TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
----
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011 – 2015)
Đề tài:
GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA BẢN GHI ÂM,
GHI HÌNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM
Cán bộ hƣớng dẫn:
ThS. Mạc Giáng Châu
Bộ môn Luật Tƣ pháp
Sinh viên thực hiện:
Phan Tấn Khánh Nguyên
MSSV: 5117332
Lớp: Luật Tƣ Pháp
Cần Thơ, tháng 12/2014
Nhận xét của giảng viên hƣớng dẫn
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
thu thập chứng cứ và quyết định có hay không khởi tố vụ án hình sự ................... 22
2.1.2.2 Ảnh hưởng đến tâm lý lấy lời khai của bị can, làm cho bị can phải khai
đúng sự thật, tránh trường hợp cho khẩu cung giả ................................................23
2.1.2.3 Không bỏ qua những tình tiết quan trọng trong vụ án ............................... 25
2.1.3 Bản ghi âm, ghi hình phải được thu thập theo trình tự thủ tục luật định ....26
2.2 Những bản ghi âm, ghi hình có giá trị pháp lý .................................................... 28
2.2.1 Điều kiện để bản ghi âm, ghi hình có giá trị pháp lý .....................................28
2.2.1.1 Bản ghi âm, ghi hình phải có nguồn gốc rõ ràng .......................................28
2.2.1.2 Bản ghi âm, ghi hình phải được giám định ................................................30
2.2.2 Những bản ghi âm, ghi hình được sử dụng để giải quyết vụ án hình sự ......32
2.2.2.1 Bản ghi âm, ghi hình ghi lại quá trình vụ án đã xảy ra.............................. 32
2.2.2.2 Bản ghi âm, ghi hình do cơ quan điều tra ghi lại trong quá trình hỏi cung
bị can và thực hiện công tác điều tra .....................................................................36
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH TRONG TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ..........................................42
3.1 Tồn tại pháp luật và một số kiến nghị ..................................................................42
3.1.1 Một số tồn tại pháp luật .................................................................................... 42
3.1.2 Kiến nghị ...........................................................................................................46
3.2 Về mặt thực tiễn sử dụng bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam
........................................................................................................................................48
3.2.1 Thực tiễn và một số bất cập..............................................................................48
3.2.2 Hướng giải quyết .............................................................................................. 55
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 57
Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
niệm, đặc điểm của bản ghi âm, ghi hình. Sau đó, từ những quy định của pháp luật về
nguồn của chứng cứ để làm rõ giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình
sự Việt Nam. Và từ những quy định của pháp luật khi áp dụng vào thực tế, ngƣời viết
thấy vẫn còn một số bất cập trong việc áp dụng nên đã đƣa ra một số kiến nghị hoàn thiện
pháp luật, hƣớng giải quyết, khắc phục những hạn chế đó.
GVHD: Mạc Giáng Châu
1
SVTH: Phan Tấn Khánh Nguyên
Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam
3. Mục đích nghiên cứu
Về mục đích nghiên cứu đề tài “Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” là để tìm hiểu và phân tích về các bản ghi âm, ghi
hình có giá trị nhƣ chứng cứ để chứng minh tội phạm hay không, đồng thời tìm hiểu các
quy định của pháp luật và thực tiễn khi áp dụng các bản ghi âm, ghi hình vào các vụ án
hình sự vẫn còn những bất cập. Từ đó, ngƣời viết đƣa ra những hƣớng giải quyết để khắc
phục, nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật để pháp luật Việt Nam đƣợc chặt chẽ hơn,
giúp cho ngƣời dân cũng nhƣ các cơ quan tiến hành tố tụng nắm đƣợc quy định của pháp
luật một cách rõ ràng hơn và áp dụng vào thực tiễn đƣợc thuận lợi, nhanh chóng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong bài viết này, ngƣời viết đã sử dụng các phƣơng pháp nhƣ sau: thu thập, tổng
hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài nhƣ các văn bản quy phạm pháp luật, báo mạng và
các tài liệu khác. Và từ những tài liệu đó, ngƣời viết đã chọn ra những tài liệu liên quan
đến đề tài nghiên cứu của mình để sử dụng trong bài viết. Trong quá trình viết, ngƣời viết
đã sử dụng các phƣơng pháp phân tích luật viết, giải thích và cho ví dụ minh họa để làm
rõ vấn đề trong bài viết của mình.
5. Bố cục đề tài
thể dựa vào chức năng của bản ghi âm để đƣa ra định nghĩa. Trƣớc tiên ta sẽ tìm hiểu hai
từ ngữ quan trọng đó là “ghi” và “âm”.
“Ghi” là một động từ, đó là việc thu lại, ghi chép, ghi nhớ, lƣu giữ lại một sự vật,
sự việc nào đó đã từng xảy ra vào một bộ nhớ nào đó. Việc làm này để nhằm lƣu trữ, bảo
quản để sau này có cần dùng đến thì có thể lấy ra để dùng.
