BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
GIÁP THỊ NHUNG
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên ngành
: Luật Hình sự và Tố Tụng hình sự
Mã số
: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. HOÀNG THỊ MINH SƠN
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các
cố liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
3.2. Một số giải pháp đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự ................................................................................55
Kết luận chƣơng 3 ...................................................................................................68
KẾT LUẬN ..............................................................................................................69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................71
PHỤ LỤC .................................................................................................................76
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT
: Cơ quan điều tra
ĐTVAHS
: Điều tra vụ án hình sự
KTVAHS
: Khởi tố vụ án hình sự
QĐKTVA
: Quyết định khởi tố vụ án
THQCT
Trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tố tụng
49
3.2
Số vụ án VKS truy tố nhưng tòa án tuyên không phạm tội
50
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tố tụng hình sự điều tra là giai đoạn trong đó cơ quan có thẩm quyền
áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực
hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.Với tính chất là một giai
đoạn độc lập của tố tụng hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự có chức năng thực
hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để
chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội, xác định rõ những nguyên
nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời kiến nghị các cơ quan và tổ chức hữu quan áp
dụng đầy đủ các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm.
Vì vậy, nếu các hoạt động tố tụng không thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ
luật tố tụng hình sự quy định ở giai đoạn này, rất có thể tội phạm sẽ bị bỏ lọt hoặc lợi
ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm. Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân là một cơ
quan giữ vị trí rất quan trọng và là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao thực hiện
chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Nghị quyết số
48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
văn bản pháp luật có liên quan về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự.
- Phân tích những kết quả đạt được cũng như những vướng mắc, bất cập trong
việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự. Từ đó, đề xuất kiến nghị bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, những quy định của pháp luật và thực
trạng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về
nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai điều tra vụ án hình sự. Đồng thời
nghiên cứu thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự ở Việt Nam (từ năm 2010 – năm 2014) để thấy được những tồn tại, hạn chế (
đề tài không nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát quân sự trong giai đoạn
điều tra).
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm và đường lối của Đảng, Nhà nước về
cải cách tư pháp.
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như Lý luận- thực tiễn, lịch
sử, phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, logic nhằm giải quyết mục đích, nhiệm vụ
nghiên cứu của đề tài.
6. Đóng góp khoa học của đề tài
- Thứ nhất, đề tài góp phần tạo sự thống nhất trong nhận thức về nhiệm vụ,
quyền hạn của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
- Thứ hai, với việc đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật TTHS
về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, đề tài đã
giải quyết được những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện những quy định
nhiệm vụ, chủ thể, trình tự, thủ tục thời hạn cụ thể nhằm phục vụ mục đích chung
của toàn bộ quá trình tố tụng. Bên cạnh đó, trong khoa học luật TTHS dựa trên sự
khác biệt về chủ thể, các nhà nghiên cứu cũng chia tiến trình tố tụng giải quyết một
vụ án hình sự thành các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Như
vậy, dù trên phương diện nào điều tra cũng được coi là một giai đoạn tố tụng độc
lập. Tuy nhiên, giai đoạn điều tra bắt đầu từ đâu và kết thúc khi nào thì hiện nay vẫn
có nhiều quan điểm khác nhau.
Nhóm quan điểm thứ nhất: “ Khởi tố và điều tra VAHS là một giai đoạn mà
theo đó thì điều tra là giai đoạn đầu tiên của quá trình tiến hành tố tụng hình sự,
trong đó CQĐT áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm
và người thực hiện hành vi phạm tội”[31,Tr.5]; và quan điểm: “trong giai đoạn
điều tra VAHS, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết
thúc khi VKS quyết định việc truy tố người phạm tội, hoặc khi vụ án được đình chỉ
theo quy định của pháp luật”[36, Tr.66]
Cả hai quan điểm trên hoặc coi giai đoạn khởi tố và giai đoạn điều tra là một
giai đoạn tố tụng độc lập, hoặc coi giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tố là một giai
đoạn tố tụng độc lập mà không thấy được sự khác nhau về nhiệm vụ, mục đích, ý
nghĩa, chủ thể và trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng trong từng giai đoạn.
Quan điểm thứ hai “Điều tra là giai đoạn tố tụng hình sự trong đó cơ quan có
thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và
người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án”[33, Tr.265].
7
Có thể thấy quan điểm này là tương đối hoàn chỉnh, đã khắc phục được những thiếu
sót của những quan điểm trước. Đã coi điều tra là một giai đoạn độc lập của tố tụng
hình sự, có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp
cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội.
Tuy nhiên, quan điểm trên đã không chỉ rõ được phạm vi của giai đoạn điều tra.
