BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐẶNG VĂN THỰC
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM
CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN
KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60380104
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Thị Minh Sơn
Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi. Các cố liệu, ví dụ và trích dẫn
trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và
trung thực. Những kết luận khoa học của Luận văn
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
giai đoạn khởi tố vụ án hình sự ............................................................................18
2.1.2. Quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự. ....................22
2.2. Quy định về trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án
hình sự ......................................................................................................................30
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ............................................................................................32
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN
VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ
VỤ ÁN HÌNH SỰ.........................................................................................................33
3.1. Thực trạng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát
trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự .....................................................................33
3.1.1. Những kết quả đạt được ..............................................................................33
3.1.2. Những tồn tại, hạn chế ................................................................................38
3.1.3. Nguyên nhân những hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự .................41
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự ............48
3.2.1. Giải pháp lập pháp .....................................................................................48
3.2.2. Các giải pháp khác .....................................................................................53
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ............................................................................................59
KẾT LUẬN ..................................................................................................................61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: ..................................................................62
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:
TTHS:
Tố tụng hình sự
VKS:
Viện kiểm sát
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
bảng
3.1
Số vụ án VKS trực tiếp khởi tố và yêu cầu CQĐT khởi tố
34
3.2
Số vụ án VKS hủy quyết định khởi tố và không khởi tố của
35
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, những quy định của pháp luật và
thực trạng về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ
án hình sự.
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về
nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và một
số vấn đề về trách nhiệm của VKS trong giai đoạn khởi tố. Đồng thời nghiên cứu thực
tiễn thực hiện nhiệm vụ của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự ở Việt Nam (từ
năm 2009 – năm 2013) để thấy đƣợc những tồn tại, hạn chế. Trên cơ sở đó, đƣa ra
những giải pháp góp phần nâng cao chất lƣợng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự. (Đề tài không nghiên cứu số
liệu của VKS quân sự).
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài đƣợc nghiên cứu trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, các quan điểm và đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc về cải cách tƣ
pháp.
4
Đề tài sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ Lý luận- thực tiễn, lịch
sử, phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, logic, điều tra xã hội học… nhằm giải quyết
mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
5. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
5.1. Mục đích của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm
của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự cùng với việc làm rõ vấn đề quyền
công tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong trong giai đoạn
khởi tố vụ án hình sự, những quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách
7. Cơ cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc chia làm
3 chƣơng:
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ
TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN
HÌNH SỰ
CHƢƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN
HÀNH VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM
SÁT TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ
TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN
HÌNH SỰ
6
Chƣơng 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ
TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN
KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Trƣớc tiên, cần xác định KTVAHS không phải là hành vi tố tụng mà là một giai
đoạn tố tụng bắt đầu từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận những thông tin về
tội phạm, kiểm tra xác minh các thông tin đó, kết thúc khi xử lý nguồn tin, ra các quyết
định phù hợp theo quy định của pháp luật tố tụng. Trong trƣờng hợp xác định có dấu
hiệu của tội phạm thì ra quyết định khởi tố vụ án, nếu xác định không có dấu hiệu tội
phạm thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Do vậy, KTVAHS đƣợc coi là
thể khái niệm về KTVAHS nhƣ sau: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của
Tố tụng hình sự trong đó các cơ quan có thẩm quyền xác định một sự việc có dấu hiệu
của tội phạm hay không để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án
làm căn cứ tiến hành điều tra.
Từ khái niệm trên, có thể đƣa ra những đặc điểm chung, cơ bản của giai đoạn
khởi tố vụ án hình sự nhƣ sau:
Thứ nhất, giai đoạn khởi tố vụ án là giai đoạn TTHS đầu tiên, có thời hạn đƣợc
xác định từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện hoặc tiếp nhận các tố tụng ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Thứ hai, nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn KTVAHS chỉ xác định có hay không
có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không
khởi tố vụ án hình sự.
Thứ ba, chủ thể có thẩm quyền tiến hành các hoạt động trong giai đoạn khởi tố,
ngoài các cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, Tòa án) còn có những cơ quan
đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhƣ cơ quan Kiểm Lâm, Hải
quan, ... Những cơ quan này trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh thông tin về tội
phạm sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án
hình sự.
