A.
Phần mở đầu
Biển có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển, mở rộng giao lưu quốc tế và mang
đến những tiềm năng tài nguyên biển. Biển có nguồn tài nguyên tiềm tàng, nếu biết
khai thác và sử dụng đúng nguồn tài nguyên đó sẽ làm cho xã hội nói chung và
quốc gia có biển nói riêng ngày càng giàu mạnh lên, trong đó nổi bật là dầu khí và
các loại khoáng sản phổ biến khác như: than sắt, ti tan, cát thủy tinh,… cùng vô số
sinh vật biển cung cấp cho bữa ăn hàng ngày. Không chỉ vậy, biển còn giữ vị trí đặc
biệt quan trọng về quân sự và giao thoa kinh tế cũng như là cánh cửa rộng mở để
vươn ra đại dương nhằm chủ động hội nhập kinh tế với thế giới. Chính vì những ý
nghĩa quan trọng của nó mà bên cạnh sự “giàu có” về tài nguyên, “giàu có” về hội
nhập, biển còn “giàu có” về các tranh chấp.
Ngày càng nhiều các tranh chấp xảy ra trên biển, để đáp ứng nhu cầu giải quyết
tranh chấp – hòa bình thế giới. Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982
(UNCLOS 1982) đã ra đời như là một cơ sở pháp lý quan trọng giúp các quốc gia
có thể quản lý, bảo vệ, khai thác hiệu quả nguồn lợi trên biển cũng như giải quyết
các tranh chấp phát sinh từ biển. Công ước đã quy định các biện pháp giải quyết
tranh chấp trên biển tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp biển quốc tế thông qua
biện pháp tài phán đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình hợp tác. Mặc dù các
thủ giải quyết tranh chấp bằng tài phán về bản chất đều mang tính đối đầu nhưng
không gây ra hậu quả tiêu cực. Vậy “các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng tài
phán theo công ước liên hợp quốc về luật biển quốc tế 1982” là vấn đề cần tìm hiểu
và nghiên cứu để giải quyết, đánh giá những mâu thuẫn, tranh chấp hiện nay trên
biển, đặc biệt là Biển Đông.
Phần nội dung
Khái quát chung về cơ chế giải quyết tranh chấp bằng tài phán theo
ước) mới được xem xét. Tuy nhiên, vấn đề chủ thể của các tranh chấp vẫn cần được
nghiên cứu kỹ lưỡng hơn để có thể phân biệt được các loại tranh chấp qui định
trong Phần XV và phần XI của Công ước vì phần XV và phần XI tại Mục 5 có quy
định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa một quốc gia thành viên và cơ quan
quyền lực, giữa Cơ quan quyền lực và một cá nhân được quốc gia bảo trợ,…
1 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật quốc tế (tái bản lần thứ 8), NXB CAND – 2008, trang 401
Hai điều kiện cần thiết được nêu ra khi áp dụng các cơ chế giải quyết tranh
chấp thích hợp của Công ước đối với các quốc gia là chủ thể của các tranh chấp:
- Quốc gia là một bên của tranh chấp phải ký và phê chuẩn hoặc gia nhập Công
ước.
- Bản thân Công ước phải đã có hiệu lực (một năm sau khi nước thứ 60 phê chuẩn)
và cũng đã có hiệu lực đối với quốc gia là một bên tranh chấp (30 ngày sau khi các
văn kiện phê chuẩn của quốc gia đó được gửi tới ông Tổng Thư ký Liên hợp quốc
để lưu chiểu). Công ước Luật Biển năm 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994.
4.
Đối tượng của các tranh chấp
Mọi tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia thành viên về việc giải thích hay
áp dụng Công ước Luật Biển năm 1982 đều là đối tượng để xem xét giải quyết theo
các qui định của Phần XV. Tuy nhiên Công ước không nêu rõ thế nào là tranh chấp
và các điều kiện làm phát sinh tranh chấp. Vậy nên trên thực tế, các quốc gia gần
như đã chấp nhận giải thích của Tòa án quốc tế là “Tranh chấp là một sự bất đồng
về quan điểm”
5.
Các nguyên tắc chủ đạo của hệ thống giải quyết tranh chấp
giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hay bằng biện pháp hoà bình khác3”.