Tác giả luận văn đồng tình với quan điểm cho rằng: “điều tra VAHS là một
Thứ hai, Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự là phát hiện kịp thời
thời tội phạm và người phạm tội, áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định của
BLTTHS nhằm điều tra làm rõ, thu thập đầy đủ các chứng cứ chứng minh tội phạm
và người phạm tội. Đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do
tội phạm gây nên.
Thứ ba,Chủ thể tiến hành tố tụng trong giai đoạn này chủ yếu là CQĐT và
Viện kiểm sát. Ngoài ra còn một số cơ quan khác như Bộ đội biên phòng, Hải quan,
kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, một số cơ quan khác trong lực lượng Công an
nhân dân, Quân đội nhân dân…được khởi tố bị can và điều tra những tội phạm ít
nghiêm trọng xảy ra trong lĩnh vực của mình quản lý hoặc ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự rồi chuyển đến VKS cùng cấp để quyết định việc điều tra theo quy định.
Thứ tư, các biện pháp cưỡng chế tố tụng mà các cơ quan có thẩm quyền được
sử dụng trong giai đoạn ĐTVAHS, ngoài việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện
pháp ngăn chặn như một số giai đoạn khác còn có một số biện pháp nhằm thu thập
chứng cứ như khám xét, dẫn giải, áp giam…
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa – thông tin – trung tâm ngôn ngữ
và văn hóa Việt Nam, Viện ngôn ngữ học (1999) thì nhiệm vụ là công việc phải
làm, phải gánh vác [53, Tr.1251]. Theo cách giải nghĩa này thì nhiệm vụ nói chung
là công việc mang tính bắt buộc đối với chủ thể phải thực hiện. Tuy nhiên, khi nói
đến nhiệm vụ người ta thường nói đến công việc phải thực hiện của người có thẩm
quyền của cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước khi thực hiện thẩm quyền của
cơ quan, tổ chức đó. Nhiệm vụ của một chủ thể xuất phát từ tư cách chủ thể trong
quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được pháp luật quy định. Cùng một chủ
thể, nhưng mỗi quan hệ xã hội khác nhau thì quy định pháp luật xác định nhiệm vụ
khác nhau. Cũng theo Đại từ điển tiếng việt, Viện ngôn ngữ học (1999) Quyền hạn
được hiểu là quyền theo cương vị, chức vụ ho phép [53, Tr. 1384]. Theo Từ điển
Luật học, Viện ngôn ngữ học (2006) giải nghĩa quyền hạn của một cơ quan, tổ chức
hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức
vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của
pháp luật [54].
Nhà nước trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật. Nhiệm vụ và quyền hạn tuy
là hai khái niệm độc lập nhau, song có thể thấy, giữa hai khái niệm này vẫn có mối
quan hệ biện chứng chặt chẽ không thể tách rời. Nhiệm vụ, bản thân nó cũng đã
chứa đựng quyền hạn. Khi pháp luật trao cho Viện kiểm sát một nhiệm vụ nào đó
thì cũng sẽ trao cho cơ quan này những quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ
đó. Ngược lại, nếu VKS có thể sử dụng quyền hạn trong một vụ án hình sự cụ thể
thì có nghĩa là cơ quan này đã được pháp luật trao cho nhiệm vụ giải quyết vụ án đó
và phải thực hiện đầy đủ nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác.
10
Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai
đoạn ĐTVAHS được xác định cụ thể thông qua các hoạt động sau: Yêu cầu CQĐT,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay
đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; Hủy bỏ các quyết định khởi
tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, quyết định không
khởi tố vụ án trái pháp luật; phê chuẩn, hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định
thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can trái pháp luật; Khởi tố, thay đổi, bổ
sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do BLTTHS
quy định; Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp,
gia hạn tạm giữ, việc tạm giam và các biện pháp khác hạn chế quyền con người,
quyền công dân; Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm
giam, các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp khác hạn chế quyền con người,
quyền công dân theo quy định của luật; Phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ các
quyết định tố tụng khác của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra; Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều
tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; Yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can;
Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung
Hiện nay, vấn đề về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, cá nhân tiến hành tố
tụng và người tham gia tố tụng đã và đang được nhận thức và thực hiện khác nhau mà
kết quả của nó là việc tiếp cận và xử lý vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ
giữa các chức năng tố tụng chưa thật hợp lý và khoa học, đòi hỏi phải “Nhận thức đúng
đắn, đầy đủ các chức năng tố tụng là cơ sở để xác định vị trí, vai trò và phạm vi của
từng chức năng trong sự vận hành của TTHS, phân định rõ ràng và hợp lý chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan THTT,các cá nhân thực hiện chức năng TTHS,
góp phần khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng” [19]. Có thể thấy các chức
năng tố tụng là một trong những yếu tố hợp thành của tố tụng hình sự hiện chưa có sự
thống nhất và có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Nhìn chung, các nhận
thức khác nhau về chức năng của TTHS có thể chia làm 3 nhóm: (1). Coi chức năng
của TTHS chính là những hướng hoạt động chính của TTHS, gồm: chức năng buộc
tội, bào chữa, xét xử, điều tra; (2). Coi chức năng của TTHS chính là những định
hướng hoạt động của các chủ thể trong TTHS, quyết định địa vị pháp lý của chủ
thể, gồm: buộc tội, bào chữa, kiểm sát việc tuân theo PL, xét xử, điều tra…;
(3). Tuy nhiên, các ý kiến đều có điểm chung đó là “ chức năng tố tụng hình sự là
những phương hướng lớn, cơ bản nhằm phân định các hoạt động trong lĩnh vực
TTHS của các chủ thể khác nhau, trong những phạm vi nhất định, trên cơ sở phụ
hợp với nội dung, mục đích, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụng”[57].
