Kiểm sát hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ thực tiễn huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ ĐÌNH LƯỠNG

KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN
CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ ĐÌNH LƯỠNG

KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN
CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Trần Văn Độ

KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠI
HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC .................................................. 64
3.1. Dự báo về tình hình tội phạm tại huyện Tam Đảo ................................... 64
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn ................................................................................................ 66
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 79


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự
CQĐT

: Cơ quan điều tra

ĐTV

: Điều tra viên

KSV

: Kiểm sát viên

THTT


1. Tính cấp thiết của đề tài
Các biện pháp ngăn chặn là một trong những chế định rất quan trọng
của luật tố tụng hình sự. Đó là các biện pháp cưỡng chế được áp dụng đối với
bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi tố
(trong trường hợp giữu người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả
tang), nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa họ
tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trờ cho việc
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
không chỉ nhằm giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có điều kiện thuận lợi để
giải quyết các vụ án hình sự mà còn góp phần phát hiện nhanh chóng, ngăn
chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với người phạm tội, không để lọt tội
phạm và không làm oan người vô tội. Áp dụng biện pháp ngăn chặn thể hiện
sự cưỡng chế mạnh mẽ của Nhà nước đối với kẻ phạm tội. Khi áp dụng biện
pháp ngăn chặn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân
được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác. Nếu việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn như giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm
giữ, tạm giam oan, sai sẽ xâm phạm đến các quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân, nhất là các quyền tự do cá nhân. Ngược lại, không áp dụng các BPNC
đối với người phạm tội để những người đó vẫn tự do ngoài vòng pháp luật,
tiếp tục gây án hoặc trốn tránh sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, xử lý vụ án
cũng như làm thiệt hại đến quyền lợi của công dân, của cộng đồng, làm giảm
lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước.
Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến việc áp dụng các BPNC, đặc biệt
là các biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam
nhằm tránh tình trạng bắt, tạm giữ, tạm giam oan người vô tội hoặc để lọt kẻ

1


phạm tội. Các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về công tác tư pháp đều nhấn

về các BPNC về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong kiểm sát việc áp
dụng các BPNC vẫn còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho việc thực hiện. Bên
cạnh đó còn có những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác như yếu tố
con ngưòi, yếu tố cơ sở vật chất cũng làm phát sinh các vi phạm, ảnh hưởng
phần nào đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong việc
kiểm sát việc áp dụng các BPNC trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Với những yêu cầu cấp bách của công cuộc cải cách tư pháp, đòi hỏi
phải có những nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về lý luận cũng như thực
tiễn về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong kiểm sát việc áp dụng các
BPNC để đề ra những giải pháp hợp lý hoàn thiện các quy định của pháp luật
hiện hành nhằm tăng cường hiệu quả công tác kiểm sát việc áp dụng các
BPNC, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa. Vì vậy tác giả chọn đề tài: “Kiểm
sát hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ
thực tiễn huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học
của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ khi Bộ luật Tố tụng Hình sự được ban hành, đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu về các nội dung liên quan đến các BPNC trong TTHS, trong
đó có đề cập đến một vài khía cạnh về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND. Có
thể nêu ra một số công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo đã xuất bản như: “
Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự” của tác giả Nguyễn Mai
Bộ (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); “về tự do cá nhân và biện pháp
cưỡng chế tố tụng hình sự" của Tiến sĩ Trần Quang Tiệp, Nxb Chính trị Quốc
gia 2005- “Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong Tố tụng
hình sự Việt Nam - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp ” - Luận án tiến sĩ
Luật học của tác giả Nguyễn Văn Điệp (bảo vệ năm 2006); Tạm giữ, tạm
giam trong tố tụng hình sự Việt Nam Luận văn Thạc sĩ của tác giả Phạm

3

- Khái niệm, nội dung của công tác kiểm sát việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

- Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về kiểm sát việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn

- Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện
5


hành về kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên địa bàn huyện
Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam hiện hành liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của
VKSND trong việc kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và thực
tiễn áp dụng những quy định này từ năm 2013 đến năm 2017 trên địa bàn
huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Luận văn không nghiên cứu nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện kiểm sát quân sự cũng như một số vấn đề khác có liên
quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 . Phương pháp luận:
Để nghiên cứu đề tài, tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước và pháp luật.
5.2 . Phương pháp nghiên cứu:
Quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự,