Như vậy, khi có tranh chấp xảy ra, việc trao đổi ý kiến được coi là bước đầu
để dẫn đến thương lượng ngoại giao. Điều 283 còn qui định các bên tranh chấp có
nghĩa vụ trao đổi ý kiến khi xảy ra tranh chấp, và tiếp tục trao đổi ý kiến ngày cả
sau khi đã sử dụng một biện pháp khác nhưng vẫn chưa đi đến kết quả nào. Như
vậy, trong một vụ tranh chấp, các bên đương sự phải trực tiếp chịu trách nhiệm
trong việc giải quyết vấn đề cho đến khi kết thúc. Các qui định về trao đổi ý kiến,
thương lượng ngoại giao trực tiếp là nhằm đảm bảo chủ quyền của các bên tranh
chấp.
5.3.
Các quốc gia có quyền tự do lựa chọn phương pháp giải quyết tranh chấp
2 Điều 279 Phần XV
3 Điều 283 Công ước Luật Biển năm 1982
Nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với tính chất hoà bình của các biện pháp
được sử dụng để giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia. Điều 280 (Phần
XV) của Công ước quy định: “Không một qui định nào của Phần này ảnh hưởng
đến quyền của các quốc gia thành viên đi đến thoả thuận giải quyết vào bất kỳ lúc
nào, bằng bất kỳ biện pháp hoà bình nào theo sự lựa chọn của mình một vụ tranh
chấp xảy ra giữa họ về vấn đề giải thích hay áp dụng Công ước”. Như vậy, tự do
lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp là quyền của các quốc gia thành viên
Công ước và các quốc gia có thể lựa chọn bất kỳ phương thức nào, trước hoặc sau
khi xảy ra tranh chấp.
Về việc lựa chọn thủ tục để giải quyết tranh chấp, các quốc gia tham gia tranh
chấp cũng được quyền tự do lựa chọn. Các quốc gia có thể lựa chọn thủ tục hoà
giải (Điều 284) mà kết luận không có tính bắt buộc, hoặc lựa chọn các thủ tục toà
án bắt buộc của quyết định có tính chất bắt buộc. Đối với các thủ tục toà án, Công
chấp có thể đưa tranh chấp ra trước một cơ quan có thẩm quyền để xét xử và cơ
quan xét xử này sẽ đưa ra quyết định có tính chất bắt buộc các bên tranh chấp phải
thi hành.
Tóm lại, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 bao gồm nhiều
vấn đề với một nội dung phong phú, đa dạng, phản ánh sự thoả hiệp về quyền lợi
giữa các quốc gia, các nhóm quốc gia khác nhau, tạo điều kiện cho các bên tranh
chấp được tự do lựa chọn các phương thức thích hợp để giải quyết tranh chấp.
II.
Các biện pháp tài phán:
Theo quy định của Công ước, các bên tranh chấp có thể lựa chọn một hoặc
một số phương pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp như đàm phán hoặc hoà giải.
Nếu các bên tranh chấp không nhất trí được với nhau về cách thức giải quyết hoặc
cách thức đó không dẫn đến một giải pháp cho cuộc tranh chấp thì các bên có nghĩa
vụ tiến hành các cuộc trao đổi về quan điểm. Nếu vẫn không giải quyết được thì
theo yêu cầu của một bên tranh chấp, buộc phải lựa chọn một trong bốn thủ tục bắt
buộc: Tòa án Công Lý quốc tế (được thành lập theo Hiến chương Liên Hợp quốc);
Toà án quốc tế về Luật Biển được thành lập theo Phụ lục VI của UNCLOS; Toà
Trọng tài (An Arbitral Tribunal) được thành lập theo phụ lục VII của
UNCLOS; Toà Trọng tài đặc biệt (A Special Arbitral Tribunal) để giải quyết các
tranh chấp liên quan tới từng lĩnh vực riêng biệt như nghiên cứu khoa học biển,
đánh bắt hải sản, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, giao thông biển… được thành
lập theo phụ lục VIII của UNCLOS. Đây chính là những cơ quan tài phán theo quy
định của Hiến chương Liên Hợp quốc, Công ước về Luật Biển của Liên hợp quốc
(UNCLOS) có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp.