Còn “âm” là một danh từ, đó là những âm thanh, tiếng động đƣợc phát ra trong đời
sống hằng ngày. Âm thanh là một hiện tƣợng vật lý do kết quả dao động của vật thể đàn
hồi trong môi trƣờng không khí. Hiện tƣợng này gọi là sóng âm, chúng kích thích vào cơ
quan não bộ của con ngƣời làm cho chúng ta có cảm giác về âm thanh.1 Âm thanh đƣợc
phát ra từ con ngƣời, sinh vật. Chẳng hạn nhƣ tiếng nói chuyện của con ngƣời, tiếng gáy
của con gà, tiếng lá cây bị gió thổi xào xạc, tiếng xe chạy,... Âm thanh mà con ngƣời có
thể nghe đƣợc chỉ giới hạn trong một phạm vi và cƣờng độ nhất định, chẳng hạn nhƣ tần
số âm thanh con ngƣời có thể nghe đƣợc là trong khoảng từ 20 Hz đến 20 kHz.
Từ những phân tích trên có thể hiểu ghi âm là hoạt động thu lại những âm thanh
đã đƣợc phát ra trên thực tế trong phạm vi, cƣờng độ nhất định. Vậy bản ghi âm là kết
quả của hoạt động ghi âm, đã thu lại những âm thanh đã được phát ra trên thực tế, sau
đó sẽ được tái hiện lại một cách tương đối với cường độ của âm thanh thu được. Bản ghi
âm thƣờng đƣợc lƣu trong các thiết bị đĩa, băng từ gắn trong máy ghi âm, điện thoại, máy
tính… Sau khi ghi âm thì có thể dùng chức năng “phát lại” của các thiết bị này để nghe
lại những gì đã đƣợc thu trƣớc đó. Nhƣng cũng có thể là bản ghi âm đó đã bị chỉnh sửa
về giọng nói, hoặc bị cắt, ghép, hoặc là ghi âm không đầy đủ nội dung làm phản ánh sai
1
Đặng Đăng Phƣớc, Âm thanh và các thuộc tính cơ bản,
[truy cập ngày 09-10-2014].
GVHD: Mạc Giáng Châu
3
sau đó có thể tái hiện lại bằng các thiết bị có thể phát lại đƣợc âm thanh.
1.1.1.2 Đặc điểm
Thứ nhất, bản ghi âm có thể nghe lại đƣợc nhiều lần, sau khi ghi lại thì bản ghi
âm đó đã đƣợc lƣu lại trong bộ nhớ của thiết bị, nên nếu ta không xóa thì muốn mở lại để
nghe khi nào cũng đƣợc.
Với sự phát triển của các thiết bị ngày nay về ghi âm, bản ghi âm lại các âm thanh
đƣợc phát lại là khá dễ dàng. Việc này có ý nghĩa giúp ta nghe thật kĩ những vấn đề mấu
chốt trong đoạn ghi âm, không bỏ qua những âm thanh quan trọng và giúp cho việc giải
quyết các vụ án hình sự của các cơ quan có thẩm quyền đƣợc dễ dàng hơn khi phát lại
nhiều lần thì các cơ quan điều tra sẽ dễ dàng nghe kĩ hay lúc nghe đoạn nào không rõ thì
GVHD: Mạc Giáng Châu
4
SVTH: Phan Tấn Khánh Nguyên
Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam
cơ quan điều tra có thể bấm dừng lại ngay đoạn ghi âm đó để nghe rõ ràng hơn, nắm bắt
đƣợc những tình tiết quan trọng nhất của vụ án.
Có những đoạn ghi âm trong những hoàn cảnh bên ngoài không thuận lợi tác động
vào bản ghi âm hay do tác động của những âm thanh phụ khác trong lúc ghi âm đó khiến
cho những âm thanh ta nghe đƣợc không đƣợc rõ ràng hay có thể dẫn đến nhầm lẫn trong
việc tiếp nhận những âm thanh đó có thể làm ngƣời nghe hiểu sai lệch về nội dung của
những âm thanh đó. Cho nên, các thiết bị ghi âm hiện nay ngoài việc thu âm thì còn có
chức năng cho ta nghe lại nhiều lần những âm thanh đó, với chức năng của các thiết bị
ghi âm hiện nay giúp cho ta nghe lại nhiều lần là vô cùng quan trọng nó giải quyết đƣợc
những sai lầm, nhầm lẫn khi ta nghe các đoạn ghi âm mang đến tính chính xác cao cho
các chủ thể trong bản ghi âm hay cho ngƣời nghe những bản ghi âm không hiểu nhằm
SVTH: Phan Tấn Khánh Nguyên
Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam
cuộc nói chuyện đùa giỡn với con họ để giữ làm kỉ niệm sau này nhƣng bản ghi âm mà
ngƣời đó thu lại lại nghe không đƣợc rõ ràng vì hoàn cảnh xung quanh là khá ồn ào, lẫn
nhiều tạp tiếng khác nhau. Do đó, mà ngƣời này không thu đƣợc những âm thanh mà
mình mong muốn ghi lại đƣợc. Nhƣng nếu ngƣời này để máy ghi âm gần với mình hơn
thì khả năng nghe rõ sẽ cao hơn. Vậy nên phạm vi và cƣờng độ âm thanh quyết định một
phần không nhỏ chất lƣợng âm thanh thu đƣợc. Nếu lúc ghi âm để máy ghi âm càng gần,
nói chuyện càng lớn thì âm thanh thu đƣợc sẽ càng rõ ràng và dễ nghe hơn.
