1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN CÔNG CƯỜNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
2
NGUYỄN CÔNG CƯỜNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
BLHS
Bộ luật hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT
Cơ quan điều tra
CQTHTT
Cơ quan tiến hành tố tụng
KSV
Kiểm sát viên
KTV
Kiểm tra viên
KSND
Kiểm sát nhân dân
THQCT
đoạn điều tra vụ án hình sự
1.3. Nội dung và đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự
Kết luận chương 1
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
2.1. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
2.2. Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật về thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
2.3. Đánh giá thực tiễn thi hành hoạt động thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Kết luận chương 2
Chương 3: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN
CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
3.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật và tăng cường hướng dẫn
triển khai thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
3.2. Các giải pháp khác
Kết luận chương 3
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang
1
8
8
13
giả nghiên cứu về vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành quyền công tố trong
giai đoạn điều tra. Luận văn nghiên cứu chuyên sâu về các vụ án xâm phạm
sở hữu.
Quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự của Phạm Thị Thùy Linh Trường đại học Luật Hà Nội năm 2012. Trong
Luận văn, tác giả chủ yếu nghiên cứu về các vấn đề lý luận và thực tiễn quyền
công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và từ đó đề ra các giải pháp
nhằm khắc phục một số quy định BLTTHS 2003.
Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của các trường đại
học, học viện như Học viện khoa học xã hội, Đại học Luật Hà Nội, Đại học
Kiểm sát...; Giáo trình Luật tố tụng hình sự, Luật hình sự của Học viện khoa
học xã hội, Đại học luật Hà Nội;
Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở
Việt Nam từ 1945 đến nay (năm 1999), Viện KSND tối cao thực hiện. Nội
dung đưa ra các vấn đề về lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát
và đưa ra các lý luận chuyên sâu về quyền công tố và thực hành quyền công
tố từ năm 1945 đến năm 1999.
9
Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm
sát hoạt động tư pháp (năm 2003), Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện.
Nội dung của bài viết nêu ra các giải pháp để nâng cao tinh thần trách nhiệm
của Kiểm sát viên và hoàn thiện các quy định của pháp luật.
Chuyên đề "Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra"
do Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án trật tự xã hội, Viện
KSND tối cao thực hiện năm 2013. Chuyên đề nghiên cứu các quan điểm về
quyền công tố từ đó tổng hợp đưa ra quan điểm thống nhất về quyền công tố.
Nghiên cứu thực trạng thực hành quyền công tố và đưa ra các giải pháp nhằm
chế của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự, làm sơ sở cho việc đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng
cao chất lượng thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án hình sự trong
thời gian tới.
4. Câu hỏi nghiên cứu của luận văn
- Khái niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung, đặc điểm của thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là gì?
- Thực trạng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự như thế nào? Thực trạng thực
hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự từ năm 2011 đến năm 2015 trên toàn quốc ra
sao? Có những ưu điểm, hạn chế vướng mắc gì? Nguyên nhân của thực trang
đó là gì?
- Những giải pháp khắc phục các hạn chế đồng thời nâng cao chất lượng
công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự trong
thực tiễn?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận, các quy định của
pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định pháp luật liên quan tới công tác
11
thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án hình sự.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Mặc dù BLTTHS 2015 đã được ban hành nhưng vẫn chưa có hiệu lực
thi hành vì vậy đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn nghiên cứu công tác THQCT
của Viện kiểm sát nhân dân không bao gồm VKS quân sự các cấp và chỉ
trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật TTHS
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 Chương:
Chương 1: Lý luận về thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án
hình sự.
Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thực hành quyền
công tố trong điều tra các vụ án hình sự và thực tiễn thi hành.
Chương 3: Giải pháp đảm bảo thực hành quyền công tố trong điều tra
vụ án hình sự.
13
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI
ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự
Thực hành quyền công tố là một trong những hoạt động đặc biệt mà Đảng
và Nhà nước đã giao cho Viện kiểm sát, việc nghiên cứu về hoạt động này hiện
nay không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong khoa học pháp lý mà cả trong thực
tiễn áp dụng pháp luật, việc nhận thức chính xác về thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định vị trí và vai trò
của Viện kiểm sát nhân dân với các cơ quan tư pháp khác từ đó nắm bắt được
chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự.
Thời gian gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về chức năng
nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhưng chủ yếu là luận bàn, nghiên cứu về quyền
công tố của Viện kiểm sát mà không đi sâu vào vấn đề thực hành quyền công
tố. Mặt khác các công trình nghiên cứu về thực hành quyền công tố thì nhiều
công trình còn nhầm lẫn gần như đồng nhất thực hành quyền công tố với
quyền công tố hoặc các vấn đề về khái niệm thực hành quyền công tố còn
nhân trong việc khởi tố và điều tra, trong việc truy tố và xét xử nữa. Xuyên
suốt quá trình đó là hoạt động chứng minh tội phạm của cơ quan được giao
chức năng thực hành quyền công tố.
