Nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự việt nam - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHÙNG THANH HÀ

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHÙNG THANH HÀ

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số

: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Thị Huyền



8

HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ
TỤNG DÂN SỰ

1.1.

Khái niệm đặc điểm nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát

8

nhân dân trong tố tụng dân sự
1.1.1. Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân

8

trong tố tụng dân sự
1.1.2. Đặc điểm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố

11

tụng dân sự
1.2.

Cơ sở xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong

14

tố tụng dân sự



tụng dân sự giai đoạn từ 1960 đến 1988
1.3.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố

21

tụng dân sự từ năm 1989 đến trước năm 2004
1.3.4. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

23

1.4.

26

Quy định của pháp luật một số quốc gia về nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự

1.4.1. Quy định của pháp luật Liên bang Nga

26

1.4.2. Quy định của pháp luật Cộng hòa Pháp

31

1.4.3. Quy định của pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

33

41

tòa sơ thẩm; phiên họp giải quyết việc dân sự
2.2.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm

42

2.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên tại phiên họp sơ thẩm

56

2.3.

57

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc kháng nghị
bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật và tham gia tố
tụng ở cấp phúc thẩm

2.3.1. Kháng nghị bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật

57

2.3.2. Viện kiểm sát nhân dân nghiên cứu hồ sơ vụ án trong giai

60

đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
2.3.3. Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm



72

Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN, MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM

76

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

3.1.

Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật Việt Nam hiện

76

hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong
tố tụng dân sự
3.1.1. Kiểm sát thụ lý vụ việc dân sự

77

3.1.2. Hoạt động kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án

79

3.1.3. Kiểm sát công tác xét xử của Tòa án

83


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS

: Bộ luật Dân sự

BLTTDS

: Bộ luật Tố tụng dân sự

TAND

: Tòa án nhân dân

TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao

VKS

: Viện kiểm sát

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao


MỞ ĐẦU


Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 thì Kiểm sát
viên tham gia kiểm sát việc tuân theo pháp luật hầu hết các vụ việc dân sự
nhưng tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 hạn chế phạm
vi tham gia phiên toà của VKS đối với vụ án dân sự.
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định VKS tham gia phiên tòa đối
với những vụ án dân sự do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu
nại, tham gia các phiên họp giải quyết các việc dân sự thuộc thẩm quyền của
Tòa án, các vụ việc dân sự mà VKS kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án
dựa trên quan điểm tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên đương sự trong tố
tụng dân sự. Thực tiễn thi hành BLTTDS năm 2004 cho thấy quy định của
BLTTDS về sự tham gia của VKS trong tố tụng dân sự đã bộc lộ những hạn
chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho VKS thực hiện được đầy đủ nhiệm vụ,
quyền hạn, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức
VKSND. Trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam, khi mà trình độ dân trí còn
hạn chế, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, khi có tranh chấp nhiều
người dân chưa có điều kiện mời Luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình và đội ngũ
Luật sư hiện nay cũng chưa đáp ứng được yêu cầu tham gia tất cả các phiên
tòa. Do đó, Luật sửa đổi bổ sung BLTTDS năm 2011 đã sửa đổi quy định về
nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự, qua đó thực hiện có hiệu
quả nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Thực tiễn đó, đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn
của VKS trong tố tụng dân sự nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của
VKSND trong tố tụng dân sự, vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài: "Nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam" để
làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự là vấn đề không
chỉ được ngành Kiểm sát mà còn được cả xã hội quan tâm. Do yêu cầu và đòi

Quan điểm thứ nhất cho rằng, tố tụng dân sự, bao gồm toàn bộ trình tự, thủ tục
giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự. Quan điểm khác cho rằng, tố
tụng dân sự chỉ bao gồm trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp luật; đường lối

5


quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; về đổi mới tổ chức
hoạt động của VKS trong điều kiện cải cách tư pháp theo Nghị quyết số
08/NQ-TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của
Bộ Chính trị và những thành tựu của khoa học pháp lý trên thế giới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin; các khoa học chuyên
ngành khác đặc biệt là khoa học về Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, chú
trọng đến phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, kết hợp lý luận
và thực tiễn.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Phân tích và làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn trong pháp luật
về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự trước yêu cầu cải
cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam.
- Đề xuất những phương hướng cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật và
các giải pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố
tụng dân sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

dân trong tố tụng dân sự.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1. KHÁI NIỆM ĐẶC ĐIỂM NHIỆM VỤ QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1.1. Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng dân sự
Hiến pháp năm 2013, BLTTDS đã khẳng định VKSND là cơ quan
chịu trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Các
hoạt động tố tụng dân sự của những người tiến hành tố tụng dân sự và những
người tham gia tố tụng dân sự là đối tượng kiểm sát của VKSND. Kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự là giám sát, kiểm tra tính hợp
pháp và tính có căn cứ đối với hành vi của các chủ thể tiến hành và tham gia
tố tụng, đối với văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sự của chủ thể
tiến hành tố tụng và đó là hình thức thực hiện quyền lực nhà nước, một trong
những hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND.
Mục đích của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
là nhằm bảo đảm cho các hành vi xử sự của các chủ thể tiến hành, tham gia tố
tụng và văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sự được thực hiện
theo quy định của pháp luật. Nội dung hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong tố tụng dân sự là việc VKSND sử dụng các biện pháp, quyền năng
pháp lý do BLTTDS quy định để kịp thời phát hiện và loại bỏ vi phạm, tiêu
cực của cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng,

do Nhà nước đặt ra và được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND,
BLTTDS và các văn bản pháp luật khác mà VKSND phải thực hiện bằng
những hình thức, biện pháp nhất định trong quá trình giải quyết vụ việc dân
sự, cụ thể là:
- Bảo đảm việc giải quyết các vụ án dân sự ở Tòa án các cấp nhanh
chóng, khách quan, toàn diện, đầy đủ và kịp thời.

9


- Bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của Tòa án có căn cứ và
đúng pháp luật.
- Bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật được đưa ra thi hành đúng pháp luật, kịp thời.
Như vậy, nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng dân sự là những công
việc cụ thể do pháp luật quy định đối với VKSND trong các giai đoạn khác
nhau của quá trình tố tụng các vụ việc dân sự (từ khi Tòa án thụ lý, chuẩn bị
xét xử đến phiên tòa giải quyết vụ việc dân sự) nhằm kiểm sát việc tuân theo
pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng.
Còn về khái niệm "quyền hạn" được hiểu là quyền theo cương vị,
chức vụ cho phép [46]. Dưới góc độ pháp lý, quyền hạn của một cơ quan, tổ
chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động,
cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất
định theo quy định của pháp luật [39, tr. 651].
Quyền hạn thường gắn chủ thể với một cương vị, tư cách cụ thể.
Trong khoa học pháp lý, quyền hạn được gắn liền với cơ quan, tổ chức trong
bộ máy nhà nước hoặc của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó.
Quyền hạn của cơ quan, tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc
trong phạm vi thẩm quyền của cơ quan, tổ chức. Quyền hạn của người có
thẩm quyền của cơ quan, tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc

trọng trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, của tổ chức xã
hội, của những người có chức vụ, quyền hạn và của công dân. Đây là nguyên
tắc hiến định được hiểu là việc thường xuyên, nhất quán tuân thủ và chấp
hành các quy định của Hiến pháp, của các đạo luật và các văn bản quy phạm
pháp luật khác của tất cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, của
những người có chức vụ, quyền hạn, của công dân. Trong hoạt động của
VKS, nguyên tắc bảo đảm pháp chế hay đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của VKS do pháp luật quy định, không thực hiện những hoạt động ngoài
nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định được cụ thể hóa trong việc xác lập
tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Nguyên tắc

11


này đòi hỏi mọi hoạt động của VKS phải được luật điều chỉnh chặt chẽ, cụ thể
và các quy định của pháp luật phải được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh,
thống nhất. Trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật, VKS có trách nhiệm
phải áp dụng biện pháp để khắc phục vi phạm đó.
Để đảm bảo việc kiểm sát các vụ việc dân sự khách quan, công bằng,
đúng pháp luật thì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình VKS, Viện
trưởng VKS và các kiểm sát viên phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Đây
là vấn đề có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết vụ việc dân sự nên việc chỉ
thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Theo Hiến pháp
và pháp luật hiện hành, VKSND là cơ quan có chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Với chức năng, nhiệm vụ của
mình, VKSND thực hiện quyền lực nhà nước, trực tiếp tham gia giám sát các
hoạt động tư pháp góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm trật tự xã hội.
Khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án nhân dân (TAND), VKSND có

kiểm sát hoạt động tố tụng của các đương sự và cơ quan tiến hành tố tụng.
Hoạt động kiểm sát của VKSND góp phần bảo đảm cho việc giải quyết vụ
việc dân sự của Tòa án được đúng đắn, khách quan.
Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật đã khẳng định
rõ về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND. Theo đó, VKSND
vẫn là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, đại diện VKSND là người tiến hành
tố tụng. Được coi là cơ quan tiến hành tố tụng, song các quyền và nghĩa vụ của
VKSND chủ yếu để thực hiên chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
quá trình giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, nhằm đảm bảo tính hợp
pháp và có căn cứ trong hoạt động xét xử của Tòa án. Mặc dù, đều là cơ quan
tiến hành tố tụng nhưng khác với Tòa án, VKS không ra bản án, quyết định
giải quyết nội dung vụ việc dân sự. Mục đích tham gia tố tụng chủ yếu của
VKSND là nhằm thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của
các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.

