BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỖ XUÂN HƯNG
CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN XÉT
XỬ PHÚC THẨM HÌNH SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số: 60380104
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Tuân
HÀ NỘI, NĂM 2016
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu...........................................................................................................
1
CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA
VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ PHÚC THẨM
HÌNH SỰ......................................................................................................
7
23
3.1. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật TTHS về chức năng
của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự từ năm 1945
đến trước năm 2003.......................................................................................
25
3.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960.................................................
25
3.1.2. Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1980.................................................
26
3.1.3. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992.................................................
27
3.1.4. Giai đoạn từ năm 1992 đến nay...........................................................
28
4.1. Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm của một số
28
42
2.1.3. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
52
2.2. Thực trạng thực hiện chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét
xử phúc thẩm những năm gần đây..........................................................
57
2.2.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân............................................
57
2.2.1.1. Những kết quả đạt được....................................................................
57
2.2.1.2. Nguyên nhân của kết quả đạt được............................................
60
2.3. Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn thực hiện chức năng của VKS
trong giai đoạn xét xử phúc thẩm và nguyên nhân........................................
62
2.3.1. Những tồn tại và hạn chế..............................................................
trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự...............................................
74
2.3.1. Cải giải pháp về pháp luật............................................................
74
2.3.2. Các giải pháp về tổ chức...............................................................
78
2.3.2.1. Về tổ chức và chức năng của VKS trong TTHS..........................
79
2.3.2.2. Về công tác quản lý, chỉ đạo à điều hành...................................
80
2.3.3. Các giải pháp về con người............................................................
81
Kết luận............................................ ............................................ ...............
84
1
nói riêng đã đạt được những kết quả đáng kể và đã góp phần tích cực vào cuộc
đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ có hiệu quả lợi ích của xã hội, các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm việc xét xử của Toà án đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật. Bằng việc kháng nghị kịp thời theo các thủ tục phúc
thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với các bản án, quyết định của Toà án có
vi phạm pháp luật, VKS các cấp đã góp phần hạn chế có hiệu quả tình trạng oan
sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động thực hiện chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn của VKS trong TTHS nói chung và xét xử các vụ án
hình sự nói riêng cũng còn bộc lộ nhiều yếu kém, hạn chế chưa đáp ứng được đầy
đủ và kịp thời yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay như: trong một số
trường hợp còn bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội; việc kháng nghị còn
hạn chế và chất lượng, hiệu quả chưa cao; việc tham gia xét hỏi và tranh luận tại
phiên toà hình sự chưa tích cực, chủ động; tinh thần trách nhiệm, trình độ và kỹ
năng nghiệp vụ của KSV còn nhiều hạn chế, bất cập ...,
Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm tìm ra được các nguyên nhân của những bất
cập, hạn chế nêu trên để đưa ra các giải pháp đồng bộ, hữu hiệu nhằm nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động thực hiện chức năng của VKS trong xét xử phúc
thẩm hình sự là một yêu cầu cấp thiết, khách quan hiện nay.
Giai đoạn hiện nay, chúng ta đang đẩy nhanh tiến trình cải cách tư pháp theo
tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020”, trong đó việc tổ chức lại hệ thống các cơ quan Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát và Toà án được xác định là một khâu mang tính đột phá. Một trong
những nội dung quan trọng trong Nghị quyết này đề ra là “nghiên cứu chuyển
Viện kiểm sát thành Viện công tố...”. Yêu cầu này đã đặt ra cho khoa học pháp lý
cần có phương pháp tiếp cận mới, có cách nhìn mới cả về phương tiện lý luận và
3
thực tiễn về chức năng, nhiệm vụ của VKS trong TTHS nói chung và trong xét xử
trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật
học là cần thiết nhằm kế thừa có chọn lọc những thành tựu đạt được của các công
trình nghiên cứu nêu trên, góp phần bổ sung, hoàn thiện cả về mặt lý luận và thực
tiễn cho hoạt động thực hiện chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
vụ án hình sự.
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề chung
về chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự và các hình
thức thực hiện chức năng này. Trên cơ sở phân tích và chỉ ra những bất cập, hạn
chế và vướng mắc trong thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng của VKS trong
giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này của VKS, đáp ứng các yêu cầu của
công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ chủ yếu sau
đây:
- Phân tích cơ sở pháp lý về chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử phúc
thẩm vụ án hình sự ;
- Làm rõ nội dung chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ
án hình sự;
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thực hiện chức năng của VKS
trong giai đoạn xét phúc thẩm vụ án hình sự những năm gần đây; chỉ ra những bất
cập, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của chúng;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho VKS
trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự.
5
4. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về mặt thực tiễn:
Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng
làm tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thiện các quy định của pháp luật về
chức năng của VKS trong TTHS. Ngoài ra, nội dung của luận văn cũng có thể sử
dụng làm tài liệu tham khảo để xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, bồi
dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ KSV nhằm đáp ứng các yêu cầu của công
cuộc cải cách tư pháp hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
của Luận văn gồm 02 chương.
7
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ PHÚC THẨM HÌNH SỰ
1.1. Khái quát chung về chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình
sự
Theo Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát
năm 2014 thì: Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp.
1.1.1. Quyền công tố và thực hành quyền công tố
Quyền công tố
Khi nghiên cứu chức năng của Viện kiểm sát chúng ta hay đề cập đến khái
niệm thực hành quyền công tố, bên cạnh đó lại xuất hiện khái niệm quyền công tố
hay Công tố quyền. Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất
Nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước. Tủy từng kiểu Nhà nước
trong từng thời kỳ nhất định và với những điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội,
con người, yếu tố văn hóa, yếu tố truyền thống chính trị của mỗi quốc gia để thiết
kế một bộ máy nhà nước khác nhau. Do vậy, quyền công tố cũng có những khác
danh công quyền đối với người phạm tội nên đối tượng của quyền công tố chỉ là tội
phạm và người phạm tội [41, tr5-6].
Quan điểm thứ năm cho rằng “Công tố là buộc tội, đưa một người ra trước
tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa” [11. tr. 32]
Quan điểm thứ sáu thì cho rằng “Quyền công tố là quyền do các cơ quan tiến
hành tố tụng thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án hình sự từ giai đoạn khởi tố
vụ án đến giai đoạn thi hành án” [16, tr. 14].
Như vậy, các quan điểm trên hoặc là đã mở rộng phạm vi quyền công tố
sang cả các lĩnh vực khác; hoặc là đã thu phạm vi quyền công tố trong một giai
đoạn cụ thể là giai đoạn Viện kiểm sát truy tố người phạm tội và thực hiện chức
9
năng buộc tội tại phiên tòa; hoặc coi quyền công tố là một quyền năng cụ thể của
Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Nhìn chung các quan điểm trên phần nào vẫn có
những hạt nhân hợp lý, tuy nhiên các quan điểm trên vẫn chưa phân định rõ khái
niệm, bản chất, nội dung, phạm vi của quyền công tố, để làm rõ được khái niệm
này trước hết cần phải xuất phát từ các cơ sở lý luận và thực tiễn sau:
- Quyền công tố là quyền lực công xuất hiện gắn liền với sự ra đời của Nhà
nước và pháp luật: “Quyền công tố tồn tại trong tất cả các kiểu Nhà nước từ Nhà
nước chủ nô đến Nhà nước hiện đại” [16, tr, 118-119]. Nhà nước ra đời và tồn tại
trong một xã hội có giai cấp đối kháng không thể điều hòa được. Đồng thời bất cứ
kiểu Nhà nước nào cho dù sơ khai nhất cũng ban hành ra pháp luật để điều chỉnh
các mối quan hệ xã hội ở các mức độ khác nhau và để bảo vệ lợi ích của giai cấp
cầm quyền, trừng phạt những người có ý chí chống lại giai cấp cầm quyền thông
qua việc buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi được coi là tội phạm. Do vậy,
bản chất của quyền công tố chính là quyền nhân danh Nhà nước để bảo vệ lợi ích
công đó chính là sự buộc tội.
- Thiết chế nhà nước càng phát triển ở mức đọ cao thì sự phân công, phân
nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội và thực hiện sự buộc
tội đối với người đó trước phiên toà.
Từ khái nhiệm trên có thể xác định được đối tượng, nội dung và phạm vi của
quyền công tố
Đối tượng của quyền công tố là yếu tố mà quyền công tố tác động tới nhằm
thực hiện mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự. Với cách hiểu này, đối tượng của
quyền công tố không gì có thể khác hơn là tội phạm và người phạm tội.
Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội với người đã thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội bị coi là phạm tội.
11
Phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi phạm tội xảy ra và kết thúc khi
bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật.
Thực hành quyền công tố
Tương tự như vấn đề quyền công tố, khi đề cập đến hoạt động thực hành
quyền công tố, trong thời gian qua có không ít quan điểm nhận thức không chính
xác, rõ ràng hoặc nhầm lẫn giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố, giữa
thẩm quyền của VKS với các quyền năng pháp lý để thực hiện thẩm quyền đó.
Như đã phân tích ở trên, quyền công tố là quyền của Nhà nước truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này phát sinh ngay từ khi có
hành vi phạm tội xảy ra và kết thúc khi phán quyết của Toà án nhân danh công lý
tuyên phạt đối với người đã thực hiện tội phạm có hiệu lực pháp luật. Quyền công
tố thể hiện rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội do chính hành vi
phạm tội làm phát sinh. Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu
tranh chống tội phạm, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy
định các quyền năng pháp lý mà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Các quyền năng đó được giao cho cơ
quan nhà nước nào thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội thì cơ quan đó được coi là cơ quan thực hành quyền
đến khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, không phải tội phạm
nào xảy ra cũgn đều được phát hiện kịp thời và tiến hành khởi tố (những trường
hợp tội phạm ẩn) hoặc khi đã phát hiện tội phạm xảy ra nhưng cũng cần có những
hoạt động xác minh, thu thập tài liệu trước khi khởi tố (các hoạt động tiền tố tụng).
Mặc khác, không phải mọi trường hợp việc THQCT đã được phát động đều kết
thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật mà có thể kết thúc sớm hơn khi có một
trong những căn cứ được quy định trong BLTTHS. Như vậy, trong thực tế thì
phạm vi THQCT thường hẹp hơn phạm vi của quyền công tố. Phạm vi THQCT bắt
đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi nào bản án có hiệu lực pháp luật,
13
không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc vụ án bị đình chỉ theo quy định của pháp luật
TTHS.
Nội dung THQCT: Hiện nay vẫn còn một số quan điểm chưa thống nhất về
nội dung THQCT. Có quan điểm cho rằng, nếu coi khởi tố vụ án hoặc bắt, tạm
giam bị can là nội dung THQCT thì cả Cơ quan điều tra và Toà án cũng là cơ quan
THQCT. Chúng tôi cho rằng nhận thức này là không chính xác vì không phải cứ
khởi tố vụ án hoặc bắt tạm giam bị can, bị cáo đều là THQCT và cũng không phải
chỉ có truy tố và buộc tội mới là THQCT. Nội dung của THQCT là việc sử dụng
tổng hợp các quyền năng pháp lý để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội. Vì vậy, chỉ có cơ quan nào được phép sử dụng tất cả các
quyền năng pháp lý này để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
trong suốt quá trình TTHS thì mới là cơ quan THQCT. Ở nước ta chỉ có VKS mới
là cơ quan THQCT.
Ở đây cũng cần xác định rõ trong TTHS, thì những quyền năng pháp lý nào
thuộc về nội dung THQCT và những quyền năng pháp lý nào thuộc về nội dung
KSVTTPL. Trên cơ sở các quy định của BLTTHS và Luật tổ chức VKSND chúng
tôi cho rằng: Những quyền năng pháp lý mà VKS tự quyết định và liên quan đến
việc cáo buộc bị can, bị cáo là những quyền năng thuộc nội dung THQCT; những
các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng,
áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp
luật của những cơ quan hoặc cá nhân này”. Như vậy, có thể nói theo quy định của
pháp luật thì chỉ có một chủ thể duy nhất là VKS có chức năng KSVTTPL trong
TTHS.
Mặc khác, theo quy định tại Điều 32 BLTTHS, thì các chủ thể khác (như các
cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử...) có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; giám sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo
của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vấn đề đặt ra ở đây là
15
các chủ thể này có được cọi là một trong các chủ thể của hoạt động KSVTTPL
trong TTHS hay không? Chúng tôi cho rằng “giám sát” và “kiểm sát” là hai khai
niệm khác nhau. Quyền giám sát của các chủ thể nêu trên đối với hoạt động của
các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng,... chỉ là hoạt động mang
tính tự nguyện nhằm hướng tới việc “phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật” và
“loại trừ vi phạm pháp luật” của những cơ qun hoặc cá nhân trong TTHS. Còn
KSVTTPL là các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ chức năng hoạt động chuyên trách
của một cơ quan nhà nước là VKS. Sự khác nhau giữa hoạt động kiểm sát của
VKS và hoạt động giám sát của các chủ thể khác chính là phương thức và các
quyền năng pháp lý mà pháp luật cho phép VKS khi thực hiện chức năng
KSVTTPL. Tuy nhiên, xuất phát từ ý nghĩa đặc biệt quan trọng của hoạt động
giám sát nỳa nên có thể coi đây là các thiết chế bổ trợ cho hoạt động KSVTTPL
trong TTHS.
Ngoài ra, không thể không nhắc tới vai trò giám sát lẫn nhau giữa các cơ
quan tiến hành tố tụng. Xuất phát từ đặc thù của quan hệ phối hợp, chế ước lẫn
nhau trong TTHS, Cơ quan điều tra, Toà án có thể phát hiện và kiến nghị xử lý các
quyết định, hành vi tố tụng của nhau và của VKS nếu nhận thấy có vi phạm pháp
luật.
nhiệm vụ, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của
những người tham gia tố tụng. Vì vậy, kiểm sát hoạt động của các chủ thể trong
TTHS chính là kiểm sát việc các chủ thể có tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định
của pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hay không.
Hoạt động của các chủ thể trong TTHS bao gồm: Hoạt động của các cơ quan
tiến hành tố tụng và tương ứng là hoạt động của những người tiến hành tố tụng;
Hoạt động của những người tham gia tố tụng như: người bị tạm giữ, tạm giam, bị
can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bào chữa, người
làm chứng...Tóm lại, việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia vào TTHS
17
là đối tượng của KSVTTPL trong TTHS. Tất nhiên, đối tượng của KSVTTPL
trong TTHS không thể bao gồm việc tuân theo pháp luật của chính bản thân VKS.
Phạm vi KSVTTPL
Theo quy định của pháp luật TTHS, thì hoạt động KSVTTPL của VKS được
thực hiện liên tục trong toàn bộ các giai đoạn của quá trình TTHS. Tuy nhiên, hoạt
động KSVTTPL trong mỗi giai đoạn tố tụng lại do các chủ thể - các VKS khác
nhau (theo phân cấp) thực hiện. Căn cứ vào chủ thể thực hiện hoạt động này có thể
phân hoạt động KSVTTPL trong TTHS thành các hoạt động cụ thể sau: Hoạt động
KSVTTPL ở trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm vụ án (hoạt động
này do VKS cấp sơ thẩm thực hiện); Hoạt động KSVTTPL ở giai đoạn xét xử phúc
thẩm (do VKS cấp phúc thẩm thực hiện); Hoạt động KSVTTPL ở giai đoạn giám
đốc thẩm, tái thẩm (do VKS cấp giám đốc thẩm, tái thẩm thực hiện).
Nội dung KSVTTPL
Nội dung của hoạt đọng KSVTTPL trong TTHS được thể hiện qua các
quyền năng pháp lý mà VKS được sử dụng để phát hiện vi phạm và yêu cầu xử lý
vi phạm của các chủ thể tham gia vào TTHS, nhằm đảm bảo cho pháp luật được
chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Căn cứ vào các quy định của BLTTHS 2003 và Luật tổ chức VKSND 2014
trong quá trình xét xử nếu thấy cần thiết, Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét cả
những phần khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị.Từ đó có thể thấy,
căn cứ để tiến hành xét xử phúc thẩm là kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm. Hay căn cứ làm phát sinh trình tự, thủ tục xét xử phúc thẩm đó chính là
kháng cáo, kháng nghị. Đây cũng là một dấu hiệu để phân biệt với các hình thức
xét xử khác.
Mối quan hệ giữa chức năng chung của VKS trong TTHS và chức năng của
VKS trong từng giai đoạn TTHS cụ thể là mối quan hệ giữ “cái chung” và “cái
19
riêng”, giữa “tổng thể” và “bộ phận. Vì vậy, từ chức năng chung của VKS trong
TTHS bao gồm chức năng THQCT và chức năng KSVTTPL, có thể rút ra kết luận
trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự, VKS cũng thực hiện hai chức năng là
THQCT và KSVTTPL. Khái niệm, phạm vi, nội dung THQCT và KSVTTPL trong
giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự cũng được xác định trên cơ sở khái niệm, phạm
vi, nội dung của THQCT và KSVTTPL trong TTHS nói chung.
2.1.1. Khái niệm, đối tượng, phạm vi và nội dung THQCT trong giai
đoạn xét xử phúc thẩm hình sự
Khái niệm THQCT trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Là một giai đoạn độc lập của quá trình TTHS, xét xử phúc thẩm phát sinh
trên cơ sở kháng cáo của bị cáo, của những người tham gia tố tụng khác hoặc
kháng nghị của VKS cùng cấp hoặc của VKS cấp trên trực tiếp. Nhiệm vụ của giai
đoạn này là xét xử lại vụ án về mặt nội dung cũng như kiểm tra lại tính hợp pháp
và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có
hiệu lực thi hành ngay.
Vì vậy, từ khái niệm chung về THQCT trong TTHS đã đề cập ở trên, có thể
rút ra khái niệm: THQCT trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là hoạt động của VKS
thực hiện các quyền năng pháp lý theo quy định của pháp luật TTHS nhằm bảo
đảm việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và
khi tranh luận KSV phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án. Mặt
khác, theo quy định tại Điều 241 BLTTHS, Toà án cấp phúc thẩm xem xét nội
dung kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết thì Toà án có thể xem xét cả
các phần kháng không bị kháng cáo, kháng nghị. Vì vậy, nội dung hoạt động
THQCT trong xét xử phúc thẩm cũng được thực hiện tương ứng với phạm vi xét
xử của Toà án cấp phục thẩm, tưc là VKS chỉ thực hiện hoạt động THQCT đối với
21
những vấn đề thuộc nội dung kháng cáo, kháng nghị và những vấn đề khác khi
thấy cần thiết.
2.1.2. Khái niệm, đối tượng, phạm vi và nội dung KSVTTPL trong giai
đoạn xét xử phúc thẩm hình sự
Khái niệm KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự hoạt động KSVTTPL có nội dung
là kiểm tra, giám sát hoạt động thực hiện pháp luật của Toà án và những người
tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự nhằm bảo đảm cho việc
xét xử được tiến hành đúng các quy định của pháp luật.
Từ khái niệm chung về KSVTTPL trong TTHS có thể rút ra khái niệm:
KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là tổng hợp các quyền năng pháp lý
của VKS, có nội dung là kiểm tra, giám sát hoạt động tuân theo pháp luật của tất cả
các chủ thể tham gia TTHS trong giai đoạn phúc thẩm nhằm bảo đảm cho pháp
luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất.
Đối tượng của KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Đối tượng của KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự là sự
tuân theo pháp luật của Toà án cấp phúc thẩm và những người tham gia tố tụng
trong giai đoạn tố tụng này. Khi tiến hành các hoạt động kiểm sát, VKS không chỉ
dựa trên các quy định của BLTTHS mà còn trên các căn cứ pháp lý khác là Hiến
pháp, Luật tổ chức VKSND, BLHS và các văn bản pháp luật khác liên quan để
kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể là đối tượng của hoạt động