Tuy nhiên, chỉ ghi lại trong một phạm vi nhất định thì sẽ gây khó khăn trong việc
xác định hoàn cảnh thực tế xung quanh bản ghi âm. Chẳng hạn nhƣ cơ quan điều tra
muốn điều tra chỗ con tin bị bắt giữ, nhƣng kẻ phạm tội chỉ gửi bản ghi âm giọng nói của
con tin trong phòng kín, do đó không thể nghe đƣợc hoặc là nghe đƣợc rất nhỏ những tạp
âm bên ngoài, nên rất khó xác định nơi giam giữ con tin gần với nơi nào. Vậy nên, tùy
vào các thiết bị ghi âm sẽ quyết định đến việc thu âm khác nhau. Nhƣ có những máy ghi
âm có tính năng hiện đại hơn có thể thu lại những âm thanh ở những khoảng cách xa hơn
hay có khả năng lọc âm tốt hơn, nên trong việc ghi âm thì các thiết bị ghi âm nhƣ thế nào
cũng là một phần quan trọng. Nhƣng dù là thiết bị nào thì phạm vi ghi âm và cƣờng độ
âm thanh lúc ghi âm cũng là một trong những yếu tố quan trong nhất, nó còn quyết định
chất lƣợng âm thanh ta thu đƣợc. Nhƣ đã nói ở trên máy ghi âm không thể ghi lại những
âm thanh ở phạm vi quá xa đối với thiết bị ghi âm đó hay nếu cƣờng độ âm thanh quá
nhỏ thì dù ta để gần cũng chƣa chắc thu lại đƣợc rõ ràng những âm thanh mà mình muốn
lƣu lại. Phạm vi ghi âm của các thiết bị ghi âm trong một phạm vi ghi âm không phải lúc
nào cũng giống nhau còn tùy theo điều kiện bên ngoài. Nhƣ nếu một máy ghi âm có thể
thu lại những âm thanh đƣợc con ngƣời phát ra bình thƣờng trong phạm vi mƣời mét
chẳng hạn nhƣng nếu trong phạm vi đó có sự ngăn cách của một bức tƣờng thì những âm
thanh thu đƣợc không nhƣ dự tính nếu so với việc thu âm mà trong phạm vi đó không có
vật cản, chẳng hạn nhƣ hai phòng nằm sát nhau đƣợc ngăn cách bởi một bức tƣờng cách
thanh vốn có để đƣợc những âm thanh theo họ mong muốn có đƣợc, có thể có những
ngƣời chỉ muốn chỉnh sửa, cắt ghép, lƣu lại hay xóa bỏ không vì mục đích nào khác hay
không làm ảnh hƣởng đến ngƣời khác nhƣng đây là những đặc điểm có thể tạo cơ hội cho
những ngƣời có mục đích xấu, họ có thể chỉnh sửa bản ghi âm không đúng với sự thật,
cắt ghép âm thanh vu khống ngƣời khác, xóa những bản ghi âm quan trọng của ngƣời
khác,… nên những việc làm nhƣ vậy sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra tội phạm của
các cơ quan pháp luật, vì vậy việc xác định rõ ràng những bản ghi âm là vô cùng quan
trọng. Một bản ghi âm khi bị chỉnh sửa, cắt ghép thì không phải toàn bộ những âm thanh
trong đó điều không chính xác, có thể chính xác một phần hay gần toàn bộ bản ghi âm
chỉ thay đổi một số chi tiết nhỏ nhƣ bản ghi âm không có đƣợc âm thanh trong, dễ nghe
thì ngƣời chỉnh sửa có thể làm cho những âm thanh trong hay dễ nghe hơn nhƣng vẫn
không làm thay đổi nội dung của bản ghi âm đó. Tuy nhiên việc chỉnh sửa nhƣ vậy thì ích
nhiều cũng không đảm bảo đƣợc sự chính xác của những bản ghi âm đó.
Ví dụ: Khi gọi điện đặt số đề, tên Giàu và đồng bọn đã chuyển file vào máy tính
và dùng phần mềm công nghệ cao sửa giọng nói khớp với giọng mà bọn chúng đặt gọi
điện trƣớc đó. Nếu “đối tác” không chung chi thì tên giàu và đồng bọn sẽ dùng hung khí
có sẵn trên xe thanh toán. Ngày 27/5, Viện Kiểm sát Nhân dân Thị xã Thủ Dầu Một cho
biết đã phê chuẩn quyết định khởi tố, bắt tạm giam 11 đối tƣợng trong vụ “lừa đề” bằng
công nghệ cao, gây náo loạn thị xã Bình Dƣơng vào ngày 9/5 vừa qua để điều tra làm rõ
hành vi “cƣỡng đoạt tài sản”.2 Từ ví dụ này có thể thấy rằng việc chỉnh sửa giọng nói là
không có gì khó khăn đối với Giàu, chỉ cần có phần mềm công nghệ cao là có thể làm
đƣợc.
Qua những đặc điểm này có thể thấy đây là một trong những đặc điểm khá quan
trọng của các bản ghi âm, nó có thể tạo điều kiện cho tội phạm làm sai sự thật của các vụ
2
Quỳnh Mai, Khởi tố băng “lừa đề” gây náo loạn Bình Dương, Báo điện tử Việt Báo, [truy cập ngày 15-9-2014].
