BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
GIÀNG THỊ HOA
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
GIÀNG THỊ HOA
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành:
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến giảng viên,
TS. Bùi Thị Huyền, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn
thiện luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể các Thầy, Cô đã giảng dạy Lớp
Cao học Tây Bắc đã truyền đạt kiến thức, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập,
nghiên cứu tại trường và trong suốt thời gian hoàn thành luận văn của mình.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Giàng Thị Hoa
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
Bộ luật Dân sự
BLDS năm 1995
Bộ luật dân sự năm 1995
BLDS năm 2005
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
năm 1989
PLTTGQCVAKT
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
năm 1994
TANDTC
Toà án nhân dân tối cao
Tòa án
Toà án nhân dân
Viện kiểm sát
Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
VVDS
Vụ việc dân sự
2.1.2. Kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự ........................................................25
2.1.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong quá trình kiểm sát việc lập
hồ sơ vụ việc dân sự ..........................................................................................28
2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi tham gia phiên tòa sơ
thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự ................................................................29
2.2.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa sơ thẩm ..... 29
2.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tại phiên họp sơ thẩm .... 40
2.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc kháng nghị bản
án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật và tham gia tố tụng ở cấp phúc thẩm .41
2.3.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc kháng nghị
bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật ..................................................41
2.3.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn chuẩn
bị tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm .....................................................43
2.3.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa,
phiên họp phúc thẩm .........................................................................................44
2.4. Nhiệm vụ, quyền hạn kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật và tham gia thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện kiểm sát nhân dân ...46
2.4.1. Nhiệm vụ, quyền hạn kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Viện kiểm sát nhân dân .......................................................................46
2.4.2. Nhiệm vụ, quyền hạn tham gia thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện
kiểm sát nhân dân..............................................................................................48
2.5. Nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát
nhân dân ................................................................................................................49
2.5.1. Nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện quyền yêu cầu của Viện kiểm sát nhân
dân .....................................................................................................................49
2.5.2. Nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hiện quyền kiến nghị của Viện kiểm sát
nhân dân ............................................................................................................50
Kết luận Chương 2 ...................................................................................................52
hành ngày càng sâu rộng.
Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng
đến năm 2020 trong đó xác định rõ: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và
hoạt động của Viện kiểm sát theo hướng bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn
công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Nghiên cứu hướng tới chuyển thành Viện Công
tố”. Tiếp đó, ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị có Nghị quyết số 49-NQ/TW cũng tiếp tục
khẳng định: “Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên nhiệm vụ, quyền hạn
như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện kiểm
sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án. Nghiên cứu
chuyển Viện kiểm sát thành Viện Công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong
hoạt động điều tra”. Như vậy, những Nghị quyết nêu trên đã chỉ rõ đổi mới tổ chức
và hoạt động của Viện kiểm sát nói chung cũng như nâng cao vị trí, nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện kiểm sát nói riêng trong tố tụng dân sự là một trong những nhiệm vụ
quan trọng cần được thực hiện, đáp ứng đường lối, chiến lược cải cách tư pháp của
nước ta trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Theo tinh thần quy định của các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự,
kinh tế, lao động trước đây thì Kiểm sát viên tham gia kiểm sát việc tuân theo pháp
luật hầu hết các vụ việc dân sự nhưng tại Điều 21 BLTTDS năm 2004 hạn chế phạm
vi tham gia phiên toà của Viện kiểm sát đối với vụ án dân sự.
BLTTDS năm 2004 quy định Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đối với những vụ
án dân sự do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, tham gia các phiên
họp giải quyết các việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án; các vụ việc dân sự mà
Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án dựa trên quan điểm tôn trọng
2
quyền tự định đoạt của các bên đương sự trong tố tụng dân sự. Thực tiễn thi hành
BLTTDS năm 2004 cho thấy quy định của BLTTDS về sự tham gia của Viện kiểm sát
3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ tầm quan trọng của Viện kiểm sát trong thực tiễn giải quyết các vụ
việc dân sự, đã có nhiều công trình khoa học được công bố liên quan đến vị trí, vai trò
của Viện kiểm sát trong tố tung dân sự như: Các đề tài luận văn thạc sỹ, tiến sỹ, các
bài viết trên các tạp chí chuyên ngành luật, sách chuyên khảo, chuyên đề tổng kết rút
kinh nghiệm của các ngành Kiểm sát, Tòa án... Từ tình hình nghiên cứu liên quan đến
đề tài nêu trên, có thể phân loại tài liệu thành hai nhóm sau:
- Nhóm thứ nhất, các bài viết liên quan đến vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp như: “Đổi
mới vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư
pháp” của tác giả Nguyễn Minh Hằng, sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Tư pháp năm
2008; “Hoàn thiện chế định Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ luật tố tụng dân sự”, đề
tài khoa học cấp Bộ của tiến sĩ Trần Văn Trung, năm 2003; Luận án tiến sĩ ”Quá
trình hình thành, phát triển và đổi mới Viện kiểm sát nhân dân theo yêu cầu cải cách
tư pháp ở Việt Nam”của tác giả Trần Văn Nam, năm 2010; Luận văn thạc sĩ luật học
“Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu
cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Thế Anh, năm 2006; Luận văn
thạc sĩ luật học ”Sự tham gia tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
Việt Nam” của tác giả Võ Thị Phượng, năm 2010; “Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát
trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành”, ”Nhận thức đúng thẩm quyền và trách
nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ luật tố tụng dân sự” của tác giả Khuất
Văn Nga đăng trên tạp chí Kiểm sát số 09 năm 2004;...
