các biện
pháp ngăn chặn trong TTHS chính là thời gian, giới hạn của việc bắt, tạm
giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá
trị để bảo đảm.

trái pháp luật. Do đó, để quy định thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong
TTHS, cần phải dựa trên những căn cứ sau:
* Tính chất nghiêm trọng của tội phạm, mức độ phức tạp của vụ án
Căn cứ này dựa trên việc quy định những hành vi nào là nguy hiểm
đáng kể cho xã hội, xâm phạm đến những quan hệ xã hội được luật hình sự
bảo vệ thì mới được coi là tội phạm. Khác với những hành vi không phải là
tội phạm, được quy định trong các đạo luật khác. Khi đã xác định được hành
vi là tội phạm, phải căn cứ vào mức độ gây nguy hại cho xã hội được quy
định trong Bộ luật hình sự (BLHS) về 4 loại tội: tội phạm ít nghiêm trọng,
tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng. Ví dụ, thời hạn tạm giam bị can để điều tra đối với tội phạm ít
nghiêm trọng là không quá hai tháng, tội phạm nghiêm trọng là không quá ba
tháng, tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng là không quá bốn
tháng [47, khoản 1 Điều 120]. Việc quy định các thời hạn của biện pháp ngăn
chặn căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm, mức độ phức tạp của vụ
án có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng. Đối với những vụ án có tính
chất nghiêm trọng, phức tạp, có đồng phạm, do nhiều người thực hiện, gây
nguy hiểm lớn cho xã hội,… thì cần thiết phải tiến hành nhiều hoạt động điều
tra để xác minh, thu thập chứng cứ, do đó, thời hạn tạm giam để điều tra phải
dài hơn để đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng có thể thực hiện đủ các
hoạt động điều tra cần thiết, tìm ra sự thật khách quan của vụ án, chứng minh
được tội phạm và người phạm tội.

Trích đoạn Thời hạn biện phỏp ngăn chặn với cỏc thời hạn khỏc cú liờn quan trong quỏ trỡnh giải quyết vụ ỏn Luật tố tụng hỡnh sự của Hoa Kỳ Luật Tố tụng hỡnh sự của Cộng hũa Liờn bang Đức Luật tố tụng hỡnh sự của Liờn bang Nga Giai đoạn từ sau Cỏch mạng thỏng Tỏm năm 1945 cho đến khi Bộ luật tố tụng hỡnh sự Việt Nam đƣợc ban hành lần đầu (năm 1988)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status