BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN NGỌC THUẦN
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN Ở TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒI
HÀ NỘI - 2013
Lời cam đoan
Tụi xin cam oan õy l cụng trỡnh nghiờn cu ca riờng tụi.
Cỏc s liu nờu trong lun vn l trung thc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Thuần
33
quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Nghệ An thời gian qua
2.2. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật khi thực hành
56
quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Nghệ An hiện nay
KẾT LUẬN
72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
73
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ADPL
-
Áp dụng pháp luật
BLTTHS
-
Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Trang
Bảng 2.1: Số vụ án Viện kiểm sát yêu cầu khởi tố
34
Bảng 2.2: Số người bị Viện kiểm sát yêu cầu khởi tố bị can
35
Bảng 2.3: Tỷ lệ kết thúc điều tra và xử lý của Viện kiểm sát
38
Bảng 2.4. Số người bị bắt tạm giữ nhưng sau đó phải trả tự do
40
Bảng 2.5. Số người bị tạm giam sau đó Tòa án trả tự do
41
vì xử phạt tù ngắn hơn hoặc bằng thời hạn tạm giam
Bảng 2.6. Số vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung và hủy án để điều tra,
và VKSND nói riêng những nhiệm vụ rất nặng nề, đòi hỏi ngành kiểm sát nhân dân
phải có những chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức và hoạt động. Một trong những
nhiệm vụ trọng tâm đặt ra cho VKSND trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay là
“Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt
động điều tra” [9, tr. 251]. Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
không thể phủ nhận một thực tế là VKSND đã thu được những thành tựu to lớn,
“góp phần xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ nghiêm minh, bảo
2
vệ công lý, từng bước hiện đại”[11]. Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác kiểm sát cũng
còn nhiều hạn chế cần phải được khắc phục như “chưa thực hiện đầy đủ quyền hạn,
trách nhiệm theo luật định; việc khởi tố hình sự, bắt, giam, giữ trong hoạt động điều
tra, truy tố vẫn còn xảy ra oan, sai”[11]. Thực trạng trên cũng xảy ra ở các VKSND
của tỉnh Nghệ An. Thực trạng đó đòi hỏi phải được nghiên cứu, tìm ra nguyên nhân
và giải pháp khắc phục, đáp ứng kịp với yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Đó cũng là lý do để tôi chọn đề tài “Áp dụng pháp luật khi thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh
Nghệ An hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp chương trình cao học luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu vấn đề liên quan đến ADPL trong hoạt động THQCT đối với vụ
án hình sự đã được một số nhà khoa học và cán bộ làm công tác thực tiễn tiến hành,
công bố trong nhiều công trình khoa học ở nhiều góc độ khác nhau. Đáng chú ý là
các công trình sau:
+ Tổng thuật đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt
động công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay, do Viện khoa học kiểm sát - Viện kiểm sát
nhân dân tối cao thực hiện năm 1999; Kỷ yếu đề tài cấp bộ - Những giải pháp nâng cao
chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao năm 2003; Sổ tay kiểm sát viên hình sự, của Viện kiểm sát nhân dân
tra” đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, (Tạp chí kiểm sát, số 01), Hà Nội, 2013; Trần
Thanh Thuỷ và đ.t.g (2012): Gắn công tố với hoạt động điều tra nhìn từ thực tiễn công
tác kiểm sát, (Tạp chí kiểm sát, số 23), Hà Nội, 2013; Nguyễn Duy Giảng: Một số vấn
đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt
động tư pháp theo yêu cầu cải cách tư pháp, (Tạp chí kiểm sát, số 14-16), Hà Nội,
2008….
Các công trình nghiên cứu, bài viết trên đã tiếp cận vấn đề ở những cấp độ,
phạm vi khác nhau về quyền công tố (QCT) và việc ADPL trong THQCT của VKSND.
Trên địa bàn tỉnh Nghệ An cũng có một công trình nghiên cứu về ADPL khi THQCT ở
giai đoạn điều tra. Tuy nhiên, công trình này chỉ nghiên cứu ở một loại tội phạm riêng
biệt, đó là tội phạm ma tuý. Hơn nữa, công trình này đã thực hiện từ năm 2008. Từ đó
đến nay, thực tiễn công tác kiểm sát đã có nhiều chuyển biến theo tiến trình cải cách tư
pháp. Kế thừa các kết quả nghiên cứu nêu trên, luận văn sẽ nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn ADPL khi THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND ở
tỉnh Nghệ An.
4
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, luận
văn tập trung nghiên cứu, phân tích một số vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn của
hoạt động ADPL khi THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND ở tỉnh
Nghệ An.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Giới hạn về không gian và thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở
lý luận về ADPL khi THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và đi sâu nghiên
cứu thực tiễn ADPL khi THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND hai
cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2008-2012.
thời kỳ mới.
- Các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học cụ thể: Luận văn được nghiên
cứu trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp,
quy nạp, diễn giải để làm sáng tỏ các khái niệm, các quy định của pháp luật liên
quan đến ADPL khi THQCT trong giai đoạn điều tra của VKSND; phương pháp
thống kê, chứng minh thông qua khảo sát tại các VKSND ở tỉnh Nghệ An để có số
liệu cụ thể.
6. Đóng góp về khoa học của luận văn
Góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận các khái niệm THQCT, ADPL khi
THQCT của VKSND;
Đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động ADPL của VKSND ở tỉnh Nghệ An
khi THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự giai đoạn 2008-2012;
Làm rõ các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động ADPL khi THQCT trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự và đề xuất các giải pháp, kiến nghị để nâng cao chất
lượng hoạt động này của VKSND ở tỉnh Nghệ An.
Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tư
liệu tham khảo phục vụ cho cán bộ, kiểm sát viên trong cơ quan VKSND. Bên cạnh đó,
luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên luật,
cán bộ nghiên cứu giảng dạy và nghiên cứu một số chuyên đề khác có liên quan đến
hoạt động THQCT nói chung và THQCT ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của
VKSND nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
6
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 2 chương, 4 tiết.
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật khi thực hành quyền công
tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
con người, cũng như các lợi ích của xã hội và của Nhà nước[2, tr.1-12]. Những
người theo quan điểm này coi QCT chỉ là một quyền năng, một hình thức để thực
hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự.
Quan điểm thứ hai cho rằng, QCT là quyền của VKS khi xuất hiện các hành
vi vi phạm pháp luật và nhu cầu bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội và công dân.
QCT không chỉ xuất hiện trong lĩnh vực hình sự mà còn xuất hiện trong các lĩnh vực
8
dân sự, kinh tế, hành chính, lao động. Quyền công tố ở Việt Nam là quyền của Nhà
nước giao cho Viện kiểm sát đưa vụ án ra Tòa xét xử để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi
ích chung và bảo vệ lợi ích của công dân được thực hiện trong tố tụng hình sự, tố
tụng dân sự và trong các lĩnh vực tư pháp khác [16, tr.33]. Việc tiếp cận QCT dưới
góc độ như trên là quá rộng, đã xoá nhòa ranh giới đặc thù giữa tố tụng hình sự và
các lĩnh vực tố tụng khác.
Quan điểm thứ ba cho rằng “quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho
Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Toà án, thực hiện sự buộc tội tại phiên toà (thực
hiện quyền công tố)”[29, tr.24]. Quan điểm này cho rằng QCT là quyền Nhà nước
giao cho VKS và chỉ có trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, những người theo quan
điểm này lại coi QCT chỉ có trong hoạt động truy tố và buộc tội tại phiên tòa. Theo
chúng tôi, nếu hiểu như vậy thì đã quá thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi QCT.
Trên thực tế, truy tố và buộc tội của VKS tại phiên toà chỉ là một trong số những
hoạt động THQCT. Quan điểm này không lý giải được các hoạt động khác của VKS
ở giai đoạn điều tra để đảm bảo cho hoạt động truy tố và buộc tội tại phiên tòa thuộc
về chức năng nào của VKS, trong khi rõ ràng không phải là chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật.
Quan điểm thứ tư cho rằng “quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho các
cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các
chế tài hình sự đối với người phạm tội.”[38, tr.380]. Theo quan điểm này, QCT là
sinh điều kiện sử dụng quyền lực nhà nước mà không có sự lựa chọn nào khác.