1.
luật nhất định như Hiến Chương Liên Hợp quốc, phụ lục của Hiến chương về Quy
chế của Tòa án Công lý quốc tế về cơ cấu tổ chức và chức năng, các nguyên tắc và
các văn bản hướng dẫn thực hành các nguyên tắc của Tòa án ( Practice Directions)
năm 2001.
Về tên gọi, Tòa án quốc tế còn được gọi là Tòa án công lý quốc tế hoặc Tòa
án tư pháp quốc tế hoặc Tòa án quốc tế Liên Hiệp quốc (tên tiếng anh
là International Court of Justice, gọi tắt là ICJ hoặc tiếng pháp là Cour
Internationale de Justice, gọi tắt là CIJ).
Về vị trí pháp lý, Tòa án công lý quốc tế là một trong sáu cơ quan chính của
Liên Hiệp quốc ( Đại hội đồng; Hội đồng bảo an; Hội đồng kinh tế-xã hội; Hội
đồng bảo trợ; Ban thư ký và Tòa án công lý quốc tế). Theo Điều 92 của Hiến
chương Liên Hiệp quốc, Tòa án Công lý quốc tế là cơ quan Tư pháp chính của Liên
Hiệp quốc, được thành lập và hoạt động theo quy chế của Tòa án Công lý quốc tế
thường trực. Quy chế của Tòa án Công lý quốc tế là một bộ phận không thể tách rời
của Hiến chương.
6 Điều 92 (Chương XIV) Hiến chương
Về thành phần của Tòa án Công lý quốc tế, Thành phần của Toà bao gồm
các thẩm phán, các phụ thẩm và thư ký. Các thẩm phán được lựa chọn không căn
cứ vào quốc tịch, trong số những nhân vật có phẩm chất đạo đức cao, đáp ứng các
yêu cầu đề ra ở nước họ để chỉ định giữ chức vụ xét xử cao nhất, hoặc những luật
gia có uy tín lớn trong lĩnh vực luật quốc tế, là những người hoạt động độc lập
(Điều 2 Quy chế của Toà). Tòa án Công lý quốc tế gồm 15 Thẩm phán (không thể
có 2 Thẩm phán là công dân của một nước) được Đại hội đồng UN và Hội đồng
bảo an bầu theo nguyên tắc đa số từ các ứng cử viên do các quốc gia thành viên đề
cử với nhiệm kỳ 09 năm, không hạn chế việc tái đắc cử. Sau 3 năm, một phần ba số
thẩm phán sẽ được bổ nhiệm lại. Năm nước thành viên thường trực của Hội đồng
Bảo an luôn có thẩm phán đại diện trong Tòa.
Về chức năng, “Tòa án công lý quốc tế được thành lập theo Hiến chương
lực, tức là ngày 16-5-1995. Tuy nhiên, phải tới ngày 1-8-1996, cuộc bầu cử các
quan toà của Toà án quốc tế về Luật biển mới được tổ chức. Số thành viên của Toà
án gồm 21 quan toà độc lập được tuyển chọn trong số các nhân vật nổi tiếng nhất
về công bằng và liêm khiết, là những người có uy tín nhất về cả đạo đức và có năng
lực rõ ràng trong lĩnh vực luật biển.
Việc lựa chọn được tiến hành trên các nguyên tắc:
- Thành phần của Toà án phải bảo đảm có sự đại diện của các hệ thống pháp lý chủ
yếu của thế giới và một sự phân chia công bằng về mặt địa lý.
- Mỗi quốc gia thành viên có quyền chỉ định nhiều nhất là hai người. Các thành
viên của Toà án sẽ được tuyển lựa trên danh sách đề cử. Tuy nhiên, Toà án không
thể có quá một công dân của cùng một quốc gia.
- Các thành viên của Toà được bầu bằng bỏ phiếu kín, là những ứng cử viên đạt
được số phiếu bầu cao nhất và phải được 2/3 số quốc gia thành viên có mặt và bỏ
phiếu.