13


Như vậy, sự tham gia tố tụng của VKSND trong tố tụng dân sự là việc
VKSND tham gia với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, có chức năng kiểm
sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật được thi hành
nghiêm chỉnh, thống nhất trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án.
Thứ ba, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND được thực hiện thông qua
hoạt động của kiểm sát viên và Viện trưởng VKS. Đứng đầu VKS là Viện
trưởng VKS. Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, Viện trưởng VKS
có nhiều nhiệm vụ, quyền hạn như: tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự; quyết định
phân công kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động tố tụng, tham gia phiên tòa xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải
quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; kiểm tra hoạt động kiểm sát

vụ việc cụ thể. Mặc dù hiện nay tình hình đã có nhiều thay đổi nhưng ở các
nước này vẫn tồn tại một quan niệm: "Càng ít có sự can thiệp của Nhà nước,
càng ít có sự can thiệp của pháp luật thì xã hội càng vận hành có hiệu quả".
Theo pháp luật của những nước này (ví dụ Đan Mạch, Thụy Điển...) thì Viện
công tố không có vai trò gì trong vụ án dân sự. Trong quá trình tố tụng, các
công tố viên không tham gia trong quá trình lập hồ sơ, xét xử, không có
quyền kháng nghị [32, tr. 35]...
Đối với các nước theo hệ thống luật lục địa (civil law) như Pháp, Việt
Nam... thì Nhà nước hình thành một hệ thống cơ quan công tố mạnh, có vai
trò lớn trong lĩnh vực kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thẩm quyền kháng
nghị trong các thủ tục tố tụng. Từ đó, mà nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công
tố (hay VKS) cũng lớn hơn. Tại Pháp, trong lĩnh vực tố tụng dân sự, Viện
công tố có hai vai trò chính: thực hiện quyền khởi kiện như một bên đương
sự; thực hiện quyền yêu cầu áp dụng pháp luật, với tư cách như một cơ quan
tiến hành tố tụng. Ngoài ra, Viện công tố còn có một hình thức can thiệp thứ
ba với vai trò là người đại diện cho các cơ quan nhà nước [15, tr. 149].
Tại Việt Nam, qua các thời kỳ khác nhau, mà VKS cũng có những vai
trò khác nhau. Trước năm 2004, vai trò của VKSND trong lĩnh vực dân sự
được mở rộng. Theo đó mà Kiểm sát viên phải tham gia tất cả các giai đoạn tố

15


tụng giúp quá trình kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự được sâu rộng. Đến
năm 2004, vai trò tham gia tố tụng của VKSND bị hạn chế đồng thời bỏ đi
quyền khởi tố vụ án dân sự của VKSND. Trước yêu cầu của thực tiễn, từ các
tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng và phức tạp trong khi việc xét xử của
Tòa án còn nhiều sai sót cần có cơ chế giám sát, kiểm tra, từ năm 2012 đến
nay, vai trò của VKS trong tố tụng dân sự ở nước ta lại có những thay đổi
theo hướng tăng cường. Từ đó, nhiệm vụ và quyền hạn của VKS cũng được

pháp của đương sự nhưng không được hạn chế quyền tự định đoạt của
đương sự. Mọi cá nhân có quyền tự mình lựa chọn những phương thức giải
quyết tranh chấp dân sự miễn sao không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Những biện pháp giải quyết tranh chấp thay thế như hòa giải, thương lượng,
trọng tài đều được khuyến khích. Trong trường hợp không thỏa mãn với
những giải pháp đó, các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo
trình tự tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong
suốt quá trình tố tụng kể từ khi khởi kiện đến trước khi kết thúc phiên tòa,
các đương sự có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của mình. Tuy nhiên,
để đảm bảo quyền tranh tụng, việc thực hiện nguyên tắc này cũng có những
ngoại lệ nhất định. Đó là trường hợp đương sự không được thay đổi, bổ sung
yêu cầu nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu đó diễn ra tại phiên tòa mà vượt
quá phạm vi khởi kiện ban đầu.
Trong tố tụng dân sự, do quan hệ pháp luật dân sự đa dạng về nội
dung, hình thức và chủ thể tham gia. Khi tham gia các quan hệ dân sự, các
chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng những nội dung đã cam kết và
quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi một trong các bên không tuân thủ các
quy định pháp luật hoặc không tuân thủ thỏa thuận đã cam kết, xâm phạm đến
lợi ích của bên kia thì bên bị vi phạm có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ
quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ. Do đó, khi xây dựng quy định về nhiệm
vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự như quyền khởi tố, kháng nghị,
kiến nghị... phải xem xét đến quyền tự định đoạt của đương sự.

17


1.2.3. Xuất phát từ thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án
Số lượng các vụ việc dân sự mà ngành Tòa án thụ lý giải quyết ngày
càng tăng (trong 3 năm 2011- 2013, số vụ việc dân sự mà toàn ngành thụ lý
tăng từ 88.758 vụ việc lên 111.873 vụ việc [31]), tỷ lệ các bản án, quyết định

Trích đoạn KHÁI QUÁT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN hẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRƯỚC KHI THỤ Lí VÀ cHUẨN BỊ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI THAM GIA PHIấN TềA SƠ THẨM; PHIấN HỌP GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG TỐ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status