12
Coi chức năng của TTHS là tổng hợp tất cả các chức năng của các chủ thể tiến hành
tố tụng, gồm: chức năng của CQĐT, chức năng của VKS, chức năng của tòa án.
Các chức năng cơ bản trong TTHS tuy độc lập nhưng giữa chúng có mối liên hệ bổ
trợ với nhau. Có ba chức năng cơ bản trong TTHS là: chức năng buộc tội, chức
năng bào chữa và chức năng xét xử.
Buộc tội là một trong những chức năng cơ bản của TTHS “chức năng buộc tội
là hoạt động của VKS nhằm xác định tội phạm và người phạm tội, buộc kẻ phạm tội
phải chịu TNHS theo quy định của pháp luật” [34]. Như vậy, chức năng buộc tội là
công tố và Kiểm sát hoạt động tư pháp.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và
thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự
thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm
do luật định.[12]
Tại kỳ họp thứ 13. Quốc hội đã thông qua luật tổ chức VKSND mới, cụ thể
hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013:Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực
hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.[9].
Trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật:
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc
truy tố người phạm tội ra trước Toà án.
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách
nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này
quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này.
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp
thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội [10].
Với bản chất, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của
dân, do dân và vì dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực
hiện quyền lực Nhà nước thông qua cơ quan đại diện dân cử. Mỗi cơ quan Nhà nước
được pháp luật quy định chức năng nhất định để thực hiện quyền lực nhà nước thống
nhất. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan được Hiến pháp quy định hai chức năng:
Thực hành quyền công tố và Kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong tố tụng hình sự,
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu
Cơ quan điều tra truy nã bị can; Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong
15
trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc khi xét phê chuẩn các lệnh,
quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra hoặc trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm,
vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng không được khắc phục; Khởi
tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao khởi tố vụ án
hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc khởi tố, điều tra có
dấu hiệu tội phạm; Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam;
quyết định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa
bệnh; Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố
theo quy định của Bộ luật này.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự:
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ án của
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng
vi phạm pháp luật; Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra; Yêu cầu Cơ quan
điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp
tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra khi
cần thiết; Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì Viện kiểm
sát yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra thực hiện các hoạt động sau đây:Tiến hành hoạt động điều tra đúng
pháp luật- Kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát - Cung cấp
tài liệu về vi phạm pháp luật trong việc điều tra; Kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi
pháp và luật tố tụng đánh dấu sự mở rộng thẩm quyền kiểm sát của các cơ quan công tố
ở nước ta đối với hoạt động xét xử. Theo đó, Công tố viên ở giai đoạn này không chỉ
có quyền truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa mà còn “có quyền kháng cáo về việc hộ
cũng như việc hình” [56]
iai đoạn từ 1945 đến 1958, trước khi cải tổ lại hệ thống Viện công tố, mô hình
tổ chức cơ quan công tố hoàn toàn giống như mô hình cơ quan công tố của háp. Chức
năng chủ yếu là công tố, buộc tội và chức năng thứ hai là chỉ đạo hoạt động điều tra và
thực hiện điều tra đối với một số loại vụ án nhất định. Đây là Giai đoạn mô hình công
tố nằm trong Tòa án.