Chính vì thế mà không thể có QCT trong các lĩnh vực tố tụng khác, vì nó mâu thuẫn
với nguyên tắc tôn trọng sự định đoạt của các đương sự. Nguyên tắc này trong trong
tố tụng dân sự, hành chính, lao động cho phép vụ việc có được đưa ra xét xử hay
không, chấm dứt tại thời điểm nào, giải quyết như thế nào (tất nhiên không trái pháp
luật) hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các đương sự. Vì vậy, QCT chỉ xuất hiện
trong tố tụng hình sự, nơi mà cơ quan được giao quyền luôn có nhiệm vụ “đảm bảo
mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội,
không làm oan người vô tội” [26, tr.17]
Về thời điểm bắt đầu và chấm dứt QCT, thiết nghĩ, để đưa được người phạm
tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó thì cơ quan được giao thực hiện
QCT phải có những quyền năng pháp lý nhằm đảm bảo cho việc truy tố và bảo vệ
quan điểm của mình. Để đảm bảo cho việc truy tố đúng thì cơ quan thực hiện QCT
10
phải có quyền đối với việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp cần
thiết khác để phát hiện tội phạm, người phạm tội và thu thập chứng cứ. Để bảo vệ
quan điểm giải quyết vụ án tại Tòa án, thì sau khi kết thúc phiên tòa, cơ quan thực
hiện QCT phải có quyền đưa vụ án lên Tòa án cấp cao hơn để giải quyết nếu thấy
việc giải quyết vụ án không có căn cứ pháp luật. Vì vậy, tuy trung tâm của hoạt
động THQCT là truy tố và buộc tội tại Tòa án nhưng QCT phải được bắt đầu từ khi
có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án, quyết định giải quyết vụ án có hiệu lực
pháp luật, không bị kháng nghị. Khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng
nghị thì QCT đương nhiên chấm dứt, vì lúc này việc buộc tội đã hoàn thành.
Từ những phân tích trên có thể kết luận: Quyền công tố ở Việt Nam là quyền
do Nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện theo quy định của pháp luật để phát
hiện tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và bảo vệ việc
kết thúc việc điều tra tội phạm, vụ án hình sự được chuyển sang Viện kiểm sát để
truy tố người phạm tội ra Toà án và kết thúc ở phiên toà sơ thẩm” [29, tr.14]. Quan
điểm này đã thu hẹp phạm vi, nội dung QCT. Quan điểm này không lý giải được các
hoạt động tố tụng của VKS diễn ra trong giai đoạn điều tra như việc VKS khởi tố vụ
án, khởi tố bị can… có thuộc QCT hay không? nếu không thuộc QCT thì nó là
quyền gì, thực hiện chức năng gì? Hoặc không lý giải được sự có mặt và những hoạt
động của Kiểm sát viên ở phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.
Quan điểm thứ hai cho rằng “phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm
xảy ra và kết thúc khi người phạm tội chấp hành xong bản án.”[29, tr.15]. Quan
điểm này đã quá kéo dài thời điểm kết thúc của QCT. Việc chấp hành bản án đã là
một giai đoạn khác - giai đoạn buộc một người có tội phải chịu trách nhiệm của
mình đối với Nhà nước. Vì vậy, lúc này không đặt ra chuyện buộc tội nữa. Do đó,
trong giai đoạn chấp hành bản án không thể phát sinh QCT - quyền phát hiện tội
phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội
trước phiên toà.
Quan điểm thứ ba cho rằng “phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm
được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị”
[30, tr.51]. Quan điểm này cho rằng, khi tội phạm xảy ra, cơ quan công tố phải có
quyền tiến hành ngay các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm phát
hiện tội phạm và người phạm tội, thu thập các căn cứ để kết tội họ.
12
Trong các quan điểm trên, tôi đồng tình với quan điểm thứ ba. Bởi vì QCT là
quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đưa
người đó ra xét xử trước Toà án thì quyền này phải phát sinh từ khi tội phạm xảy ra.
Và khi bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị, tức là quyền xét
xử chấm dứt thì QCT cũng bị triệt tiêu. Như vậy, phạm vi quyền công tố bắt đầu từ
khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng
án có hiệu lực pháp luật như khi vụ án được đình chỉ). Do vậy, cứ có tội phạm xảy
ra là đòi hỏi QCT phải được phát động. Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào tội
phạm xảy ra thì việc phát động QCT cũng được tiến hành, mà trên thực tế vẫn còn
những tội phạm xảy ra nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên không bị phát hiện và xử
lý (tội phạm ẩn). Có nghĩa là THQCT chưa được bắt đầu nhưng QCT thì vẫn luôn
hiện hữu đối với người đã thực hiện tội phạm mà chưa bị phát hiện, khởi tố, điều tra.
Điều này cũng có nghĩa là phạm vi QCT rộng hơn so với phạm vi THQCT. Việc
khởi tố vụ án hình sự là một biện pháp THQCT. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là trong
một số trường hợp đặc biệt, hoạt động THQCT được thực hiện trước khi có quyết
định khởi tố vụ án. Ví dụ như: hoạt động phê chuẩn quyết định bắt người trong
trường hợp khẩn cấp; phê chuẩn gia hạn tạm giữ, yêu cầu điều tra trong công tác
khám nghịêm hiện trường...vv. Từ đó, có thể thấy, phạm vi thực hành quyền công tố
về cơ bản là bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực
pháp luật, không bị kháng nghị hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp
luật.
Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự thì phạm vi THQCT về cơ bản là bắt
đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi Viện kiểm sát quyết định truy tố bị
can ra trước Tòa án để xét xử hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp
luật.
1.1.2.3. Nội dung thực hành quyền công tố
Nội dung THQCT là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng để phát
hiện tội phạm và truy tố người phạm tội nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật. Theo đó, nội dung THQCT bao gồm:
-Thứ nhất là, hoạt động phát động QCT, đó là khởi tố vụ án và khởi tố bị can.
Khởi tố vụ án, khởi tố bị can là những họat động mở đầu quá trình điều tra xử lý
trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và người phạm tội.
Khởi tố vụ án là việc Nhà nước chính thức công khai trước toàn xã hội có tội
phạm xảy ra và bắt đầu triển khai các hoạt động thực hành quyền truy cứu trách
- Thứ hai là, hoạt động THQCT tiếp tục được thực hiện bởi VKS trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự bằng các biện pháp cụ thể sau:
15
+ Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra; khi xét thấy cần
thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra;
+ Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và
các biện pháp ngăn chặn khác;
+ Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT;
+ Hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT;
+ Quyết định việc truy tố bị can;
+ Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
Thứ ba là, trong giai đoạn xét xử, hoạt động THQCT của VKS tiếp tục được
thực hiện, thể hiện qua việc đọc cáo trạng, quyết định của VKS liên quan đến việc
giải quyết vụ án tại phiên toà; thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ
thẩm; hỏi những người tham gia tố tụng, tranh lụân, quyết định rút quyết định truy tố
hoặc định tội nhẹ hơn; kháng nghị bản án, quyết định của Toà án sơ thẩm...; phát
biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án và tham gia tranh luận tại phiên
toà phúc thẩm; phát biểu quan điểm của VKS tại phiên toà giám đốc thẩm, tái
thẩm...vv.
Việc phân chia các giai đọan trong tố tụng hình sự hiện nay còn có nhiều
cách khác nhau dựa theo những tiêu chí khác nhau. Ở đây có thể phân chia quá trình
giải quyết vụ án hình sự thành hai giai đoạn lớn là giai đoạn điều tra và giai đoạn xét
xử. Việc phân chia này cũng phù hợp với sự phân chia về hoạt động THQCT trong
BLTTHS năm 2003 (Điều 112). Giai đoạn điều tra vụ án được bắt đầu từ khi có
quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi VKS giao hồ sơ cho Toà án để xét xử hoặc
vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật. Giai đoạn xét xử được tính từ khi
Toà án thụ lý hồ sơ vụ án cho đến khi ban hành bản án có hiệu lực pháp luật. Điểm
thông qua một “khâu” trung gian đó là thực hiện pháp luật. Thực hiện pháp luật là
một giai đoạn quan trọng và không thể thiếu trong cơ chế điều chỉnh pháp luật.
“Muốn cơ chế điều chỉnh pháp luật vận hành tốt, pháp luật được phát huy vai trò, giá
trị của mình trong đời sống xã hội thì quan trọng là phải thực hiện pháp luật một
cách đầy đủ, chính xác, triệt để và hiệu quả” [14, tr. 10-11].
Nhà nước ban hành pháp luật là nhằm để dự liệu các tình huống phát sinh
trong thực tế cuộc sống và đưa ra xử sự để buộc những cá nhân, tổ chức khi gặp phải
tình huống như đã dự liệu thì phải tuân theo. Những chủ thể có năng lực hành vi
pháp luật khi gặp phải tình huống đó đều phải xử sự đúng quy định của pháp luật
nếu không muốn phải chịu trách nhiệm pháp lý. Những hành vi của các chủ thể trên
17
đều có ý chí, lý trí và tuy có sự khác nhau về mục đích nhưng đều có điểm chung là
phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình đưa pháp luật đi vào cuộc sống đó
chính là thực hiện pháp luật. Như vậy có thể nói ngắn gọn, thực hiện pháp luật là
hành vi phù hợp với quy định của pháp luật do các cá nhân, tổ chức có năng lực
hành vi pháp luật thực hiện.
