Chức năng của Việt kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự - Pdf 25



5
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN Mai Văn Thùy

MỤC LỤC

1.1.1.
Khái niệm thực hành quyền công tố
11
1.1.2.
Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
17
1.2.
Đặc điểm và hình thức thực hiện chức năng của Biện kiểm sát
trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
23
1.2.1.
Đặc điểm chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử
vụ án hình sự
25
1.2.2.
Các hình thức thực hiện chức năng của Viện kiểm sát trong
giai đoạn xét xử vụ án hình sự
28

Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH
31
2.1.
Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về
chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự
31
2.1.1.
Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về

60
3.1.
Thực trạng thực hiện chức năng của Viện kiểm sát trong giai
đoạn xét xử các vụ án hình
60
3.1.1.
Những kết quả đã đạt được trong việc thực hiện chức năng
của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
60
3.1.2.
Những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện chức năng
của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
64
3.1.3.
Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong việc thực
hiện chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án
hình sự
69
3.2.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thực hiện chức
năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
74

KẾT LUẬN
84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
86 9
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết vụ án một cách công khai, dân chủ, công bằng, không làm
oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm đồng thời đảm bảo công lý được
thực thi không những thuộc về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng mà còn là đòi hỏi cấp thiết của xã hội, nhất là
chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Muốn làm được điều này chúng ta phải tổ chức và phân định rạch ròi nhiệm
vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng một cách khoa
học, hợp lý dựa trên những tiêu chí về chức năng của tố tụng hình sự trong
Nhà nước pháp quyền, đó là chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội và chức
năng xét xử. Ở nước ta trong những năm gần đây, hệ thống các cơ quan tư
pháp được củng cố và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp bước đầu
đã được cải thiện, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra
trong tình hình mới. Theo tinh thần của Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005
của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định:
"Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chính sách hình sự, chế định
pháp luật dân sự và pháp luật về tổ chức tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập,
chậm được sửa đổi, bổ sung. Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế
hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý" [10] và đề ra chiến lược
cải cách là: "xác định rõ chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ
chức, bộ máy các cơ quan tư pháp" [10].
Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc

Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng
như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư
pháp. Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với tổ chức của
Tòa án. Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố,
tăng cường trách nhiệm của Công tố trong hoạt động điều tra [10]. 11
Do đòi hỏi việc nghiên cứu một cách có hệ thống và đề xuất phương
hướng hoàn thiện chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án
hình sự ở Việt Nam hiện nay là việc làm cần thiết có ý nghĩa cả về mặt lý luận
cũng như thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhằm hiện thực hóa chủ trương về cải cách tư pháp, trong đó Viện
kiểm sát nhân dân sẽ hướng chuyển thành Viện công tố, những năm qua đã có
một số công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề này. Qua tìm hiểu
các tài liệu hiện hành cho thấy các công trình khoa học tập trung nghiên cứu
theo những khía cạnh sau:
- Nhóm nghiên cứu thứ nhất gồm các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
các đề tài nghiên cứu khoa học và sách về đổi mới tổ chức hoạt động, chức
năng của Viện kiểm sát nhân dân.
Những công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới
chức năng của Viện kiểm sát nhân dân, điển hình như sách của tác giả Lê
Minh Thông (Chủ biên): Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2001; Luận văn Thạc sĩ luật học của Nguyễn Hữu Khoa: Chức
năng của Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Trường Đại học
Luật Hà Nội, năm 2009; Luận án tiến sĩ luật học của Lê Thị Tuyết Hoa:
Quyền công tố ở Việt Nam, Hà Nội, 2002; Đề tài khoa học cấp bộ của ThS.
Nguyễn Xuân Hà - Phạm Hoàng Diệu Linh: Hoàn thiện các quy định của Bộ

nào nghiên cứu cụ thể, toàn diện về chức năng của Viện kiểm sát trong xét xử
vụ án hình sự, chưa đánh giá một cách có hệ thống những điểm còn hạn chế
trọng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự,
chưa phân tích nguyên nhân và các giải pháp khắc phục. Nhóm nghiên cứu
thứ hai về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được đăng trên các tạp chí
chuyên ngành cũng chỉ dừng lại ở việc phân tích, làm rõ một vài khía cạnh
của vấn đề. Vì vậy đây là vấn đề tồn tại cần được tiếp tục nghiên cứu nhất là 13
trong bối cảnh chúng ta đang nghiên cứu, thực hiện chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020, làm sáng tỏ vấn đền này cả về mặt lý luận cũng như thực
tiễn tạo cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về chức năng
của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu của
cải cách tư pháp, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử của Tòa án
đồng thời đảm bảo chất lượng tranh tụng tại tòa, góp phần đấu tranh phòng,
chống tội phạm, chống làm oan người vô tội và chống bỏ lọt tội phạm cũng
như bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Xét thấy đây là thời điểm thích hợp cho việc nghiên cứu một cách
khoa học để tìm hiểu chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử các
vụ án hình sự đồng thời tìm ra những nguyên nhân tồn tại và các giải pháp
khắc phục. Đây cũng là lý do mà học viên chọn đề tài "Chức năng của Viện
kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự" để làm luận văn thạc sĩ Luật
học, chuyên ngành Luật hình sự.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích
Những nghiên cứu của luận văn nhằm góp phần hoàn thiện cơ sở lý
luận về chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự và
đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về chức
năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu

cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận văn được sử dụng trong
Luận văn là phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp luật học so sánh,
khảo sát thực tiễn, đối thoại với chuyên gia và các nhà hoạt động thực tiễn
trong lĩnh vực luật học.
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ các quy định về chức năng của Viện kiểm sát
trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự. Trên cơ sở đó góp phần hoàn thiện các 15
quy định của pháp luật liên quan đến chức năng của Viện kiểm sát trong giai
đoạn xét xử vụ án hình sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề về chức năng của Viện kiểm sát trong giai
đoạn xét xử vụ án hình sự.
Chương 2: Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chức năng
của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình.
Chương 3: Thực trạng và một số kiến nghị nâng cao chất lượng thực
hiện chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.

16
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự như cơ quan Công tố trước
đây, đồng thời kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội
đồng chính phủ, cơ quan nhà nước ở địa phương, các nhân viên Nhà nước và
công dân. Tiếp đó tại các bản Hiến pháp 1980, 1992 và các văn bản pháp luật
có liên quan từng bước có quy định rõ ràng hơn về tổ chức và hoạt động của
Viện kiểm sát. Đó là Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang
nhân dân, các nhân viên Nhà nước, công dân; thực hành quyền công tố và bảo
đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất.
Điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi chức năng của các cơ quan nhà
nước cũng phải thay đổi cho phù hợp với hoạt động trong tình hình mới.
Trong đó hệ thống cơ quan Viện kiểm sát cũng không phải là ngoại lệ, sự thay
đổi lớn nhất về chức năng từ trước tới nay. Điều đó được thể hiện qua Nghị
quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992, theo đó tại Điều 2 Hiến pháp
1992 ghi nhận: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối
hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp" [31]. Trong đó chức năng của Viện kiểm sát được điều
chỉnh theo hướng đề cao chức năng công tố so với giai đoạn trước đây và thu
hẹp chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà
nước, công dân bằng chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp. Theo đó
Điều 137 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: Viện kiểm
sát có chức năng "thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp" [32]. Trên cơ sở của Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 18
năm 2002 quy định "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và

Viện kiểm sát có chức năng phát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật của Cơ
quan điều tra, Điều tra viên và các chủ thể khác để kiến nghị, sửa chữa, hủy
bỏ các quyết định không có căn cứ pháp luật của Cơ quan điều tra qua đó tìm
ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội để áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội
phạm và các vi phạm pháp luật của các cá nhân, cơ quan nhà nước, các tổ
chức xã hội. Từ sự phân tích trên cho thấy: Chức năng của Viện kiểm sát
trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự là thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp trong xét xử vụ án hình sự. Để hiểu rõ chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đặc biệt là chức năng
thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử trước hết cần phải nghiên cứu
khái niệm, nội dung, phạm vi, chủ thể thực hành quyền công tố và kiểm sát
xét xử trong tổng thể của cả quá trình giải quyết vụ án hình sự. Hay nói cách
khác là nghiên cứu chức năng của Viện kiểm sát trong bộ máy nhà nước nói
chung, chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự nói riêng. Như vậy,
có thể khẳng định rằng trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát đồng thời thực
hiện hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật.
1.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố
Khi nghiên cứu chức năng của Viện kiểm sát chúng ta hay đề cập đến
khái niệm thực hành quyền công tố, bên cạnh đó lại xuất hiện khái niệm
quyền công tố hay Công tố quyền. Có quan điểm cho rằng: "Thực hành quyền
công tố là việc thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp
luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa
người phạm tội ra xét xử trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó" [11]. Đây là
những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cần làm sáng tỏ, nó liên quan
trực tiếp đến chức năng của Viện kiểm sát. Tuy vậy trên thực tiễn lại có nhiều
cách hiểu khác nhau dẫn đến chưa có sự nhận thức một cách thống nhất,
chính thống về các khái niệm, nội dung, chủ thể của hai thuật ngữ trên. Xét về