GVHD: Mạc Giáng Châu
bản ghi âm đó để tống tiền những ngƣời bị ghi âm một hoặc nhiều lần do họ có thể sao
chép, nhân bản những bản ghi âm đó. Nhƣ một ngƣời khi có đƣợc một bản ghi âm về bí
mật đời tƣ của một ngƣời khác họ có thể tống tiền ngƣời đó nhiều lần bằng cách nhân bản
ghi âm đó ra làm nhiều bản. Nhƣ vậy, ngƣời bị tống tiền sẽ bị phụ thuộc vào ngƣời tống
tiền và chịu thiệt hại về bản thân nhiều lần. Do đó việc sao chép, nhân bản là hết sức
nguy hiểm trong nhiều trƣờng hợp có những ngƣời vì lợi ích cá nhân mà làm ảnh hƣởng
đến lợi ích của ngƣời khác. Việc sao chép, nhân bản là không có hại nó chỉ tùy vào mục
đích của ngƣời sao chép, nhân bản đó. Việc sao chép những bản ghi âm thƣờng là do
những ngƣời không phải là ngƣời ghi lại bản ghi âm đó mà thƣờng là những ngƣời muốn
có những bản ghi âm đó nên họ muốn sao chép lại để lƣu trữ nhƣng cũng có những ngƣời
vì lợi ích bản thân mà sao chép lại để đem lại lợi ích cho bản thân mà làm ảnh hƣởng đến
ngƣời khác, nhƣ sao chép bí mật đời tƣ của ngƣời khác do vô tình phát hiện đƣợc bản ghi
âm bí mật của ngƣời khác. Còn nhân bản những bản ghi âm thƣờng do những ngƣời thu
GVHD: Mạc Giáng Châu
8
SVTH: Phan Tấn Khánh Nguyên
Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam
lại đƣợc bản ghi âm muốn nhân lên thành nhiều bản có thể để lƣu lại hay đem cho ngƣời
khác nghe hay cũng có thể vì một mục đích xấu nào đó. Nói tóm lại, bản ghi âm có thể
sao chép hay nhân bản là một đặc điểm có lợi cho ngƣời sử dụng, nó đem đến sự an toàn
cho việc giữ gìn những bản ghi âm nhƣng việc sao chép, nhân bản cần phải cẩn trọng vì
nó có thể là cơ hội cho những ngƣời có ý đồ xấu có thể lợi dụng để gây hại cho những
ngƣời có liên quan đến bản ghi âm đó.
1.1.2 Khái niệm bản ghi hình
1.1.2.1 Định nghĩa
Sự phát triển hơn nữa trong nhu cầu ngày càng hiện đại của con ngƣời đó là không
SVTH: Phan Tấn Khánh Nguyên
Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam
là bản ghi hình chẳng những lƣu lại hình ảnh mà đồng thời còn có thể lƣu lại đƣợc những
âm thanh.
Vậy gần giống nhƣ hoạt động ghi âm, ghi hình là hoạt động lƣu lại những hình
ảnh của thế giới vật chất trong một phạm vi ánh sáng nhất định mà các thiết bị ghi hình
có thể lƣu lại đƣợc. Những bản ghi hình có thể là những bức ảnh, đoạn video ghi lại
những hình ảnh nào đó phản ánh đúng những hình ảnh lúc nó đƣợc ghi lại. Với những
bản ghi hình có thể chia làm hai loại là những bản ghi hình tĩnh nhƣ những bức ảnh đƣợc
chụp từ máy chụp ảnh và những bản ghi hình động nhƣ là một đoạn video ca nhạc của
một ca sĩ nào đó. Những bản ghi hình động khác với những bản ghi hình tĩnh là đối với
những bản ghi hình tĩnh ta chỉ thấy những hình ảnh đứng yên cố định còn đối với những
hình ảnh động ta có thể thấy sự chuyển động của các hình ảnh thu đƣợc. Và quan trọng
hơn những bản ghi hình động còn có thể nghe đƣợc những âm thanh, tiếng động bên
trong bản ghi hình đó lúc ghi lại những hình ảnh hoạt động đó. Với bản ghi hình những
hình ảnh đƣợc tái hiện lại là những hình ảnh trong quá khứ lúc ghi hình, những hình ảnh
này muốn đƣợc ghi lại cần có một phạm vi nhất định mà thiết bị ghi hình có thể ghi lại
đƣợc hay lƣợng ánh sáng cho phép ta ghi lại những hình ảnh đó. Bất cứ hình ảnh nào ở
xung quanh ta đều có thể ghi lại nếu phạm vi và ánh sáng cho phép nên việc lƣu lại
những hình ảnh là khá dễ dàng vì vậy việc ghi hình hiện nay là khá phổ biến, ta có thể ghi
lại hình ảnh, hoạt động con ngƣời, động vật,… với những hình ảnh tĩnh và hình ảnh
động. Hình ảnh động thể hiện chi tiết các hoạt động hình ảnh đƣợc lƣu lại hơn so với
hình ảnh tĩnh vì hình ảnh tĩnh chỉ ghi lại đƣợc những hình ảnh đứng yên và quan trọng
hơn những bản ghi hình tĩnh thì không ghi lại đƣợc những âm thanh so với những bản ghi
hình động. Vì vậy, bản ghi hình động có thể nói thể hiện tính chính xác cao hơn so với
bản ghi hình tĩnh. Nhƣ một bức ảnh bình thƣờng ta chỉ thấy đƣợc một hình ảnh cụ thể
đứng yên không thể biết đƣợc những sự vật, sự việc xảy ra lúc đó. Còn đối với một đoạn
từ đó lƣu lại những khoảnh khắc đó vào các thiết bị ghi hình. Ngoài ra, các thiết bị ghi lại
hình ảnh còn có chức năng ghi lại những âm thanh phát ra đồng thời với những hình ảnh
ta thu đƣợc lúc đó. Do đó rất dễ dàng cho việc xem lại để biết đầy đủ những thông tin về
hoàn cảnh xảy ra sự việc lúc đó. Ví dụ: Ông K.L., ở tỉnh Đắk Lắk tự bỏ tiền sắm thiết bị
ghi lại hình ảnh phá rừng, khai thác gỗ lậu để gửi đến cơ quan chức năng và báo chí. Và
từ những chứng cứ ông K.L. thu đƣợc, nhiều vụ phá rừng, khai thác gỗ lậu đã bị phanh
phui. Từ những chứng cứ của ông K.L. cung cấp đầu năm 2014, cơ quan chức năng đã xử
lý hình sự hành vi nhận 10 triệu đồng hối lộ của đối tƣợng chở gỗ trái phép đối với một
xã đội phó. Trong những vụ này ông K.L. đã quay cảnh gỗ lậu.3 Từ ví dụ này có thể thấy
các thiết bị ghi hình có thể dể dàng ghi lại những hình ảnh quan trọng xảy ra trên thực tế
lúc sự việc xảy ra, qua những bản ghi hình đó ta có thể nắm bắt đƣợc tình tiết của vụ án
xem những ai có liên quan và mau chóng tìm ra đƣợc tội phạm. Với việc lƣu lại đƣợc
những hình ảnh, hoạt động hay diễn biến những sự vật sự việc đã xảy ra sẽ giúp cho mọi
ngƣời không mất đi những hình ảnh cần nhớ, lƣu lại đƣợc những hình ảnh đó trong các
thiết bị an toàn mà họ sẽ không bị mất đi. Khi cần xem lại thì chỉ việc mở các thiết bị lƣu
hình ảnh thì sẽ xem lại đƣợc một cách dễ dàng, những sự vật, sự việc thì xảy ra muôn
màu muôn vẻ, chúng ta không thể nào nhớ hết tất cả các hình ảnh của sự vật sự việc đƣợc
vì thế việc các thiết bị ghi hình lƣu lại đƣợc những hình ảnh sẽ giảm tải những hình ảnh
cần nhớ của con ngƣời, mà chúng ta còn có thể xem lại đầy đủ những chi tiết về những
hình ảnh, âm thanh mà ta thu đƣợc trong các bản ghi hình. Hay đối với các vụ án vật
chứng là vô cùng quan trọng nhƣng không phải vật chứng nào ta cũng có thể thu thập để
đem vào hồ sơ vụ án đƣợc, theo Khoản 1 Điều 75 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì
“Vật chứng cần được thu thập kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng vào biên bản
và đưa vào hồ sơ vụ án. Trong trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì
phải chụp ảnh và có thể ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án. Vật chứng phải được niêm
3
Trung Dũng, Bí mật ghi hình lâm tặc phá rừng, Báo điện tử Tuổi trẻ, 2014, [truy cập ngày 1-11-2014].
GVHD: Mạc Giáng Châu
thể hiện hết toàn bộ sự vật, sự việc lúc ghi lại hình ảnh đó.
Còn về bản ghi hình động, có thể nói đó là những hình ảnh cùng với cả sự chuyển
động của chính những hình ảnh đó, có khi còn kèm theo những âm thanh. Tức là khi
dùng máy ghi hình có chức năng quay (còn đƣợc gọi là máy quay) ghi lại hình ảnh trong
một khoảng thời gian xác định (thời gian quay tùy theo ý muốn của con ngƣời và tùy theo
bộ nhớ của máy cho phép). Sau đó, khi mở lại xem thì toàn bộ quá trình mà những hình
ảnh ghi đƣợc cử động nhƣ thế nào, di chuyển nhƣ thế nào hay diễn biến của các sự vật,
sự việc nhƣ thế nào đều đƣợc tái hiện một cách đầy đủ và chính xác. Cho nên, khi ta xem
lại những hình ảnh động này sẽ giúp ta nhìn nhận đúng sự vật, sự việc lúc đƣợc ghi lại,
độ chính xác sẽ cao hơn. Nhƣ ở đặc điểm thứ nhất đã nói, nếu máy ảnh chỉ chụp lại đƣợc
một hình ảnh cụ thể nhƣ hình ảnh chặt phá rừng thì ngƣời xem không thể nào nhận định
một cách chính xác đƣợc tình hình lúc đó nhƣ thế nào. Nhƣng nếu là máy quay thì có thể
quay lại tất cả quá trình hai ngƣời đó đã chặt phá rừng. Nhƣ vậy thì nhận định sẽ ít bị sai
lệch hơn. Với những bản ghi hình động ta có thể xem lại cả quá trình sự vật sự việc lúc ta
GVHD: Mạc Giáng Châu
12
SVTH: Phan Tấn Khánh Nguyên
Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam
ghi hình sẽ làm cho ta nắm bắt đƣợc đầy đủ những tình tiết, hình ảnh, âm thanh lúc ghi
hình lại tránh những sai lầm nhận định khách quan về một vấn đề nào đó. Những bản ghi
hình động giống nhƣ ta đang tái hiện lại toàn bộ những gì đã xảy ra lúc ta ghi hình không
giống nhƣ hình ảnh tĩnh chỉ biết đƣợc một tình tiết nào đó lúc xảy ra những sự vật, sự
việc đó.
Thứ ba, bản ghi hình cũng có những đặc điểm cơ bản nhƣ bản ghi âm có thể xem
lại nhiều lần, chỉ có thể ghi lại trong phạm vi nhất định, bản ghi hình có thể đƣợc chỉnh
sửa, cắt ghép, lƣu lại, xóa bỏ, nhân bản sao chép tùy theo mục đích ngƣời sử dụng,…
13
SVTH: Phan Tấn Khánh Nguyên
Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam
ghi hình việc chỉnh sửa, cắt ghép, sao chép,… là điều dễ dàng thì việc xác định tính đúng
đắn của các hình ảnh trong các bản ghi hình là rất cần thiết.
Kết luận chung về bản ghi âm, ghi hình: Bản ghi âm, ghi hình là kết quả của các
hoạt động ghi âm, ghi hình từ các thiết bị có thể thu lại những âm thanh hình ảnh trong
quá khứ, sau đó tái hiện lại những gì đã được ghi âm, ghi hình. Tuy nhiên, thì không phải
những bản ghi âm, ghi hình lúc nào những thể hiện chính xác những âm thanh hình ảnh
đã đƣợc thu lại trong quá khứ lúc đƣợc ghi lại. Có thể do nhiều nguyên nhân nhƣ là do
bản thân các thiết bị ghi âm, ghi hình nhƣng quan trọng hơn là do sự chỉnh sửa, cắt
ghép,… của con ngƣời. Những bản ghi âm, ghi hình có nhiều đặc điểm nên có thể dể
dàng làm thay đổi nó để phù hợp với mục đích của ngƣời sử dụng. Những bản ghi âm,
ghi hình có thể đƣợc chỉnh sửa, cắt ghép, sao chép,… nên việc xác định tính đúng đắn,
khách quan của nó là rất khó khăn. Vậy nên, nếu những bản ghi âm, ghi hình là cơ sở để
giải quyết vụ án hình sự cần đƣợc xem xét, đánh giá một cách rõ ràng và chính xác để
tránh những sai lầm trong giải quyết vụ án dẫn đến án oan cho những ngƣời vô tội và
không bỏ lọt tội phạm đảm bảo tính công bằng, khách quan trong xã hội. Vì vậy, bản ghi
âm, ghi hình trong vụ án có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam.
1.2 Vai trò của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.1 Bản ghi âm ghi hình có thể mang giá trị như những chứng cứ trong các vụ
án hình sự
Do sự phát triển của xã hội hiện nay, các vụ án hình sự cũng ngày một diễn ra
phức tạp hơn, tính chất ngày càng nghiêm trọng hơn và quan trọng hơn là các tội phạm
ngày càng thực hiện việc phạm tội tinh vi hơn gây nhiều khó khăn cho việc tìm ra ngƣời
phạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, việc xác định chứng cứ trong các vụ
có thể là một chứng cứ quan trọng, vì chứng cứ phải là những gì có thật, khách quan
nhằm mục đích chứng minh tội phạm, hỗ trợ quá trình tìm ra tội phạm. Nhƣng để bản ghi
âm, ghi hình có thể coi là một chứng cứ trọng vụ án thì phải đáp ứng những yêu cầu để
trở thành một chứng cứ có giá trị, nó phải đƣợc cơ quan tiến hành tố tụng thu thập theo
đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét về bản chất của bản ghi âm, ghi hình là ghi lại những âm thanh, hình ảnh đã
đƣợc diễn ra trong quá khứ còn quá trình thực hiện các vụ án hình sự là quá trình cũng
xảy ra trong quá khứ, để tái hiện lại những hình ảnh, âm thanh của vụ án xảy ra thì bản
ghi âm, ghi hình là những công cụ hữu hiệu nhất để chứng minh tội phạm, tìm ra hƣớng
giải quyết vụ án. Theo điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Vật chứng là những vật
dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết phạm tội , vật là đối tượng
của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người
phạm tội”, vậy bản ghi âm, ghi hình là có thể mang dấu vết tội phạm, chứng minh tội
phạm và ngƣời phạm tội nên việc coi bản ghi âm, ghi hình là một vật chứng để tìm ra tội
phạm nhƣng nhƣ đã nói ở trên nó phải đƣợc thu thập theo một trình tự, thủ tục mà luật
định. Bên cạnh đó, có thể những bản ghi âm, ghi hình không cụ thể chứng minh tội phạm
hay ngƣời phạm tội nhƣng nó có thể là một tài liệu liên quan đến quá trình vụ án từ đó
mà cơ quan điều tra có thể lần theo dấu vết để tìm ra tội phạm.