Quyền công tố là một trong những quyền thuộc quyền lực của Nhà
nước và quyền này gắn với bản chất mỗi kiểu nhà nước sẽ có những đặc
điểm khác nhau. Quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự và thông
thường quyền này thường được giao cho một cơ quan nhà nước chuyên trách.
Khi có tội phạm xảy ra, Cơ quan này trong quá trình thực hiện việc truy cứu
trách nhiệm hình sự với người phạm tội phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu
thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Khi có
đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, cơ quan Công
tố sẽ quyết định việc truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ quan điểm buộc
Từ điển Tiếng Việt (2004), Nxb Đà Nẵng. Tr 210
Từ điển luật học (2006), Nxb Từ điển bách khoa - Nxb Tư pháp, Hà Nội. Tr
298
2
3
15
tội trước phiên toà. Do vậy, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội
phạm xảy ra và kết thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng
nghị. Đối tượng của quyền công tố là hành vi phạm tội của bị can, bị cáo và
nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với họ.
Tóm lại, xuất phát từ các căn cứ lý luận được phân tích ở trên, theo tác
giả: Quyền công tố là quyền lưc công được Nhà nước trao cho cơ quan nhà
nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội về
tội phạm mà người đó đã thực hiện và bảo vệ việc truy tố trướcTòa án.
- Thực hành quyền công tố:
cáo, điều này đã được tổng kết và khẳng định một lần trong Nội san công tác
kiểm sát số 3/1968: “Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành
Kiểm sát để sử dụng quyền công tố; bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử có
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối chính
sách của Đảng hay không, điều đó chính là Viện kiểm sát phải trông nom,
bảo đảm làm tốt”6 và một lần nữa được khẳng định tại Điều 20 Bộ luật hình
sự mới nhất ban hành năm 2015: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc
tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người
phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và
xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm
tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội”.7
Theo tác giả: Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát nhân dân sử
dụng tổng hợp các quyền năng tố tụng thuộc nội dung quyền công tố theo quy
định của pháp luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội về tội phạm đã thực hiện trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Theo tố tụng Việt Nam thì quá trình giải quyết vụ án hình sự được chia
thành 5 giai đoạn: giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai
đoạn xét xử, giai đoạn thi hành án. Trong đó mỗi giai đoạn đều thực hiện
Kết luận về công tác kiểm sát năm 1968, Nội san công tác kiểm sát số
3/1968, Tr 55
7 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Bộ luật Tố
tụng Hình sự, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội. Tr 19
6
17
18
nhằm bảo đảm mọi hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra đều được thực
hiện đúng theo quy định của pháp luật, nếu phát hiện có hành vi vi phạm pháp
luật thì Viện kiểm sát sẽ kiến nghị, yêu cầu các chủ thể vi phạm chấm dứt
ngay hành vi vi phạm pháp luật.
Vậy, tổng hợp từ những phân tích trên, theo tác giả: Thực hành quyền
công tố ở giai đoạn điều tra là hoạt động của Viện kiểm sát sử dụng các quyền
năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội, bảo đảm cho quá trình điều tra có căn cứ, hợp pháp.
1.2. Đối tượng và phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự
1.2.1. Đối tượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự
Như đã đề cập ở trên, trong các tài liệu pháp lý ở nước ta hiện nay chủ
yếu chỉ đề cập đến vấn đề quyền công tố, đối tượng của quyền công tố, vấn đề
thực hành quyền công tố cũng như đối tượng của thực hành quyền công tố,
mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố với thực hiện chức năng kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp còn ít được đề cập và chưa
rõ ràng. Một số chuyên đề pháp lý gần đây khi đề cập đến hoạt động thực
hành quyền công tố vì chưa nắm rõ được đối tượng của thực hành quyền công
tố nên cũng chỉ đưa ra được một số biện pháp pháp lý để góp phần nâng cao
chất lượng, hiệu quả các khâu công tác kiểm sát hình sự.
Đối tượng của thực hành quyền công tố được hiểu là cái mà thực hành
quyền công tố tác động vào nhằm đạt được một mục đích cụ thể nào đó. Về
bản chất, thực hành quyền công tố là hoạt động nhân danh Nhà nước thực
hiện việc buộc tội đối với người phạm tội, bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm
những vụ việc cụ thể.
Theo tác giả, đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm
tội. Do đối tượng tác động của thực hành quyền công tố cũng chính là đối
tượng của quyền công tố, nên đối tượng tác động của thực hành quyền công
tố trong giai đoạn điều tra cũng là tội phạm và người phạm tội.
Việc xác định đúng đối tượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn
20
điều tra đã góp phần giúp cho việc buộc tội đối với người phạm tội, bảo đảm
việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội có căn cứ pháp luật,
bảo đảm mọi hành vi phạm tội được phát hiện đều được khởi tố, điều tra,xử lý
theo pháp luật, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người vô tội.
1.2.2. Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự
Nói về phạm vi thực hành quyền công tố tại đây tác giả sẽ cố gắng làm
rõ phạm vi thực hành quyền công tố nói chung và phạm vi thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra nói riêng bắt đầu và kết thúc như thế nào.