- Nhóm thứ hai, nhóm các chuyên đề báo cáo tổng kết, rút kinh nghiệm như:
“Kết luận của TS. Khuất Văn Nga - Nguyên Phó Viện trưởng VKSNDTC tại Hội nghị
sơ kết 1 năm thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự về thực hiện các quy định về quyền và
trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Kiểm sát số
3.2. Nhiệm vụ
Từ mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự.
- Làm rõ thực tiễn thực hiện những quy định của pháp luật tố tụng dân sự về
nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự tại tỉnh Điện Biên, từ đó
xác định những hiệu quả, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của
Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự tại tỉnh Điện Biên trong thời gian tới; bảo đảm cho
việc giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án có căn cứ, đúng pháp luật; bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, xã hội và công dân.
5
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện những quy định của pháp luật về
vị trí, vai trò chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát trong tố tụng
dân sự tại tỉnh Điện Biên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát
trong tố tụng dân sự; việc tổ chức thực hiện các quy định về vị trí, vai trò của Viện
kiểm sát trong tố tụng dân sự trên thực tế và những quy định của pháp luật có liên
quan đến các vấn đề nêu trên.
Do luận văn được thực hiện tại thời điểm BLTTDS năm 2011 vẫn đang có hiệu
lực pháp luật, BLTTDS năm 2015 đã được ban hành nhưng chưa có hiệu lực pháp
luật nên luận văn sẽ phân tích đánh giá các quy định của BLTTDS năm 2011, có so
sánh với BLTTDS năm 2015 và phạm vi nghiên cứu thực tiễn thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện kiểm sát Việt Nam trong tố tụng dân sự của ngành Kiểm sát tỉnh
- Nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện kiểm sát tại địa bàn tỉnh Điện Biên
- Đề xuất những phương hướng cơ bản về đổi mới vị trí, vai trò của Viện kiểm
sát trong tố tụng dân sự tại tỉnh Điện Biên, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ về lý luận cũng như thực tiễn quá trình tiếp tục đổi mới
vị trí, vai trò và việc hoàn thiện mô hình hoạt động của Viện kiểm sát trong tố tụng
dân sự.
- Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự tại
tỉnh Điện Biện nhằm đảm bảo cho việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án
khách quan, có căn cứ, đúng pháp luật.
- Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các nhà
khoa học, những người làm công tác thực tiễn tại tỉnh Điện Biên; đồng thời có thể
được sử dụng cho việc nghiên cứu, giảng dạy cho các cơ sở đào tạo khoa học pháp lý.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương.
Chương 1. Những vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
nhân dân trong tố tụng dân sự
Chương 2. Nội dung quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quy định
nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
Chương 3. Thực tiễn thực hiện tại tỉnh Điện Biên và một số kiến nghị nhằm
hoàn thiện pháp luật, tăng cường nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng dân sự tại tỉnh Điện Biên.