Ví dụ: anh Nguyễn Đỗ Thọ, chủ khu trọ sinh viên Đăng Khoa (phƣờng Hiệp
Thành), cung cấp cho các “hiệp sĩ” Bình Dƣơng đoạn video đặc biệt. Theo đó, để có thể
theo dõi khu trọ từ xa, anh Thọ cho gắn 4 camera quanh khu trọ. Ngày 29-1, cửa 3 phòng
trọ bị mở, ổ khóa biến mất, đồ đạc trong phòng bị lục tung. Anh Thọ xem lại camera,
phát hiện buổi trƣa hôm đó có một gã to cao, ăn mặc sang trọng, đội mũ bảo hiểm nâu
sọc trắng, đi xe SH màu đen vào khu trọ. Những hình ảnh trong camera cho thấy lúc gã
chạy xe vào, khu trọ vắng ngƣời, hầu hết các phòng đều đóng cửa. Ban đầu, gã đứng
trƣớc một phòng trọ, có một sinh viên nam chạy xe máy ngang qua, gã liền lấy điện thoại
ra giả vờ nghe. Nhận đƣợc thông tin, “hiệp sĩ” Nguyễn Thanh Hải, Đội trƣởng Đội Phòng
chống tội phạm phƣờng Phú Hòa và hàng chục “hiệp sĩ” trong Thành phố chia nhau truy
tìm. Sau nhiều tháng lùng sục, khoảng 8 giờ ngày 14-5, “hiệp sĩ” Huỳnh Thanh Hải, Đội
Phòng chống tội phạm phƣờng Phú Lợi, đang đi trên đƣờng Trịnh Hoài Đức (Thành phố
nghĩa, v.v… Ở đây ta sẽ tìm hiểu về từ “phi vật thể”. Nhƣ vậy, phi vật thể có nghĩa là
không phải là vật thể. Vậy vật thể là gì? Theo vật lý học định nghĩa về vật thể nhƣ sau:
“vật thể là vật có thuộc tính vật lý nhất định”.
Vật với ý nghĩa vật lý tồn tại với mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí), đồng thời vật phải
là vật hữu hình, có thể cảm nhận đƣợc thông qua việc con ngƣời có thể cầm, nắm đƣợc
và chiếm một phần trong không gian.
Các thuộc tính vật lý nhất định của vật nhƣ là hình dạng, kích thƣớc, khối lƣợng
và tính năng sử dụng.
Nhƣ vậy, vật thể là những vật hữu hình mà con ngƣời có thể cảm nhận đƣợc, tồn
tại ở mọi trạng thái với hình dạng, kích thƣớc, khối lƣợng và tính năng sử dụng riêng
biệt.
Từ những phân tích trên ta có thể hiểu “phi vật thể” là những gì không phải là vật
thể, hay nói cách khác, đó không phải là những vật hữu hình, con ngƣời không thể cầm,
5
Bắt “trùm trộm” nhờ camera, Báo điện tử Người lao động, 2013, [truy cập ngày 1-11-2014].
GVHD: Mạc Giáng Châu
16
SVTH: Phan Tấn Khánh Nguyên
Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam
nắm đƣợc, chúng không có hình dạng, kích thƣớc, khối lƣợng và tính năng sử dụng riêng
biệt.
Rõ ràng, âm thanh, hình ảnh không hề có hình dạng, kích thƣớc hay khối lƣợng
nào cả, nó không hề chiếm một phần nào trong không gian, và con ngƣời chúng ta cũng
không thể cầm, nắm nó đƣợc, mà âm thanh, hình ảnh chỉ đƣợc lƣu trữ trong các vật thể
bắt đầy đủ và chính xác hơn các tình tiết trong vụ án một cách rõ ràng và hợp lý.
GVHD: Mạc Giáng Châu
17
SVTH: Phan Tấn Khánh Nguyên
Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam
Khi nghe lại đoạn ghi âm thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ dễ dàng biết đƣợc nội
dung cuộc nói chuyện; đồng thời những âm thanh đi kèm ở xung quanh sẽ có thể phỏng
đoán đƣợc địa điểm ghi âm là ở nơi nhƣ thế nào, để từ đó cơ quan tiến hành tố tụng có
thể suy đoán đƣợc sự việc đã xảy ra nhƣ thế nào và ở đâu. Chẳng hạn nhƣ có một đám
ngƣời bắt cóc trẻ em để tống tiền, khi họ ghi âm lại giọng nói của con tin hoặc là khi họ
gọi điện thoại để tống tiền đến gia đình của con tin, nếu ngƣời nhà đã báo công an thì khi
nghe đƣợc đoạn ghi âm đó thì cơ quan điều tra có thể dùng bản ghi âm đó để kiểm tra về
giọng nói, để từ đó xác định đƣợc các đối tƣợng tình nghi, đồng thời những âm thanh
nghe đƣợc trong bản ghi âm đó, bất kể là âm thanh lớn nhỏ gì thì cơ quan điều tra cũng
không bỏ sót, vì từ những âm thanh đó, cơ quan điều tra sẽ xử lý số liệu về âm thanh để
biết đƣợc đó là những âm thanh đƣợc phát ra từ cái gì, rồi sau đó rà soát các địa điểm nào
có thể phát ra những âm thanh đó. Nhƣ vậy sẽ rất dễ dàng cho việc tìm ra nơi giam giữ
con tin của bọn bắt cóc.