21
Quan điểm thứ tư cho rằng quyền công tố là quyền buộc tội (quyền
truy cứu trách nhiệm hình sự) nhân danh Nhà nước (nhân danh quyền lực
công) đối với kẻ phạm tội.
Quyền này là quyền của Nhà nước giao cho một cơ quan
thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát). Để làm được điều
này, cơ quan công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy
đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên
cơ sở đó truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó tại
phiên tòa. Và do quyền công tố là truy cứu trách nhiệm hình sự
nhân danh công quyền đối với người phạm tội nên đối tượng của
quyền công tố chỉ là phạm và người phạm tội [35, tr. 5-6].
Quan điểm thứ năm cho rằng: "Công tố là buộc tội, đưa một người ra
trước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa" [11, tr. 32].
Quan điểm cuối cùng lại cho rằng: "Quyền công tố là quyền do các cơ
quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án hình sự từ
giai đoạn khởi vụ án đến giai đoạn thi hành án" [16, tr, 14].
Như vậy các quan điểm trên hoặc là đã mở rộng phạm vi quyền công
tố sang cả các lĩnh vực khác; hoặc là đã thu phạm vi quyền công tố trong một
giai đoạn cụ thể là giai đoạn Viện kiểm sát truy tố người phạm tội và thực
hiện chức năng buộc tội tại phiên tòa; hoặc coi quyền công tố là một quyền
năng cụ thể của Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Nhìn chung các quan điểm
trên phần nào vẫn có những hạt nhân hợp lý, tuy nhiên các quan điểm trên vẫn
chưa phân định rõ khái niệm, bản chất, nội dung, phạm vi của quyền công tố,
để làm rõ được khái niệm này trước hết cần phải xuất phát từ các cơ sở lý
luận và thực tiễn sau:
- Quyền công tố là quyền lực công, xuất hiện và gắn liền với sự ra đời
của Nhà nước và pháp luật: "Quyền công tố tồn tại trong tất cả các kiểu Nhà

là mọi hoạt động để thực hành quyền công tố trước hết phải nhằm mục đích
bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, nghĩa vụ chứng minh tội 23
phạm và người phạm tội thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng, trong khi đó ở
các lĩnh vực tố tụng khác nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự.
- Bản chất của tố tụng hình sự là hoạt động của các cơ tố tụng hình sự
trong việc phát hiện, xác định và xử lý chủ thể thực hiện hành vi phạm tội
được thể hiện ở ba chức năng chính là chức năng buộc tội, chức năng bào
chữa và chức năng xét xử. Trong đó chức năng buộc tội là hoạt động truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội. Hình thức
buộc tội là nhân danh Nhà nước (công quyền) giữ vai trò là động lực chính
thu hút hoạt động của tất cả các chủ thể tham gia tố tụng.
Như vậy, công tố là quyền lực thuộc về Nhà nước, là quyền nhân danh
Nhà Nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực
hiện hành vi bị coi là tội phạm. Quyền này được Nhà nước giao cho một cơ
quan thực hiện trong việc phát hiện và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội. Cơ quan được giao thực hiện chức năng thực hành quyền
công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập chứng cứ để xác định tội phạm
và đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc
tội đó tại phiên tòa. Qua đó có thể xác định được đối tượng, nội dung, phạm
vi của quyền công tố. Đối tượng công tố là yếu tố mà quyền lực công tố tác
động vào nhằm đạt mục đích cụ thể của quyền công tố, đó có thể là mục đích
buộc tội được người phạm tội để trừng phạt, khôi phục trật tự pháp luật đã bị
xâm hại, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của cơ quan nhà nước, tổ chức
chính trị…Do vậy quyền công tố là quyền lực nhà nước, do Nhà nước đứng ra
thay mặt xã hội thực hiện việc buộc tội nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội và đối tượng của quyền công tố
nhắm tới chính là tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Nội dung