Vì pháp luật có nhiều loại quy phạm khác nhau nên cũng có nhiều hình thức
thực hiện pháp luật khác nhau. Trong các giáo trình lý luận về Nhà nước và pháp
luật đều chia thực hiện pháp luật thành bốn hình thức, đó là tuân thủ (tuân theo)
pháp luật, chấp hành (thi hành) pháp luật, sử dụng pháp luật và ADPL.
Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó chủ thể pháp luật
kiềm chế, không thực hiện những hành vi mà pháp luật nghiêm cấm. Ví dụ: Điều tra
viên không bức cung khi tiến hành hỏi cung bị can là đã tuân thủ pháp luật. Tuân thủ
pháp luật luôn được thể hiện dưới dạng không hành động và là hình thức thực hiện
các quy phạm pháp luật cấm đoán.
Chấp hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể
thực hiệc các nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực, tức là thực hiện
tr.36-41]. Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng có năm trường hợp cần phải ADPL
[14, tr.19-21]. Tuy nhiên, các quan điểm này chỉ khác nhau ở cách phân loại, còn
bản chất thì đều thống nhất về các trường hợp cần ADPL.
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật luôn mang tính quyền
lực nhà nước. Thể hiện trước hết ở chủ thể có quyền ADPL. Nếu như với các hình
thức thực hiện pháp luật khác thì bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng thực hiện được
thì ADPL chỉ do những cơ quan, cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép mới có
quyền thực hiện và cũng chỉ được áp dụng trong một phạm vi nhất định. Kết quả của
việc ADPL là những mệnh lệnh, quyết định buộc mọi tổ chức, cá nhân đều phải
chấp hành, nếu không muốn bị cưỡng chế bằng sức mạnh nhà nước.
Áp dụng pháp luật là hoạt động phải tuân theo những hình thức và thủ tục
chặt chẽ do pháp luật quy định. Do tính chất quyền lực nhà nước nên để tránh sự lạm
dụng, tùy tiện, pháp luật quy định những điều kiện, trình tự, thủ tục chặt chẽ buộc
các chủ thể khi tiến hành ADPL phải nghiêm chỉnh chấp hành. Chính vì vậy mà
trong quá trình ADPL thì chủ thể có thẩm quyền cũng phải đồng thời tuân thủ pháp
luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật.
Ngoài đặc điểm mang tính tổ chức, quyền lực nhà nước thì ADPL còn là một
hoạt động điều chỉnh mang tính cá biệt, cụ thể đối với những quan hệ xã hội nhất
19
định. Thông qua hoạt động ADPL, các quy tắc xử sự chung sẽ trở thành những cách
xử sự cụ thể đối với những cá nhân, tổ chức cụ thể, ở trong tình huống cụ thể.
Từ sự phân tích trên có thể hiểu áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ
chức, quyền lực nhà nước do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền tiến
hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm cá biệt hóa các quy phạm
pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các tổ chức, cá nhân cụ
thể [17, tr. 30].
1.2.2. Khái niệm áp dụng pháp luật khi thực hành quyền công tố trong giai
đối với những cá nhân cụ thể.
Từ đó có thể định nghĩa áp dụng pháp luật khi thực hành quyền công tố trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân là hoạt động có tính tổ
chức, thể hiện quyền lực nhà nước, do Viện kiểm sát nhân dân tiến hành trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự và theo trình tự, thủ tục chặt chẽ đã được pháp luật quy
định nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hình sự và tố tụng hình sự vào những
trường hợp cụ thể, đối với những chủ thể cụ thể.
1.2.3. Đặc điểm áp dụng pháp luật khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
Áp dụng pháp luật khi THQCT trong giai đoạn điều tra cũng có đầy đủ các
đặc điểm của ADPL nói chung, đó là tính tổ chức, quyền lực nhà nước và tính cá
biệt, cụ thể đối với những quan hệ xã hội nhất định. Ngoài ra, nó còn có những đặc
điểm riêng thể hiện bản chất của hoạt động THQCT trong giai đoạn này và được
biểu hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, VKS là chủ thể duy nhất có quyền ADPL khi THQCT trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự.
Đây là nội dung biểu hiện tính quyền lực Nhà nước. Thẩm quyền này của
VKS được quy định bởi Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, BLTTHS.
Điều 137, Hiến pháp năm 1992(sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định “Viện
kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định.”
Hơn nữa, trong VKS không phải ai cũng có quyền ADPL mà chỉ những cá
nhân nhất định - những người đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn do pháp luật quy định
và được bổ nhiệm các chức danh pháp lý nhất định. Hiện nay, trong VKS chỉ có