Thứ tư, các biện pháp mà các cơ quan có thẩm quyền đƣợc sử dụng trong giai
đoạn KTVAHS bao gồm: Biện pháp yêu cầu cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội hoặc
công dân cung cấp tài liệu cần thiết liên quan đến thông tin về tội phạm; thu thập dấu
8
vết phạm tội; áp dụng biện pháp tạm giữ; lấy lời khai của ngƣời bị tạm giữ; lấy lời
khai của ngƣời tố giác tội phạm... Bên cạnh đó hoạt động khám nghiệm hiện trƣờng có
thể đƣợc tiến hành trƣớc khi KTVA (về nguyên tắc, các hoạt động điều tra chỉ đƣợc
tiến hành khi đã có quyết định khởi tố vụ án).
Toàn bộ những vấn đề liên quan đến khởi tố vụ án hình sự đƣợc quy định từ Điều
100 đến Điều 109 của BLTTHS năm 2003, theo đó trình tự khởi tố vụ án hình sự đƣợc
quy định cụ thể tại điều 104 BLHS năm 2003 khi có căn cứ cụ thể quy định tại Điều
100 BLTTHS năm 2003 [31, tr. 154], [31, tr. 463].
Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý xác định nguồn thông
tin về tội phạm hoặc sự việc nào đó không có căn cứ khởi tố vụ án hình sự. Các trƣờng
hợp đƣợc sử dụng làm căn cứ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự đƣợc quy
định tại điều 107 BLHS năm 2003. Những căn cứ không đƣợc khởi tố vụ án hình sự
bao gồm: Không có sự việc phạm tội; Hành vi không cấu thành tội phạm; Ngƣời thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chƣa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Ngƣời mà
hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp
luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã đƣợc đại xá; Ngƣời
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trƣờng hợp cần tái thẩm đối với
ngƣời khác.
1.1.2. Khái niệm, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự
Trong khoa học pháp lí, thẩm quyền, nhiệm vụ và nghĩa vụ là các khái niệm khác
nhau. Thẩm quyền là “Tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các
cơ quan, tổ chức trong bộ máy Nhà nƣớc do luật pháp quy định” [52, tr. 459]. Quyền
hành động là quyền đƣợc làm những công việc nhất định, còn quyền quyết định là
quyền hạn giải quyết công việc đó trong phạm vi pháp luật cho phép (thẩm quyền hành
động). Nghĩa vụ là việc mà theo đó một chủ thể (cá nhân, cơ quan, tổ chức) phải thực
hiện hoặc không đƣợc thực hiện khi tham gia vào một quan hệ pháp luật. Còn nhiệm
vụ là công việc phải làm, phải gánh vác [49, tr. 1251]. Theo cách giải nghĩa này thì
nhiệm vụ nói chung là công việc mang tính bắt buộc đối với chủ thể phải thực hiện.
Tuy nhiên, khi nói đến nhiệm vụ ngƣời ta thƣờng nói đến công việc phải thực hiện của
ngƣời có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nƣớc khi thực hiện thẩm
quyền của cơ quan, tổ chức đó. Nhiệm vụ của một chủ thể xuất phát từ tƣ cách chủ thể
trong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và đƣợc pháp luật quy định. Cùng một
chủ thể, nhƣng mỗi quan hệ xã hội khác nhau thì quy định pháp luật xác định nhiệm
Có thể thấy, giữa “nhiệm vụ của Viện kiểm sát” và “quyền hạn của Viện kiểm
sát” có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ không thể tách rời. Nhiệm vụ, bản thân nó
11
cũng đã chứa đựng quyền hạn. Nhiệm vụ - quyền hạn tạo nên sự thống nhất trong
trạng thái cân bằng do pháp luật quy định. Khi pháp luật trao cho Viện kiểm sát một
nhiệm vụ nào đó thì cũng sẽ trao cho cơ quan này những quyền hạn nhất định để thực
hiện nhiệm vụ đó. Ngƣợc lại, nếu VKS có thể sử dụng quyền hạn trong một vụ án hình
sự cụ thể thì có nghĩa là cơ quan này đã đƣợc pháp luật trao cho nhiệm vụ giải quyết
vụ án đó và phải thực hiện đầy đủ nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác. Trên
thực tế không thể phân biệt hoạt động nào thể hiện nhiệm vụ của VKS và hoạt động
nào thể hiện quyền hạn của viện kiểm sát. Ví dụ: theo quy định tại điểm a khoản 2
Điều 36 BLTTHS, Viện trƣởng VKS có nhiệm vụ yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay
đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự. Đây vừa là nhiệm vụ và cũng là quyền hạn của
Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động tố tụng hình sự. Mối quan hệ này không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà
cả trong hoạt động thực tiễn. Nhận thức, sử dụng đúng quyền hạn theo nhiệm vụ, đúng
đối tƣợng, đúng mục đích giúp cho VKS có sự vận dụng đồng bộ, tổng hợp, linh hoạt
nhiệm vụ và quyền hạn qua đó phát huy tối đa hiệu quả hoạt động. Có thể nói nhiệm
vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát là hai bộ phận không tách rời trong quy định về địa
vị pháp lý của Viện kiểm sát cũng nhƣ việc thực hiện các quy định này trong thực tiễn.
Việc thực hiện quyền cũng đồng thời là việc thực hiện nhiệm vụ của của Viện kiểm sát
và ngƣợc lại.
Trong thực tiễn chính trị, pháp lý, thuật ngữ “trách nhiệm” thƣờng đƣợc hiểu
theo hai nghĩa: Thứ nhất, trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận trƣớc ngƣời khác, xã hội
hoặc Nhà nƣớc và đƣợc các quy phạm pháp luật quy định. Thứ hai, trách nhiệm là hậu
quả bất lợi phải gánh chịu trƣớc ngƣời khác, trƣớc xã hội hoặc Nhà nƣớc do đã có
hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó. Trong BLTTHS năm 2003 không quy
định về trách nhiệm của Viện kiểm sát. Tuy nhiên với tƣ cách là chủ thể những hoạt
nhƣng trong bộ máy nhà nƣớc có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp, tƣ pháp. Mỗi cơ quan Nhà nƣớc đƣợc pháp luật quy
định chức năng nhất định để thực hiện quyền lực nhà nƣớc thống nhất. Viện kiểm sát
nhân dân là cơ quan đƣợc Hiến pháp quy định hai chức năng: Thực hành quyền công
tố và Kiểm sát hoạt động tƣ pháp.
“Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và
thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật
định." (Điều 107 Hiến pháp năm 2013).
13
“Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp
luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân địa
phương thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở địa phương
mình. Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp theo quy định của pháp luật.” (Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
2002).
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, Viện kiểm sát thực hiện hai chức
năng: Thực hành quyền công tố và Kiểm sát hoạt động tƣ pháp. Trong tố tụng hình sự,
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật (Điều 23
BLTTHS năm 2003).
Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình
sự.
Để làm rõ nội dung vấn đề thực hành quyền công tố trong khởi tố vụ án hình sự,
trƣớc hết chúng ta cần làm rõ vấn đề: Quyền công tố và thực hành quyền công tố.
“Công tố” theo Từ điển Tiếng Việt có nghĩa là: “Điều tra, truy tố và buộc tội kẻ
Nhƣ vậy, đối tƣợng của quyền công tố là tội phạm và ngƣời phạm tội, phạm vi
quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm đƣợc thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu
lực pháp luật không bị kháng nghị.
Việc tiến hành những biện pháp do luật định đƣợc Nhà nƣớc giao trách nhiệm
thực hiện các biện pháp pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm
tội là thực hành quyền công tố: Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các
quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.
Quan điểm của tác giả luận văn về cơ bản là nhất trí với nội dung trên nhƣng cần
bổ sung thêm nhƣ sau: Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền
năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với ngƣời phạm tội trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử,
bởi vì khởi tố là một giai đoạn tố tụng độc lập, hoạt động thực hành quyền công tố
phải đƣợc tiến hành ngay khi có sự việc phạm tội xảy ra.
Nội dung thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án bao
gồm các nhiệm vụ, quyên hạn để phát động quyền công tố – khởi tố vụ án và một số
hoạt động khác.
15
- Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự.
Để làm rõ vấn đề này, trƣớc tiên ta phải hiểu thế nào là “kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự”. Theo tác giả luận văn thì có thể đi đến nhận thức
vấn đề, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong KTVAHS là hoạt động kiểm sát các
hoạt động tƣ pháp hình sự có đối tƣợng là hành vi xử sự của các cơ quan có thẩm
quyền KTVAHS đƣợc pháp luật quy định, nhằm bảo đảm cho việc khởi tố vụ án đƣợc
nhanh chóng, kịp thời, có căn cứ, đúng pháp luật.
Nội dung của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án là những biện
pháp mà VKS không trực tiếp ra quyết định, qua công tác kiểm sát, nếu phát hiện các
vi phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án thì kiến nghị, kháng
phát triển xã hội, một xã hội ổn định là một xã hội ít tội phạm. Phòng ngừa và đấu
tranh chống tội phạm không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mọi công dân, tổ
chức trong xã hội. Trong công cuộc giữ gìn an ninh trật tự xã hội, vai trò của những
đơn vị trực tiếp đấu tranh chống tội phạm là vô cùng quan trọng. Viện kiểm sát là cơ
quan trực tiếp đấu tranh chống tội phạm. Với những nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng hình sự mà Nhà nƣớc giao phó, là đảm bảo cho mọi hành vi
phạm tội đều đƣợc phát hiện xử lý, việc điều tra, truy tố, xét xử đúng ngƣời đúng tội,
không bỏ lọt tội phạm, không làm oan ngƣời vô tội, đảm bảo mọi hoạt động tƣ pháp
hình sự đƣợc thực hiện đúng quy định của pháp luật. Góp phần bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân đƣợc pháp luật bảo hộ, nâng cao hiệu quả hoạt động phòng
ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
2. Trong giai đoạn KTVAHS, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm cụ thể để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hành
vi sử xự của các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án. Qua nghiên cứu một số vấn đề
lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự, tác giả luận văn đã xây dựng đƣợc khái niệm thế nào là “nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự”, qua
đó thấy đƣợc vai trò quan trọng của VKS trong công tác phòng, chống tội
phạm.Những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm mà Nhà nƣớc giao cho nhằm đảm
bảo cho cơ quan Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS.
3. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình trong giai đoạn
KTVAHS, VKS có quyền tự mình khởi tố vụ án hình sự, yêu cầu Cơ quan điều tra
khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án; quyết định áp dụng, thay đổi,
17
hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, chấp nhận hoặc không chấp nhận quyết định khởi tố vụ
án của các cơ quan khác có thẩm quyền. Mọi quyết định khởi tố vụ án hình sự của các
tra, Viện kiểm sát phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự…”. Điều đó dẫn tới việc
khởi tố vụ án bị chồng chéo, đồng thời làm giảm hiệu quả của công tác thực hành
quyền công tố của VKS. Khắc phục tình trạng trên, BLTTHS năm 2003 đã thu hẹp
phạm vi khởi tố vụ án hình sự của VKS. Theo đó thì VKS chỉ đƣợc ra quyết định khởi
tố vụ án trong 2 trƣờng hợp đó là: VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của
CQĐT, HĐXX yêu cầu khởi tố vụ án. VKS không chủ động phát hiện và khởi tố vụ án
hình sự.
Yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hoặc thay đổi, bổ sung quyết định
khởi tố vụ án, kháng nghị quyết định khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử.
Thứ nhất: Yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án. Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 quy định khi thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp trong
hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, VKS yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án hình sự
theo quy định tại khoản 2 Điều 36. So với BLTTHS năm 1988 thì BLTTHS năm 2003
quy định cụ thể và rõ ràng hơn. Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 không quy định cụ
19
thể về thẩm quyền yêu cầu khởi tố vụ án của VKS nhƣng theo hƣớng dẫn tại điểm 2
mục 2 Thông tƣ liên ngành số 03/TTLN ngày 19/05/1992 thì khi kiểm sát việc giải
quyết tin báo, tố giác tội phạm của CQĐT, VKS có quyền yêu cầu khởi tố hoặc ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự, chuyển cho CQĐT để tiến hành điều tra. Nhƣ vậy, so
với các quy định của pháp luật trƣớc đây thì quyền hạn của VKS bị giới hạn hơn rất
nhiều.
Thứ hai: VKS thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003 quy định vấn đề này tại Điều 106 nhƣ sau: “Khi có căn cứ xác định
tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm
khác thì CQĐT, VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án
hình sự”. Còn BLTTHS năm 1988 không quy định về vấn đề này. Nhƣ vậy để thấy
đƣợc sự đổi mới trong các quy định của pháp luật hiện hành xác định rõ nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm của VKS trong việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