Theo nguyên tắc độc lập xét xử của thẩm phán, một thành viên của Toà án
không thể đảm nhiệm bất kỳ một chức vụ chính trị hay hành chính nào, cũng không
được chủ động tham gia hay có liên quan về tài chính trong một hoạt động nào của
một xí nghiệp đang tiến hành thăm dò hoặc khai thác các tài nguyên ở biển hay ở
đáy biển hoặc một việc sử dụng biển, đáy biển vào mục đích thương mại khác.
Thành viên của Toà cũng không được làm những nhiệm vụ đại diện, cố vấn hay
luật sư trong bất kỳ một vụ kiện nào.
Một phiên Toà được coi là hợp lệ khi nó có đủ ít nhất 11 thành viên được bầu
ngồi xử án. Tuy nhiên, rút kinh nghiệm quá trình xét xử của Toà án pháp lý quốc tế,
nhằm giải quyết nhanh các vụ kiện mỗi năm, Toà án lập ra một viện gồm 5 thành
viên được bầu để xét xử theo thủ tục rút gọn. Nếu thấy cần thiết, Toà cũng có thể
lập ra các viện gồm ít nhất là ba thành viên được bầu để xét xử các loại vụ kiện
nhất định. Các phán quyết của một trong số các viện này đều được coi như phán
quyết của Toà án quốc tế về Luật biển, chúng đều có tính chất tối hậu mà tất cả các
quyền đã bị bảo lưu; đơn khởi kiện không đúng thủ tục. Trong trường hợp những
lập luận và lý lẽ của bị đơn là có cơ sở pháp lý thì phiên tòa sẽ dừng lại, Tòa án
không xét xử nữa, trường hợp ngược lại phiên tòa sẽ tiếp tục.
Tòa án cũng có thể bác bỏ đơn kiện của quốc gia khi quốc gia đó không có
thẩm quyền khởi kiện. Cũng như Tòa án trong nước, Tòa án Công lý quốc tế cũng
có thể áp dụng các biện pháp bảo đảm tạm thời nhằm mục đích ngăn ngừa các bên
gây tổn hại đến lợi ích của nhau. Các biện pháp thường được áp dụng trên thực tế
như Tòa án sẽ yêu cầu các bên không phát tán, quốc hữu hóa tài sản; yêu cầu chấm
dứt hành động cản trở, phong tỏa, ngưng bắn. Nếu các bên thứ ba thấy rằng, vụ
việc tranh chấp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ hoặc liên quan
đến việc giải thích điều ước quốc tế mà quốc gia thứ ba là thành viên, quốc gia thứ
ba có quyền yêu cầu Tòa án cho tham gia vào vụ việc, trong trường hợp này, bên
thứ ba có được tham gia tham gia vào vụ kiện hay không hoàn toàn thuộc thẩm
quyền của Tòa án.
Tòa án có thể tiến hành xét xử theo trình tự đầy đủ hoặc rút gọn. Thủ tục xét xử
đầy đủ phải có 15 Thẩm phán, bao gồm cả Thẩm phán ad hoc; trong trường hợp
đặc biệt, phiên xử đầy đủ phải có tối thiểu 09 Thẩm phán. Ngoài ra, theo Điều 26,
29 Quy chế Tòa án, Tòa án cũng có thể thành lập các Tòa đặc thù (rút gọn trình tự
tố tụng) gồm 5 Thẩm phán (Chánh án, Phó chánh án và 3 Thẩm phán).
Về giá trị pháp lý của các phán quyết và vấn đề thi hành phán quyết:
Phán quyết của Tòa án có giá trị chung thẩm và bắt buộc thực hiện đối với
các bên tranh chấp, nếu một trong các bên không thi hành bản án, quyết định của
Tòa thì bên kia có quyền yêu cầu Hội đồng bảo an Liên Hiệp quốc can thiệp. Về
nguyên tắc, phán quyết của Tòa án chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên tranh
chấp, nhưng nếu phán quyết của Tòa án có giải thích điều ước quốc tế đa phương
mà bên thứ ba là thành viên thì phán quyết ấy sẽ có hiệu lực đối với bên thứ ba. Về
nguyên tắc, phán quyết của Tòa án sẽ không không được kháng cáo, trong trường
hợp có sự tranh cãi về ý nghĩa hoặc phạm vi quyết nghị thì Tòa án phải giải thích
và nổi tiếng nhất về sự công bằng, năng lực và liêm khiết nhất. Các quốc gia thành
viên có thể chỉ định và bổ sung số thành viên của quốc gia mình nếu vì một lý do
nào đấy mà chưa đủ bốn thành viên.
Thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua tòa trọng tài quốc tế về luật biển bắt
đầu từ việc khởi tố của một bên thông qua văn bản tới bên kia trong vụ tranh chấp
kèm bản trình bày các yêu sách và lý do. Sau đó, Tòa Trọng tài được lập ra với năm
thành viên thuộc danh dách trọng tài do Tổng Thư ký Liên Hợp quốc lập: Bên
nguyên cử một thành viên, bên bị trong vụ tranh chấp cử một thành viên, ba thành
viên khác được các bên thỏa thuận cử ra đảm bảo là công dân của quốc gia thứ ba,
trừ khi các bên có thỏa thuận khác; Các bên cử chánh tòa trong số ba thành viên
này.
Các bên tham gia tranh chấp tạo điều kiện dễ dàng cho Tòa trọng tài thực hiện
nhiệm vụ của mình, và đặc biệt là, theo đúng pháp luật của mình và bằng tất cả các
phương tiện thuộc quyền sử dụng của mình.
Các quyết định của Tòa trọng tài được thông qua theo đa số các thành viên của
tòa. Sự vắng mặt hoặc bỏ phiếu trắng của dưới một nửa số thành viên không cản trở
tòa ra quyết định. Trong trường hợp số phiếu ngang nhau, phiếu của chánh tòa là
phiếu quyết định.
Bản án của Tòa trọng tài có tính chất tối hậu và không được kháng cáo, trừ khi
các bên trong vụ tranh chấp đã có thỏa thuận trước về một thủ tục kháng cáo.
3.
Tòa trọng tài đặc biệt:
Toà trọng tài đặc biệt được quy định tại Phụ lục VIII của Công ước luật biển
1982. Tòa trọng tài đặc biệt được thành lập khi một quốc gia khởi tố và có thông
báo bằng văn bản về tranh chấp trong từng lĩnh vực riêng biệt liên quan đến việc
giải thích hay áp dụng các điều khoản của công ước Luật biển liên quan đến: việc
Công Ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc là một văn kiện pháp lý toàn diện có
khả năng áp dụng cho tất cả các vùng biển, với một hệ thống giải quyết tranh chấp
tiến bộ. Trong hoàn cảnh hiện nay, hệ thống giải quyết tranh chấp của Công ước có
tính linh hoạt rất cao, các quốc gia có quyền lựa chọn biện pháp giải quyết tranh
chấp theo ý muốn. Cũng có thể quyết định không đưa tranh chấp ra tòa để ràng
buộc về mặt pháp lý, mà có thể yêu cầu ý kiến tư vấn của Tòa án Quốc tế về Luật
Biển để có những chỉ dẫn về những vấn đề pháp lý cụ thể mà họ đang phải đối mặt.
Hệ thống giải quyết tranh chấp của Công ước cũng toàn diện theo hướng có thể
giải quyết tất cả những tranh chấp liên quan đến việc áp dụng và giải thích Công
Ước. Đặc biệt, Công Ước có thể giải quyết các tranh chấp phân giới biển, bao gồm
cả những tranh chấp liên quan tới cả phân giới biển lẫn tranh chấp chủ quyền lãnh
thổ, đảo.
Từ những quy định trên về giải quyết tranh chấp bằng tài phán của UNCLOS
1982 có thể thấy, đã có một hệ thống giải quyết tranh chấp vừa toàn diện vừa linh
hoạt, giúp đỡ các quốc gia cùng hợp tác tìm ra giải pháp hòa bình cho những tranh
chấp trên biển.
Danh mục tài liệu tham khảo:
1.
TS Hoàng Văn Nghĩa, Các cơ chế và cơ quan tài phán quốc tế giải quyết
những vấn đề liên quan đến tranh chấp chủ quyền lãnh hải.
2.
TS Ngô Hữu Phước, Các biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế theo
quy định của Hiến chương Liên Hiệp quốc, trường Đại học Luật Tp.
3.
4.
Đảng