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN
Từ điển Luật học (2006), Nxb Từ điển Bách Khoa- NXB tư pháp, Hà Nội (trang 459)
8
niệm “thẩm quyền” bao hàm hai nội dung chính là quyền hành động và quyền quyết
định của cơ quan, tổ chức trong bộ máy Nhà nước. Quyền hành động là quyền được
làm những công việc nhất định, còn quyền quyết định là quyền hạn giải quyết công
việc đó trong phạm vi pháp luật cho phép (thẩm quyền hành động). “Nghĩa vụ” là
việc mà theo đó một chủ thể (cá nhân, cơ quan, tổ chức) phải thực hiện hoặc không
thực hiện khi tham gia vào một quan hệ pháp luật. Thuật ngữ “nhiệm vụ” được hiểu là
“công việc phải làm, gách vác”3 hay “công việc phải làm vì một mục đích và trong
một thời gian nhất định”4. Theo cách giải thích này thì nhiệm vụ nói chung là công
việc mang tính chất bắt buộc đối với chủ thể phải thực hiện. Nhiệm vụ của một chủ
thể xuất phát từ tư cách chủ thể trong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được
pháp luật quy định. Cùng một chủ thể, nhưng mỗi quan hệ xã hội khác nhau thì quy
định pháp luật xác định nhiệm vụ khác nhau. Do đó, có thể hiểu nhiệm vụ của cơ
quan Viện kiểm sát là những hoạt động cụ thể của Viện kiểm sát trong một thời gian
nhất định nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành mình để cùng thực hiện
nhiệm vụ của bộ máy Nhà nước trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự là những yêu cầu cụ thể do
Nhà nước đặt ra và được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân, BLTTDS và các văn bản pháp luật khác mà Viện kiểm sát phải thực hiện
bằng những hình thức, biện pháp nhất định trong quá trình giải quyết vụ việc dân
sự, cụ thể là:
- Bảo đảm việc giải quyết các vụ án dân sự ở Tòa án các cấp nhanh chóng,
khách quan, toàn diện, đầy đủ và kịp thời;
- Bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của Tòa án có căn cứ và đúng
pháp luật;
- Bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của của Tòa án đã có hiệu lực pháp
tùy theo tính chất và mức độ giải quyết vụ việc dân sự sẽ không chính xác. Nhiệm vụ
của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự được xác định bắt buộc trong những trường
hợp quy định tại Điều 21 BLTTDS năm 2011 (Điều 21 BLTTDS năm 2015).
Tuy nhiên, khái niệm quyền hạn và nhiệm vụ đặt trong một điều kiện với
một chủ thể xác định thì quyền hạn và nhiệm vụ là tương đối thống nhất. Pháp luật
quy định nhiệm vụ của Viện kiểm sát phải thực hiện những công việc gì, đồng
nghĩa là pháp luật trao cho Viện kiểm sát những quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ
đó. Hiện tại, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nói chung được quy định
trong Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2014. Còn trong tố tụng dân sự, nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện kiểm sát được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật tố
tụng dân sự qua các thời kỳ.
Như vậy, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự là quyền quyết
định thực hiện các hoạt động tố tụng nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng dân sự.
5
Nguyễn Như Ý và đ.t.g (1999), Đại từ điển Tiếng Việt (1999), NXb Văn hóa- thông tin- Trung tâm ngôn ngữ
và văn hóa Việt Nam, Bộ Giáo dục đào tạo (tr 1384)
6
Từ điển Luật học (2006), NXB Từ điển Bách khoa- Nxb tư pháp, Hà Nội (trang 651).
10
1.1.2. Đặc điểm
Thứ nhất, nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát do pháp luật quy định. Nếu
Viện kiểm sát không thực hiện hoặc thực hiện những hoạt động nằm ngoài quy định
của pháp luật thì sẽ phải chịu những chế tài nhất định. Đây chính là nội dung trong
nguyên tắc pháp chế - nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của các cơ
tụng, song khác với Tòa án - chủ thể bắt buộc phải có trong mọi phiên tòa giải quyết
vụ, việc dân sự. Về mặt pháp lý, Viện kiểm sát chỉ tham gia một số hoạt động kiểm
sát như kiểm sát việc thụ lý, kiểm sát bản án ...và tham gia phiên tòa trong một số
trường hợp nhất định.
Khi tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ án dân sự, kiểm sát viên đại
diện cho Viện kiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát mà pháp
luật tố tụng dân sự quy định. Đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án,
người tham gia tố tụng, đặc biệt là trong trường hợp kiểm sát viên tham gia phiên tòa,
phiên họp dân sự. Pháp luật tố tụng dân sự trong từng thời kỳ có những quy định khác
nhau về nhiệm vụ quyền hạn của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa, phiên họp giải
quyết vụ việc dân sự. So với Điều 21 BLTTDS 2011, Điều 21 BLTTDS 2004 và Điều
21 BLTTDS 2015 có sự mở rộng hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên.
BLTTDS 2004 và BLTTDS 2015 đều quy định, kiểm sát viên không chỉ có nhiệm vụ,
quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng
và tham gia tố tụng mà có quyền phát biểu ý kiến về nội dung giải quyết vụ án của
Tòa án7. Hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát vừa thể hiện sự giám sát, vừa thể hiện
sự hỗ trợ cùng Tòa án giải quyết vụ việc dân sự.