khi bản án hình sự được tòa án xét xử có hiệu lực pháp luật không bị kháng
cáo, kháng nghị hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật. Tuy
nhiên thực tế thì không phải bất kỳ vụ án nào xảy ra các cơ quan bảo vệ pháp
luật cũng có thể phát hiện ra để xử lý một cách kịp thời. Đây là mối quan hệ
giữa khả năng và việc thực hiện hóa khả năng, giữa Nhà nước trao quyền và
việc thực hiện quyền lực đó trên thực tế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 25
Việc xác định rõ khái niệm, phạm vi thực hành quyền công tố là cơ sở
xác định nội dung thực hành quyền công tố. Đó là hoạt động của Viện kiểm
sát trong việc ban hành các quyết định tố tụng, trực tiếp tiến hành một số hoạt
động điều tra, ra các yêu cầu điều tra đối với cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng…trong việc giải quyết một vụ án
hình sự nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi bị
coi là tội phạm, bao gồm các hoạt động cụ thể của quyền công tố như khởi tố
vụ án, khởi tố bị can; ban hành các lệnh, quyết định, yêu cầu hay trực tiếp tiến
hành một số hoạt động điều tra; đọc cáo trạng, xét hỏi, tranh luận, luận tội…
Như vậy: "Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền
năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử" [2, tr. 11].
1.1.2. Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
hình sự
Thuật ngữ "kiểm sát việc tuân theo pháp luật" lần đầu tiên trong lịch
sử lập hiến nước ta tại Hiến pháp năm 1959, sau đó là Hiến pháp năm 1980,
được cụ thể hóa trong các văn bản luật: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
1960, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981, Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân 1992, Bộ luật Tố tụng hình sự 1988. Đến thời điểm năm 2001, đã
xuất hiện cụm từ "kiểm sát các hoạt động tư pháp" - Điều 137 Hiến pháp 1992
(sửa đổi năm 2001) quy định: "Viện kiểm sát nhân dân (Viện kiểm sát nhân

hiện qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp lý
của hành vi, quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về quyền, lợi
ích giữa các chủ thể pháp luật, do vậy, chủ thể thực hiện quyền tư
pháp chỉ là Tòa án và hoạt động xét xử [12, tr. 11].
Đây là quan niệm về quyền tư pháp theo nghĩa hẹp.
Cũng có quan điểm cho rằng:
Tư pháp là xét xử, giải quyết các tranh chấp trong xã hội,
thực hiện quyền tư pháp là thay mặt Nhà nước phán quyết về xung đột 27
pháp lý, vi phạm pháp luật do Tòa án tiến hành. Nhưng để đi đến
các phán quyết đó cần có sự tham gia của nhiều cơ quan. Do vậy
hoạt động tư pháp là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, các
cơ quan thực hiện một số hoạt động tố tụng, các cơ quan bổ trợ tư
pháp (giám định tư pháp, công chứng tư pháp, luật sư) [15, tr. 27-28].
Đây là quan niệm về quyền tư pháp theo nghĩa rộng.
Quan điểm thứ ba cho rằng:
Hoạt động tư pháp là hình thức thực hiện những chức năng,
thẩm quyền tương ứng do luật định của hệ thống Tòa án mà thông
qua đó các chức năng của nhánh quyền lực thứ ba trong Nhà nước
Pháp quyền biến thành hiện thực, có bốn hình thức cơ bản là: Hoạt
động giải thích các quy phạm pháp luật, hoạt động xét xử (tài
phán), hoạt động kiểm tra tính hợp pháp trong việc áp dụng các chế
tài về hành chính, tố tụng hình sự và hình sự của các cơ quan bảo vệ
pháp luật, hoạt động xác nhận sự kiện (hành vi) có ý nghĩa pháp lý
trong đời sống xã hội hoặc hạn chế quyền chủ thể tương ứng của
các công dân trong quá trình giải quyết các mối quan hệ xã hội hoặc
làm hạn chế quyền chủ thể tương ứng của các công dân trong quá
trình giải quyết các mối quan hệ xã hội [3, tr. 14].

- Hoạt động của những người tham gia tố tụng: Bao gồm hoạt động
của người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
(người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); hoạt động của người tham gia tố tụng để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; hoạt động của người tham
gia tố tụng nhằm giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật vụ án (người
làm chứng, người giám định, người phiên dịch).
- Bộ luật Tố tụng hình sự còn quy định cả nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra, các cơ quan, tổ chức và công dân trong việc thực hiện một số biện 29
pháp ngăn chặn, thi hành bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng
Như vậy, trong một chừng mực nhất định, đây cũng là các hoạt động tố tụng
hình sự.
Tất cả các hoạt động nêu trên đều phát sinh trong lĩnh vực tố tụng hình
sự, có thể coi là các hoạt động tố tụng hình sự, do đó, kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng hình sự là kiểm sát tất cả các hoạt động của các chủ
thể nêu trên.
Theo lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, quyền lực là hiện tượng
khách quan trong quan hệ xã hội, quyền lực nhà nước dù được tổ chức theo
nguyên tắc nào, phân công hay phân quyền thì hoạt động tư pháp cũng là hoạt
động thực hiện quyền lực nhà nước, một trong những sự giám sát Nhà nước
về tư pháp. "Kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của Viện
kiểm sát, có nội dung giám sát mọi hoạt động của các cơ quan tư pháp trong
quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, nhằm đảm bảo cho
pháp luật tố tụng hình sự thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất" [37, tr. 22]. Về
bản chất thì kiểm sát các hoạt động tư pháp là kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc thực hiện quyền tư pháp. Tuy nhiên có một số điểm khác biệt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status