Quá trình giải quyết vụ án được chia thành 5 giai đoạn chính: Khởi
tố (bao gồm cả hoạt động giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị
khởi tố), Điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Trong đó:
- Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên mà trong
đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp
luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có (hay không) các dấu hiệu của
tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời
ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên
quan đến hành vi đó.
- Điều tra là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai mà trong đó Cơ quan điều
tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát
vấn đề trách nhiệm hình sự một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ
và đảm bảo sức thuyết phục.
Về phạm vi thực hành quyền công tố, có nhiều quan điểm cho rằng việc
xác định phạm vi thực hành quyền công tố cũng tương tự như cách xác định đối
tượng thực hành quyền công tố đó là đồng nhất phạm vi thực hành quyền công tố
với phạm vi quyền công tố. Tuy nhiên theo tác giả phạm vi quyền công tố có phần
“rộng” hơn phạm vi của thực hành quyền công tố vì các lý do sau:
Với quan điểm cho rằng phạm vi quyền công tố đồng nhất với thực
hành quyền công tố có nghĩa là phạm vi bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố
vụ án. Tuy nhiên tác giả cho rằng quyền công tố là quyền buộc tội vì thế
quyền này được phát sinh ngay từ khi có hành vi phạm tội xảy ra, nếu chỉ hiểu
rằng quyền công tố chỉ bắt đầu từ khi hành vi phạm tội được phát hiện, tố
22
giác, thụ lý giải quyết, khởi tố thì đây chỉ là cách hiểu đối với các tội phạm rõ.
Trên thực tế, ngoài tội phạm rõ ( tội phạm đã được phát hiện và khởi tố vụ án)
thì còn nhiều hành vi phạm tội chưa được phát hiện (tội phạm ẩn) thì cũng cần
phải buộc tội đối với những tội phạm này chính vì vậy mà tác giả đồng tình
với quan điểm phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm được thực
hiện “quyền công tố luôn luôn treo trên đầu đối với tất cả những người đã
thực hiện hành vi tội phạm nhưng chưa bị phát hiện khởi tố, điều tra”10.
Mặt khác, thực hành quyền công tố là hoạt động thực hiện việc buộc tội
theo pháp luật thì hoạt động này phải được thực hiện theo quy định của pháp
luật. Theo đó, Bộ luật TTHS 2015 quy định thì phạm vi thực hành quyền
công tố nói chung bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi
có bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án không bị kháng nghị hoặc đình chỉ
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự . Như vậy, phạm vi thực hành
quyền công tố chỉ xuất hiện đối với các tội phạm rõ mà không xuất hiện đối
chính thức sau khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi có một trong
các loại văn bản kết thúc điều tra: Kết luận điều tra hoặc Quyết định đình chỉ
điều tra và song song với Cơ quan điều tra, phạm vi thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra cũng bắt đầu khi có quyết định khởi tố vụ án và kết
thúc khi có một trong các loại văn bản kết thúc điều tra: Kết luận điều tra
hoặc Quyết định đình chỉ điều tra.
1.3. Nội dung và đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự
1.3.1. Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự
Việc xác định nội dung thực hành quyền công tố có ý nghĩa quan trọng
nhằm xác định hoạt động nào thuộc thực hành quyền công tố hoạt động nào
thuộc kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong quá trình thực hành quyền công tố
của Viện kiểm sát rất dễ bị nhầm với hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp vì
hai hoạt động này nếu không nắm chắc được về mặt lý luận sẽ rất dễ nhầm lẫn
vì hai hoạt động này gắn bó mật thiết với nhau, luôn song hành cùng nhau
không tách rời hoạt động này sẽ tạo cơ sở để hoạt động kia được thực hiện và
11 Hoàng Thị Minh Sơn (chủ biên), Giáo trình Luật tố tụng hình sự (2013),
Trường đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Tr 265
24
khi thực hiện tốt hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp sẽ lại tác động ngược
trở lại hoạt động thực hành quyền công tố giúp cho hoạt động THQCT được
chính xác, đúng người đúng tội. Chính vì vậy mà trước đây một thời gian dài
đã có sự nhầm lẫn giữa hai hoạt động này.
Nội dung của hoạt động thực hành quyền công tố là việc sử dụng “tổng
hợp” những quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý
nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt người, lọt tội, không làm
phạm và người phạm tội. Như vậy các hoạt động liên quan đến khởi tố vụ án,
khởi tố bị can, quyết định việc truy tố thì thuộc giai đoạn khởi tố và giai đoạn
truy tố chứ không nằm trong giai đoạn điều tra. Với quan điểm như vậy, nội
dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra VAHS bao gồm các
hoạt động sau:
- Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án
hình sự, khởi tố bị can.
- Phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc
bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật.
- Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị
can trong các trường hợp do Bộ luật này quy định.
- Phê chuẩn, không phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám
xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng
biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết
định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định
của Bộ luật này; hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp
luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra. Trường hợp không phê chuẩn hoặc hủy bỏ thì trong quyết định
không phê chuẩn hoặc hủy bỏ phải nêu rõ lý do.
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội
phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, áp dụng biện