BLTTDS qua các thời kỳ và các văn bản quy phạm pháp luật đã khẳng định rõ
về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát. Theo đó, Viện kiểm sát
vẫn là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát là
người tiến hành tố tụng. Được coi là cơ quan tiến hành tố tụng, song các quyền và
nghĩa vụ của Viện kiểm sát chủ yếu để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, nhằm đảm bảo tính
hợp pháp và có căn cứ trong hoạt động xét xử của Tòa án.
Thứ ba, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát được thực hiện thông qua hoạt
động của kiểm sát viên và Viện trưởng Viện kiểm sát. Đứng đầu Viện kiểm sát là
Viện trưởng Viện kiểm sát. Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, pháp luật
tố tụng quy định Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn như: tổ
chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động
công tố được tổ chức rất gọn nhẹ, chủ yếu tham gia vào các lĩnh vực hình sự 10. Các
công tố viên có thể được tuyển chọn theo từng vụ việc cụ thể. Mặc dù hiện nay tình
hình đã có nhiều thay đổi nhưng ở các nước này vẫn tồn tại một quan niệm: “Càng ít
có sự can thiệp của Nhà nước, càng ít có sự can thiệp của pháp luật thì xã hội càng
vận hành có hiệu quả”. Theo pháp luật của những nước này (ví dụ: Đan Mạch, Thụy
Điển...) thì Viện công tố không có vai trò gì trong vụ án dân sự. Trong quá trình tố
tụng, các công tố viên không tham gia trong quá trình lập hồ sơ, xét xử, không có
quyền kháng nghị11...
8
Khoản 1 Điều 44 BLTTDS năm 2011.
Xem Điều 45 BLTTDS năm 2011.
10
Trang 11, Hội thảo pháp luật tố tụng dân sự, Nhà pháp luật Việt Pháp, năm 2000
11
Trang 35- Kỷ yếu Dự án về pháp luật tố tụng dân sự- Dự án VIE/95/017- Tăng cường năng lực xét xử tại
Việt Nam
9
13
Đối với các nước theo hệ thống luật lục địa (civil law) như Pháp, Việt Nam...
thì Nhà nước hình thành một hệ thống cơ quan công tố có vị trí, vai trò lớn trong lĩnh
vực kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thẩm quyền kháng nghị trong các thủ tục tố
tụng. Xuất phát từ vai trò được trao, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công tố (hay Viện
kiểm sát) cũng lớn hơn. Tại Pháp, trong lĩnh vực tố tụng dân sự, Viện công tố có hai
vai trò chính: thực hiện quyền khởi kiện như một bên đương sự; thực hiện quyền yêu
cầu áp dụng pháp luật, với tư cách như một cơ quan tiến hành tố tụng. Ngoài ra, Viện
công tố còn có một hình thức can thiệp thứ ba với vai trò là người đại diện cho các cơ
1.2.2. Việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự và việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ của đương sự ảnh hưởng đến quy định của pháp luật về nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân
Pháp luật tố tụng dân sự giải quyết những tranh chấp các lợi ích tư giữa các
đương sự. Mục đích trực tiếp của pháp luật tố tụng dân sự là bảo vệ lợi ích tư của các
đương sự nên một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự là trao
quyền tự quyết cho đương sự - chủ thể của các lợi ích. Các chủ thể tiến hành tố tụng
chỉ thực hiện các nhiệm vụ làm sáng tỏ vụ việc để giải quyết trên cơ sở pháp luật chứ
không thay mặt cho đương sự quyết định những lợi ích của chính họ. Do đó, trong tố
tụng dân sự quyền tự định đoạt của đương sự luôn được tôn trọng và bảo đảm thực
hiện. Việc tham gia tố tụng của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc
dân sự của Tòa án được chính xác, khách quan, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự nhưng không được hạn chế quyền tự định đoạt của đương sự. Mọi
cá nhân có quyền tự mình lựa chọn những phương thức giải quyết tranh chấp dân sự
miễn sao không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Những biện pháp giải quyết tranh
chấp thay thế như hòa giải, thương lượng, trọng tài đều được khuyến khích. Trong
trường hợp không thỏa mãn với những giải pháp đó, các chủ thể có quyền yêu cầu
Tòa án giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình. Trong suốt quá trình tố tụng kể từ khi khởi kiện đến trước khi kết thúc phiên
tòa, các đương sự có quyền thay đổi, bổ sung, rút bớt hay bãi bỏ yêu cầu của mình.
Tuy nhiên, để đảm bảo tính chất tranh tụng tại phiên tòa, việc thực hiện nguyên tắc
này cũng có những ngoại lệ nhất định, đó là trường hợp đương sự không thể tự ý thay
đổi, bổ sung yêu cầu nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu đó diễn ra tại phiên tòa mà
vượt quá giới hạn đã khởi kiện ban đầu. Vì thế vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng
dân sự có sự khác biệt với vai trò đại diện Nhà nước ra cáo trạng buộc tội đối với bị
cáo trong pháp luật tố tụng hình sự khi giải quyết quan hệ giữa một bên là Nhà nước,
đại diện cho lợi ích công và một bên là người phạm tội
Trong tố tụng dân sự, do quan hệ pháp luật dân sự đa dạng về nội dung, hình
thức và chủ thể tham gia. Khi tham gia các quan hệ dân sự, các chủ thể thực hiện
đó, để đảm bảo tính khách quan, đại diện Viện kiểm sát cần tham gia phiên tòa để
kiểm sát chặt chẽ hoạt động xét xử của Tòa án.
1.3. Khái quát về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong
tố tụng dân sự Việt Nam qua các thời kỳ
1.3.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công tố (tiền thân của Viện kiểm sát
nhân dân) trong tố tụng dân sự giai đoạn từ 1945 đến 1959
Ngay từ sau cách mạng tháng Tám thành công, để xây dựng và củng cố chính
quyền cách mạng non trẻ, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt văn bản pháp luật quy
13
Theo Báo cáo số 14/BC-TA ngày 30/8/2011 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về công tác của các Tòa
án tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIII
14
Theo Báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về công tác của các Tòa án tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội
khóa XIII
16
định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Pháp luật Nhà nước ta trong
giai đoạn này quy định về vị trí, chức năng và nhiệm vụ của công tố viên trong tố
tụng dân sự như sau: Trong cuộc cải cách tư pháp ở nước ta lần đầu: Sắc lệnh số 13
ngày 24/01/1946 về tổ chức Tòa và các ngạch thẩm phán theo quy định thẩm phán
được chia thành hai ngạch: sơ cấp và nhị cấp (trong đó, Thẩm phán ở ngạch đệ nhị
cấp được chia thành hai loại: thẩm phán xét xử và thẩm phán buộc tội). Công tố viện
lúc đó được ra đời ở Tòa thượng thẩm và chịu sự lãnh đạo của Bộ trưởng Bộ tư pháp,
đứng đầu Công tố viện là Chưởng lý. Cơ quan công tố không được thành lập ở tòa đệ
nhị mà chỉ có cán bộ làm công tác biện lý. Trong giai đoạn này, Thẩm phán buộc tội
đã hợp thành một bộ phận độc lập và chịu sự lãnh đạo của Chưởng lý. Khi tham gia
phiên tòa, “Biện lý ngồi ghế Công tố viên”. Sắc lệnh số 7/SL ngày 15/01/1946 còn
sự giai đoạn từ 1960 đến 1988
Sau khi Hiến pháp 1959 ra đời, Công tố viện chính thức được chuyển thành
Viện kiểm sát, được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất từ trung ương đến
địa phương và không phụ thuộc vào cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính địa
phương. Ngoài chức năng công tố, Viện kiểm sát còn được giao chức năng kiểm sát
việc tuân theo pháp luật từ các Bộ trở xuống; trong đó có cả hệ thống các Tòa án.
Quyền hạn và nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự được quy định cụ thể
tại các Điều 17, 18 và 19 Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 1960. Theo quy định tại các
điều trên thì VKSNDTC và các Viện kiểm sát địa phương có quyền:
- Khởi tố hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan
đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân;
- Kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án cùng cấp và
cấp dưới một cấp;
- Kiểm sát việc chấp hành các bản án và các quyết định của Tòa án.
Khi VKSNDTC thấy các bản án hoặc các quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án các cấp là sai lầm thì có quyền kháng nghị và Viện kiểm sát địa phương
thấy các bản án hoặc các quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp mình
hoặc cấp dưới là sai lầm thì báo cáo lên VKSNDTC để kháng nghị.
Ngày 13/7/1981, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
Điều 3 và Điều 13 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 quy định cụ thể
các hình thức tham gia kiểm sát xét xử của Tòa án như tham gia tố tụng tại phiên tòa;
kháng nghị các bản án quyết định của Tòa án và khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan Nhà
nước, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân cùng cấp khởi tố những vụ án dân
sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính
đáng của nhân dân.
Nhìn chung, cho đến năm 1989 trở về trước nhiệm vụ và quyền hạn của Viện
kiểm sát trong tố tụng dân sự không được quy định trong các văn bản pháp luật nào