Từ 1958 đến 1959
Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I từ ngày 16/4/1958 đến 29/4/1958, Quốc hội
đã quyết định thành lập Viện công tố và hệ thống cơ quan công tố tách khỏi Bộ tư
17
pháp, trực thuộc Hội đồng chính phủ và có trách nhiệm, quyền hạn như một bộ.Trên cơ
sở Nghị quyết của Quốc hội, thủ tướng chính phủ ký ban hành Nghị định số 256/TTg
ngày 1/7/1959 quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố trug
ương. Theo đó, Viện công tố có nhiệm vụ“giám sát việc tuân thủ và chấp hành pháp
luật nhà nước, truy tố theo luật hình những kẻ phạm pháp”. Nhiệm vụ cụ thể và đầu
tiên của Viện công tố lúc đó là “điều tra và truy tố trước tòa án những kẻ phạm pháp
về hình sự”. Để thực hiện nhiệm vụ được giao, “Viện công tố có trách nhiệm áp dụng
những biện pháp thích đáng theo pháp luật để xử lý mọi hành vi phạm pháp, mọi phần
tử phạm pháp”[14] , Nghị định số 321/TTg ngày 2/7/1959 về việc thành lập các Viện
công tố phúc thẩm. Theo quy định của các văn bản pháp luật này hệ thống các cơ quan
công tố được thành lập từ trung ương đến cấp huyện, trở thành hệ thống các cơ quan
độc lập, không còn trực thuộc Bộ tư pháp , không còn chịu sự chỉ đạo cụ thể và trực
tiếp của Uỷ ban hành chính cùng cấp ở địa phương.
Những quy định này đã xác định tương đối cụ thể và rõ ràng vị trí, vai trò và chức
năng, thẩm quyền của Viện công tố trong bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, mô hình tổ chức
hóa tại điều 1 Luật tổ chức VKSND được Quốc hội nước VNDCCH thông qua vào ngày
15/7/1960, nhiệm vụ của VKSND là “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật làm cho pháp luật
được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được
giữ vững” [7]. Do đó, trong nghiên cứu khoa học pháp lý cũng như trong xây dựng pháp
luật, có quan niệm cho rằng chức năng chính, chủ yếu của VKS là chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật.
Đến hiến pháp năm 1980 và luật tổ chức VKSND năm 1981 quy định về vị trí,
chức năng thẩm quyền, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKSND các cấp về cơ bản
kế thừa các quy định của hiến pháp năm 1959 và luật tổ chức VKSND năm 1960. Điểm
khác biệt cơ bản nhất là Hiến pháp 1980 và luật tổ chức VKSND năm 1981 là không
những ghi rõ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước từ cấp
Bộ trở xuống, các tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và
công dân, mà còn nhấn mạnh chức năng thực hành quyền công tố của VKSND tại điều
138 Hiến pháp 1980 và điều 1 Luật tổ chức VKSND năm 1981. Điểm khác biệt nổi bật
của giai đoạn này chính là đã hình thành mô hình Viện kiểm sát nhân dân.
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003
Điển hình của giai đoạn này là việc BLTTHS đầu tiên của nước ta vào năm
1988. Tuy nhiên, khi xây dựng bộ luật này, các nhà làm luật vẫn mang nặng tư duy cho
rằng thực hành quyền công tố là một quyền năng của VKS khi kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc điều tra vụ án hình sự. Những quy định ban đầu của Bộ luật này
cũng chủ yếu đề cập đến chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
19
Trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1992 có một số đề án đề nghị chuyển
VKSND thành Viện công tố trực thuộc Chính phủ, VKSND chỉ nên tập trung vào chức
năng công tố, bỏ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành
chính, kinh tế, xã hội. Vì nó trùng lắp với chức năng kiểm tra, thanh tra của các cơ
quan hành chính nhà nước và chức năng giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân
các cấp. Tuy nhiên, qua nghiên cứu nhận thấy trong lĩnh vực TTHS, VKSND đồng
hoạt động tư pháp… Tuy nhiên, các quy định này chưa thực sự rõ ràng và đầy đủ, chưa
phân định rõ thực hành quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong giai đoạn điều tra.
Thực hiện chủ trương của Đảng, nhất là nghị quyết số 08-NQ-TW của Bộ
Chính trị là phải có sự sửa đổi một cách cơ bản và toàn diện, những tư tưởng, đường lối
cải cách tư pháp trong các Nghị quyết của Đảng đã được pháp luật hóa thành các quy
định của Hiến pháp năm 1992(sửa đổi năm 2002), luật tổ chức VKSND năm 2002 phải
trở thành những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Theo đó, cần phân định rõ thực
hành quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn
điều tra, tăng cướng trách nhiệm của VKS trong giai đoạn này.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, BLTTHS năm 2003 được Quốc hội khóa XI
thông qua tại kỳ họp thứ 4 ngày 26/11/2003 đã đánh dấu bước quan trọng. Từ đây, nội
dung thực hành quyền công tố trong TTHS nói chung và thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng đã được quy định cụ thể, rõ ràng hơn
tạo điều kiện cho VKS các cấp thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. VKSND được luật
quy định cụ thể những nhiệm vụ và quyền hạn khi thực hiện chức năng thực hành
quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật.