LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy,
chính xác và trung thực. Những kết luận khoa
học của luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thị Minh
6
1.1.3.
Nguyên tắc của hoạt động điều tra
8
1.1.4.
Yêu cầu của hoạt động điều tra vụ án hình sự
11
1.2.
Các biện pháp điều tra
14
1.3.
Khái quát các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện
pháp điều tra trong tố tụng hình sự
16
1.3.1.
Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1989
16
1.3.2.
Từ năm 1989 đến năm 2003
19
1.3.3.
Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
21
Chương 2: quy định của luật tố tụng hình sự việt nam về các biện pháp
điều tra
25
2.1.
Khởi tố bị can và hỏi cung bị can
25
46
2.5.2.
Khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm
47
2.5.3.
Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại
bưu điện
48
2.6.
Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu
vết trên thân thể
50
2.6.1.
Khám nghiệm hiện trường
50
2.6.2.
Khám nghiệm tử thi
53
2.6.3.
Xem xét dấu vết trên thân thể
55
2.7.
Thực nghiệm điều tra
56
2.8.
Trưng cầu giám định
58
2.8.1.
Việc tiến hành giám định
63
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật tố tụng hình sự được ban hành nhằm đảm bảo việc đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân. Ý nghĩa đó được thể hiện trong suốt quá trình tố tụng ở giai đoạn
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Để đạt được mục đích đó, Bộ
luật Tố tụng hình sự quy định quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan và người
tiến hành tố tụng (gồm các cơ quan chức năng của Nhà nước, các tổ chức xã
hội và công dân) nhằm phát hiện và xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội,
không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.
Trong quá trình đổi mới đất nước, do tác động của mặt trái nền kinh tế
thị trường, của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tình hình tội phạm ở nước ta
trong thời gian vừa qua và trong những năm tới đang và sẽ diễn biến rất phức
tạp, chưa có chiều hướng giảm. Tội phạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt về thủ
đoạn, phương thức và ngày càng nghiêm trọng về tính chất, mức độ nguy
hiểm. Điều tra là một hoạt động trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm
xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Công
tác điều tra rất quan trọng, điều tra đúng là cơ sở để xét xử đúng; điều tra sai
là sai ngay từ bước đầu, dễ dẫn tới xét xử sai, vi phạm nghiêm trọng tới
quyền, lợi ích của công dân.
Ngày 17/3/2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số
388/NQ-UBTVQH11 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có
thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, đã nhận được sự hưởng
ứng đồng tình từ phía đông đảo nhân dân. Điều này không chỉ có ý nghĩa lớn
đối với những người bị oan sai mà còn ảnh hưởng lớn tới tâm lý của tất cả
sự, đã đề cập đến các biện pháp điều tra hình sự. Tuy nhiên các công trình này
mới chỉ đề cập tới vấn đề mang tính bình luận các quy định của pháp luật
hoặc chiến thuật điều tra mà chưa đi phân tích thực tiễn hoạt động điều tra, 3
phân tích các bất cập, hạn chế, từ đó đưa ra đề xuất về giải pháp hoàn thiện,
cũng như những kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật về các biện pháp
điều tra trong tố tụng hình sự.
Cho đến nay, trong khoa học pháp lý Việt Nam chưa có một công
trình chuyên khảo nghiên cứu sâu, toàn diện, đầy đủ về biện pháp điều tra
trong tố tụng hình sự.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích
Trên cơ sở luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn về điều tra hình sự cũng
như các biện pháp điều tra hình sự cụ thể, luận văn đề xuất những giải pháp
cơ bản về các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
+ Nghiên cứu một số vấn đề chung về biện pháp điều tra;
+ Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp
điều tra và thực tiễn áp dụng các biện pháp đó;
+ Đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao
hiệu quả áp dụng các biện pháp điều tra trong thực tiễn.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các biện pháp điều tra trong tố tụng
hình sự cả về phương diện quy phạm pháp luật cũng như về thực tiễn
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
1.1. KHÁI NIỆM, NHIỆM VỤ, NGUYÊN TẮC, YÊU CẦU CỦA HOẠT
ĐỘNG ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1.1. Khái niệm
Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó
cơ quan Điều tra và các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra
được sử dụng các biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để thu thập
chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên
quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án. Đồng thời, thông qua
hoạt động điều tra xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng vụ
án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức
hữu quan.
Điều tra là hoạt động của cơ quan, người tiến hành tố tụng thu thập
chứng cứ, tài liệu, để xác định sự thật khách quan về hành vi phạm tội, người
phạm tội và những tình tiết khác liên quan đến tội phạm để làm cơ sở cho việc
xử lý tội phạm.
Cơ quan điều tra có nhiệm vụ điều tra ban đầu để làm kết luận điều tra
và đề nghị truy tố. Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động điều
tra vụ án của cơ quan điều tra và khi cần thiết có thể trực tiếp tiến hành các
hoạt động điều tra. Tòa án thực hiện nhiệm vụ điều tra thông qua việc xét hỏi,
kiểm tra công khai các tài liệu, chứng cứ và những tình tiết của vụ án tại
phiên tòa.
Điều tra vụ án hình sự là một dạng hoạt động nhận thức đặc biệt, bởi
vì hoạt động điều tra có đặc điểm pháp lý, thể hiện ở chỗ đối tượng nhận thức 6
của hoạt động điều tra là tội phạm đã xảy ra. Những phương tiện, biện pháp
được áp dụng trong hoạt động điều tra phải phù hợp với pháp luật, không trái
với giá trị pháp lý của kết quả điều tra vụ án.
liệu, chứng cứ của vụ án và đưa vào hồ sơ vụ án. Để tạo điều kiện cho quá
trình truy tố, xét xử một cách khách quan, toàn diện, trong quá trình điều tra,
Điều tra viên cần phải áp dụng mọi biện pháp được pháp luật cho phép để
thực hiện quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, đặc biệt là
quyền khiếu nại, tố cáo của người bị hại, của bị can, nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự.
Nhiệm vụ tiếp theo của giai đoạn điều tra là đảm bảo bồi thường thiệt
hại: nhiệm vụ này phải được thực hiện nhanh chóng từ giai đoạn điều tra, nếu
thực hiện chậm trễ sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí không thực hiện được do
những đối tượng liên quan đến vụ án đã cất giấu, tẩu tán, tiêu thụ, hợp lý hóa
nguồn gốc của những tài sản chiếm đoạt được bằng con đường phạm tội.
Nhiệm vụ này được thực hiện khi trong quá trình điều tra, Điều tra
viên thu giữ được những tài sản, tiền bạc và những giá trị vật chất khác bị bọn
tội phạm chiếm đoạt và trao trả cho cơ quan, tổ chức và công dân có lợi ích bị
bọn phạm tội xâm hại. Trong những trường hợp không thực hiện được việc
trao trả tài sản, tiền bạc và những giá trị vật chất khác cho cơ quan, tổ chức xã
hội và công dân có lợi ích bị bọn phạm tội xâm hại, thì hoạt động điều tra phải
làm rõ chính xác mức độ thiệt hại, những bị can nào phải bồi thường và mức
độ bồi thường của từng bị can.
Trong quá trình điều tra, Điều tra viên cần khẩn trương tiến hành các
biện pháp như khám xét, kê biên tài sản, tiền bạc và những giá trị vật chất
khác để bảo đảm khả năng thực tế bồi thường thiệt hại. Đặc biệt, Điều tra
viên, cán bộ điều tra phải giải thích cặn kẽ cho những người tham gia tố tụng
quyền khiếu nại dân sự và thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền
lợi của nguyên đơn dân sự. 8
Một nhiệm vụ không kém phần quan trọng trong giai đoạn điều tra là
làm rõ các nguyên nhân, điều kiện phạm tội để đề xuất những biện pháp khắc
đắn, kịp thời những kiến nghị, khiếu nại, tố cáo có ý nghĩa đối với việc giải
quyết đúng đắn vụ án của những người tham gia tố tụng, nhất là người bị hại,
bị can.
Toàn diện trong hoạt động điều tra có nghĩa là hoạt động điều tra phải
làm rõ tất cả những tình tiết của vụ án bằng cách xây dựng tất cả những giả
thuyết điều tra nhằm giải thích các tình tiết chưa rõ của vụ án và kiểm tra
những giả thuyết đó. Toàn diện của hoạt động điều tra đòi hỏi Điều tra viên
phải điều tra làm rõ sự thật của vụ án ở mọi phương diện.
Đầy đủ trong hoạt động điều tra có nghĩa là hoạt động điều tra phải
làm rõ tất cả những vấn đề cần chứng minh theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự đủ để giải quyết đúng đắn vụ án. Điều tra viên không những phải xác
định chính xác những vấn đề cần chứng minh mà còn phải lập luận chứng
minh từng vấn đề đó bằng những chứng cứ cần thiết để có đủ cơ sở chắc chắn,
tin cậy đi đến kết luận cuối cùng về sự thật của vụ án. Khi lập hồ sơ vụ án và
đề nghị truy tố, Điều tra viên cần đưa vào hồ sơ những tài liệu, chứng cứ cần
thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xét xử vụ án.
- Nguyên tắc thứ hai: Mọi hoạt động điều tra phải tuân theo pháp
luật, chấp hành các nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong quá trình điều tra, Điều tra viên không chỉ đơn thuần chấp hành
những yêu cầu của pháp luật, nhất là Bộ luật Tố tụng hình sự mà còn áp dụng
hiệu quả những thủ thuật, chiến thuật, những phương tiện kỹ thuật trong hoạt
động điều tra. Nguyên tắc này không cho phép áp dụng trong hoạt động điều
tra những biện pháp, phương tiện trái pháp luật, chống lại pháp luật. Tất cả
những biện pháp được áp dụng trong hoạt động điều tra phải theo đúng thủ
tục, trình tự, kết quả tiến hành phải được phản ánh chính xác, khách quan
trong các văn bản tố tụng. 10
Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định không được tiết lộ bí mật
Cơ quan điều tra cấp dưới chịu trách nhiệm báo cáo với cơ quan điều
tra cấp trên về phương hướng công tác điều tra khám phá tội phạm trong từng
thời kỳ để xin ý kiến chỉ đạo của cơ quan điều tra cấp trên. Cơ quan điều tra
cấp trên có trách nhiệm hướng dẫn chỉ đạo cơ quan điều tra cấp dưới về tất cả
những vấn đề liên quan đến công tác điều tra nói chung và hoạt động điều tra
từng vụ án cụ thể nói riêng.
Pháp luật còn quy định cụ thể mối quan hệ giữa Thủ trưởng cơ quan
Điều tra với Điều tra viên nhằm gạt bỏ sự chuyên quyền, độc đoán, tự tiện
trong hoạt động điều tra.
Để thực hiện tốt nguyên tắc này nhằm đảm bảo hiệu quả của hoạt
động điều tra, đòi hỏi cơ quan điều tra các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình và mối quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo giữa cơ quan điều tra
cấp trên và cơ quan điều tra cấp dưới do pháp luật quy định. Mặt khác, công
tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động điều tra phải mang tính trực tiếp để đảm bảo
sự nhanh chóng của hoạt động điều tra, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo
của cơ quan điều tra các cấp, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra và
Điều tra viên trong quá trình điều tra v.v…
1.1.4. Yêu cầu của hoạt động điều tra vụ án hình sự
Để hoạt động điều tra vụ án hình sự được tiến hành bảo đảm chặt chẽ
và đúng quy định của pháp luật, đạt hiệu quả cao, khi điều tra vụ án hình sự
cần phải chú ý tới những yêu cầu sau:
- Thứ nhất: Hoạt động điều tra phải được tiến hành có kế hoạch
Khi làm bất cứ công việc gì, việc lập kế hoạch cũng mang lại hiệu quả
lớn. Trước tiên, nó giúp hoạt động điều tra thực hiện một cách có khoa học hơn, 12
có trình tự hơn và đầy đủ hơn. Hoạt động điều tra là một hoạt động phức tạp
nhằm xác minh sự thật của một vụ án. Sự thành công, tính hiệu quả của hoạt
động điều tra phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trước hết là việc lập kế
không được quy định quy chuẩn trong văn bản pháp luật hay một hướng dẫn
nghiệp vụ nào mà đều phụ thuộc vào khả năng, kinh nghiệm của Điều tra
viên.
- Thứ ba: sử dụng có hiệu quả những biện pháp trinh sát, những
phương tiện kỹ thuật trong quá trình điều tra
Biện pháp trinh sát là một biện pháp được sử dụng để khám phá tội
phạm, nhưng khác với biện pháp điều tra là nhằm chứng minh sự thật khách
quan của vụ án, biện pháp trinh sát lại có nhiệm vụ tìm kiếm, xác định và phát
hiện những chứng cứ có liên quan đến vụ án, có thể nói, biện pháp trinh sát
được thực hiện nhằm hỗ trợ cho hoạt động điều tra một cách có hiệu quả.
Ngoài ra, hoạt động điều tra còn được hỗ trợ bởi các phương tiện kỹ thuật
hiện đại. Yếu tố con người trong hoạt động điều tra là yếu tố chủ yếu, song
không phải là tất cả. Tội phạm càng tinh vi thì cán bộ điều tra cần phải sử
dụng nhiều phương tiện kỹ thuật để giúp tìm kiếm ra những chứng cứ quan
trọng mà con người, bằng mắt thường có thể không phát hiện ra. Phương tiện
kỹ thuật không chỉ quan trọng trong quá trình tìm ra chứng cứ, mà có nhiều
phương tiện còn có tác dụng lưu giữ chứng cứ lâu dài, điều đó phục vụ tốt cho
các giai đoạn sau của quá trình giải quyết một vụ án hình sự.
- Thứ tư: vận động quần chúng tham gia vào hoạt động điều tra
Quần chúng nhân dân luôn đóng một vai trò quan trọng trong mọi
hoạt động. "Đẩy thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân", hay "lấy dân làm
gốc" là đạo lý bao đời nay của các nhà lãnh đạo kiệt xuất. Thế mới hay vai trò
của quần chúng nhân dân là rất quan trọng nếu ta biết tận dụng khôn khéo.
Trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, mặc dù pháp luật có quy định: Tổ
chức, công dân có quyền, nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; có
trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan điều tra và các cơ 14
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Thủ trưởng,
người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo;
- Kết luận giám định;
- Biên bản hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.
Để thu thập được những chứng cứ đó, Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình
sự quy định cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có quyền triệu tập những
người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan
đến vụ án; trưng cầu giám định; tiến hành khám xét; khám nghiệm và các
hoạt động điều tra khác…; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài
liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án.
Xuất phát từ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, theo chúng tôi
các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự bao gồm:
- Khởi tố bị can và hỏi cung bị can;
- Lấy lời khai;
- Thu giữ vật chứng;
- Đối chất;
- Nhận dạng;
- Khám xét, thu giữ tài liệu, vật chứng;
- Khám nghiệm hiện trường, tử thi, xem xét dấu vết;
- Thực nghiệm điều tra;
- Trưng cầu giám định.
Trong quá trình điều tra, tùy từng vụ án cụ thể mà các biện pháp điều
tra được thực hiện toàn bộ hay một phần. Có những biện pháp luôn luôn bắt
buộc phải thực hiện (như khởi tố bị can, hỏi cung bị can, lấy lời khai người 16
tham gia tố tụng), có những biện pháp có thể không bắt buộc phải thực hiện
tùy theo nhu cầu điều tra.
Trong nhiều trường hợp, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định biện pháp
điều tra này hay biện pháp điều tra khác là bắt buộc. Ví dụ: Trong các vụ án
mạnh của mình trên chiến trường.
Trong thời kỳ mới thành lập nước, chính quyền non trẻ có rất nhiều
việc phải làm, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là kiện toàn hệ thống pháp
luật. Tuy nhiên, trong một thời gian ngắn, không thể gấp rút hoàn thành một
hệ thống pháp luật đầy đủ. Vì lẽ đó, ngày 10/10/1945, Chủ tịch Chính phủ
lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 47 về việc cho
đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam,
các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam Bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như
cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong Sắc
lệnh này. Đồng thời xóa bỏ toàn bộ những văn bản quy định đặc quyền đặc
lợi của thực dân, tay sai, phong kiến trên đất nước ta.
Liên quan đến hoạt động điều tra, ngày 21/2/1946, Chủ tịch Chính phủ
lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 23/NV,
thành lập Việt Nam công vụ thuộc Bộ Nội vụ trên cơ sở hợp nhất Sở Cảnh
sát với Sở Liêm phóng trên toàn quốc. Việt Nam công vụ có nhiệm vụ tìm
kiếm và tập trung các tin tức và tài liệu liên can đến sự an toàn của quốc gia
hoặc bề trong hoặc bề ngoài; đề nghị và thi hành các phương pháp đề phòng
những hành động có thể làm rối việc trị an và trật tự trong nước, bất cứ sự
hoạt động đó là do người Việt Nam hay người nước ngoài; điều tra về những
hành động trái phép nói trên và truy tìm người can phạm để giúp tòa án trong
sự trừng trị.
Ngày 20/7/2946, Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa đã ban hành Sắc lệnh số 131 về tổ chức công an tư pháp, trong đó quy
định Tư pháp công an có nhiệm vụ truy tầm tất cả các sự phạm pháp (đại 18
hình, tiểu hình hoặc vi cảnh), sưu tập các tang chứng, bắt giao người phạm
pháp cho các Tòa án xét xử trong phạm vi luật pháp ấn định. Sắc lệnh này có
quy định cụ thể trường hợp khám nhà: Muốn khám nhà ngoài trường hợp
quan, trái lại, cộng tác chặt chẽ với cơ quan điều tra tiến hành cuộc khám
nghiệm cho có kết quả tốt.