Tuy nhiên, với bản ghi âm thì vẫn chƣa thể nào giúp cơ quan điều tra nắm bắt
đƣợc đầy đủ thông tin mà nó chỉ làm cơ sở để những ngƣời điều tra có thể phỏng đoán
đƣợc các tình huống đã xảy ra. Vì bản ghi âm chỉ có thể cung cấp đƣợc âm thanh đã xảy
ra chứ chƣa cung cấp đƣợc hoàn cảnh thực tế, diễn biến sự việc xảy ra nhƣ thế nào, chƣa
biết đƣợc hình dạng của những ngƣời đƣợc ghi âm lại. Nhƣng nếu là bản ghi hình thì có
thể biết đƣợc các đối tƣợng đó là ai, sự việc, diễn biến hành động của các đối tƣợng trong
bản ghi hình đó nhƣ thế nào, biết đƣợc rằng lời nói có thật sự khớp với hành vi mà họ đã
làm hay không. Hoặc cũng có thể biết đƣợc lý do tại sao họ lại làm nhƣ vậy.
Xét ở ví dụ trên, nếu hoàn cảnh lúc đó mà bị cô gái ghi âm lại và trình báo với
công an là bị anh thanh niên đó hiếp dâm mình thì cơ quan điều tra và cả những ngƣời
khác sẽ dễ dàng bị nhầm lẫn là anh Lợi đó đã thực sự hiếp dâm cô gái đó. Vì trong bản
ghi âm sẽ ghi lại đƣợc tiếng của cô gái không đồng ý, mà anh Lợi vẫn làm. Thế nhƣng,
nếu hoàn cảnh lúc đó mà bị ghi hình lại thì sự việc sẽ đƣợc rõ ràng hơn, anh thanh niên sẽ
không bị oan.
Bên cạnh đó, những cuộc đối thoại, những hình ảnh hay những hoạt động trong
bản ghi âm, ghi hình có thể giúp cơ quan điều tra biết đƣợc lời khai của bị can có đúng sự
thật không hay cũng biết đƣợc những ai có liên quan đến vụ án và những tình tiết quan
trọng trong các vụ án. Khi lấy lời khai của bị can, những ngƣời có liên quan, họ có thể
cho lời khai đúng sự thật hoặc không đúng sự thật tùy thuộc vào lợi ích của họ hoặc tinh
thần hợp tác giải quyết vụ án. Do đó, khi xem xét lại những lời khai mà cơ quan điều tra
đã ghi nhận lại so sánh với bản ghi âm, ghi hình thu thập đƣợc để xem ngƣời cho lời khai
có khai đúng sự thật hay không. Hoặc là khi đang lấy lời khai, cơ quan điều tra có thể mở
bản ghi âm, ghi hình đã thu thập đƣợc cho những ngƣời bị lấy lời khai nghe, rồi sau đó
hỏi họ, vừa nghe xong rồi hỏi ngay, trong thời gian ngắn nhƣ vậy họ không thể nào kịp
suy nghĩ để trả lời gian dối đƣợc, do đó có thể hạn chế đƣợc trƣờng hợp cho lời khai giả.
Không những vậy, nếu nhƣ bản ghi âm chỉ có thể cho ta biết đƣợc những đối tƣợng bị ghi
âm, thì bản ghi hình còn có thể chỉ ra đƣợc những đối tƣợng ở xung quanh đó mà họ
không lên tiếng, giúp ta biết đƣợc những ngƣời có liên quan đến vụ án đó. Và có thể từ
những ngƣời có liên quan đó mà cơ quan điều tra có thể tìm ra đƣợc manh mối vụ án.
Thứ hai, đối với bản ghi âm, ghi hình do cơ quan điều tra ghi lại trong quá trình
điều tra và lấy lời khai thì có tác dụng giúp cho đội điều tra ghi lại biên bản một cách
thuận lợi và chi tiết, làm tƣ liệu để điều tra. Có thể trong lúc lấy lời khai, cán bộ điều tra
không kịp ghi chép lại lời khai thì họ sẽ sử dụng máy ghi âm hoặc máy ghi hình để ghi lại
lời khai của bị can. Khi ghi âm hoặc ghi hình trong lúc lấy lời khai thì cán bộ điều tra
phải cho ngƣời bị lấy lời khai biết là mình đang bị ghi âm, ghi hình. Sau khi lấy lời khai
xong, cán bộ điều tra sẽ nghe lại hoặc xem lại bản ghi âm, ghi hình mà mình đã ghi đƣợc
để ghi vào hồ sơ, biên bản một cách đầy đủ nhất, đồng thời có thể xem lại thái độ, cử chỉ,
6
Cho nên có thể nói, dù là bản ghi âm, ghi hình ghi lại những cuộc đối thoại, những
hình ảnh, hoạt động của những ngƣời liên quan hay là những bản ghi âm, ghi hình do cơ
quan điều tra ghi lại trong quá trình lấy lời khai thì đều có vai trò hết sức quan trọng
trong hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam, nó hỗ trợ thông tin về tội phạm cho cơ quan
tiến hành tố tụng, giúp cho cơ quan điều tra, cơ quan xét xử có thể suy xét tình tiết kỹ
lƣỡng hơn, giải quyết đúng đắn hơn, nhanh chóng tìm ra đƣợc sự thật.
GVHD: Mạc Giáng Châu
20
SVTH: Phan Tấn Khánh Nguyên