Về phía cơ quan điều tra cũng cần quan niệm đúng về công tác giám
định pháp y để không có thái độ ỷ lại vào giám định viên hoặc đòi hỏi quá khả
năng của giám định viên. Trên sự hiểu biết khoa học, giám định viên cho ta
biết những hiện tượng khách quan để làm gợi ý cho cuộc điều tra. Do đó cơ
quan điều tra cần phối hợp chặt chẽ với giám định viên để giúp cho giám định
viên biết sự việc đã xảy ra, đời sống lý lịch của người được khám nghiệm.
Như vậy, cuộc khám nghiệm mới tiến hành đúng hướng và phúc đáp được
yêu cầu của cuộc điều tra. Dĩ nhiên là cơ quan điều tra không phải nói hết kết
quả của cuộc điều tra, những điểm cần giữ bí mật nếu tiết lộ thì trở ngại cho
việc khám phá ra việc phạm pháp mà chính giám định viên biết cũng không
có lợi ích gì cho việc khám nghiệm.
Có thể nói, trong giai đoạn trước năm 1989, các quy định pháp lý về
hoạt động điều tra hình sự được ban hành với số lượng chưa lớn và chủ yếu
dưới dạng các văn bản dưới luật, nội dung chưa đầy đủ, phần lớn mới chỉ quy
định về tổ chức cơ quan điều tra và thẩm quyền điều tra. Về nội dung này,
tính hợp lý vẫn chưa cao. Điều đó không chỉ làm giảm hiệu quả của công tác
đấu tranh phòng, chống tội phạm mà còn cho thấy hoạt động lập pháp tố tụng
hình sự còn rất nhiều nhiệm vụ khá nặng nề phía trước.
1.3.2. Từ năm 1989 đến năm 2003
Bộ luật Tố tụng hình sự đầu tiên ra đời năm 1989 là một điểm mốc lớn
trong lịch sử phát triển pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, có tác động tích
cực trong quá trình tố tụng hình sự nói chung và hoạt động điều tra hình sự
nói riêng. Bộ luật đã dành 6 chương với 49 điều luật để quy định những vấn
đề quan trọng liên quan đến hoạt động điều tra hình sự. Phần lớn các điều luật 20
này được dành để quy định về trình tự, thủ tục tiến hành các biện pháp điều
trưởng Tổng cục cảnh sát làm thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra, Cục
trưởng Cục cảnh sát điều tra là phó thủ trưởng thứ nhất, Cục trưởng các Cục
cảnh sát kinh tế, cảnh sát hình sự và các Phó Cục trưởng Cục cảnh sát điều tra
làm Phó thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra. Ở công an cấp tỉnh, Phó giám
đốc phụ trách cảnh sát làm Thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra, Trưởng
phòng cảnh sát điều tra làm Phó thủ trưởng thứ nhất, các Trưởng phòng cảnh
sát kinh tế, cảnh sát hình sự và cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy làm
Phó thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra.
Những thay đổi của Bộ luật Hình sự năm 1999 về phân loại tội phạm
còn có ảnh hưởng đến việc tổ chức hoạt động điều tra hình sự và đòi hỏi cần
có sự điều chỉnh trong pháp luật tố tụng hình sự. Do đó, trong lần sửa đổi, bổ
sung thứ ba đối với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, vấn đề thời hạn điều
tra và thời hạn tạm giam để điều tra các loại tội phạm đã được quy định lại
một cách cụ thể phù hợp với sự thay đổi nêu trên của Bộ luật Hình sự năm
1999, tạo thuận lợi cho việc áp dụng các chế định này trong thực tế điều tra
hình sự.
1.3.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
Trong giai đoạn này đã xây dựng được hệ thống các cơ quan điều tra
và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
khá hợp lý, bước đầu đảm bảo được tính chuyên sâu. Đồng thời bổ sung những
quy định làm cơ sở pháp lý cho việc tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa
điều tra theo tố tụng và điều tra trinh sát.
Nhìn chung Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã kế thừa và phát triển
các quy định về hoạt động điều tra nói chung, các biện pháp điều tra nói riêng.
Các biện pháp điều tra tuy vẫn giữ nguyên như cũ nhưng nội dung, trình tự,
thủ tục tiến hành các biện pháp điều tra được bổ sung nhiều theo hướng đảm
bảo tính khách quan của biện pháp được thực hiện; tôn trọng, bảo vệ quyền 22