7


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN

1.1. Những vấn đề lý luận về kiểm sát việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.1.1. Khái niệm
* Khái niệm các biện pháp ngăn chặn
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, để kịp thời ngăn chặn tội
phạm, ngăn chặn việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố,
xét xử, thi hành án hoặc ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, Cơ quan điều tra và
các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (gọi
chung là CQĐT),Viện kiểm sát (VKS) và Tòa án (TA) trong phạm vi thẩm
quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật
Tố tụng Hình sự (BLTTHS) có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn ( BPNC)
bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú. bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản
có giá trị để bảo đảm (Điều 109 BLTTHS 2015)[15]
Theo từ điển Tiếng Việt, ngăn chặn là “chặn lại ngay từ đầu, không để
cho gây tác hại”. Theo cách hiểu chung nhất, BPNC là các biện pháp cưỡng
chế trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc
đối với người chưa bị khởi tố (trong trường hợp giữ người trong trường hợp
khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm
cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc
có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án
hình sự.
Có thể khẳng định rằng, BPNC trong TTHS là một nhóm các biện pháp

người cũng phải quán triệt các nguyên tắc chung, các chủ trương, đường lối
chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong mỗi giai đoạn xây dựng và phát triển nền
kinh tế - xã hội của đất nước ta.

9


- Biện pháp ngăn chặn tạm giữ: Điều 117 BLTTHS 2015 quy định về
đối tượng, căn cứ và thẩm quyền áp dụng BPNC tạm giữ. Theo quy định của
điều luật này thì tạm giữ là việc cơ quan và người có thẩm quyền ra quyết
định tạm thời hạn chế tự do trong thời hạn ngắn đối với người bị bắt trong
trường hợp phạm tội quả tang hoặc trong trường hợp giữ người trong trường
hợp khẩn cấp. Mục đích của BPNC tạm giữ là nhằm ngăn chặn hành vi phạm
tội hoặc hành vi cản trở việc điều tra khám phá tội phạm của những người bị
nghi là thực hiện hành vi phạm tội, tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền
có thời gian để xác định tính chất, mức độ của hành vi; nhân thân của người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội để từ đó có thể quyết định khởi tố
hoặc không khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc các quyết định pháp lý
càn thiết khác như: tạm giam, áp dụng các BPNC khác hay trả tự do cho
người đã bị bắt.

- Biện pháp ngăn chặn tạm giam: Căn cứ Điều 119 BLTTHS 2015 có
thể hiểu:
Tạm giam là BPNC nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình sự do những
người có thẩm quyền của CQĐT, VKS, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo
phạm tội mà BLHS quy định hình phạt tù để ngăn chặn người phạm tội có thể
trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Các biện pháp bắt người, tạm giữ cũng là BPNC nghiêm khắc, nó cũng hạn
chế quyền tự do của công dân, nhưng thời gian hạn chế quyền tự do trong bắt
và tạm giữ ngắn hơn nhiều so với tạm giam. Trong vòng 24 giờ sau khi bắt,

Tòa án ( Điều 121 BLTTHS 2015). Người bị áp dụng BPNC này không bị các
ly ra khỏi xã hội và được ở nơi cư trú của mình. Đây là BPNC ít nghiêm khắc
hơn để thay thế BPNC tạm giam khi có những căn cứ theo luật định

- Biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 122 BLTTHS 2015 thì đặt tiền hoặc tài sản
có giá trị để bảo đảm là BPNC để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào
tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và
tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án

11


có thể quyết định cho họ đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sự có mặt
của họ theo giấy triệu tập.

- Biện pháp tạm hoãn xuất cảnh: Theo quy định tại khoản 1 Điều 124
BLTTHS 2015 thì biện pháp tạm hoãn xuất cảnh là BPNC để ngăn chặn bị
can, bị cáo. Người tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua điều tra, xác
minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy
cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án có thể quyết định tạm hoãn xuất cảnh.

* Khái niệm kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự
Trong hoạt động tố tụng hình sự VKSND có vị trí, vai trò rất quan
trọng. Cùng với CQĐT, Tòa án, VKS là cơ quan tiến hành tố tụng, được pháp
luật quy định là cơ quan duy nhất thay mặt Nhà nước thực hành quyền công
tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự
nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, bảo đảm

quyền hạn pháp lý để thực hiện. VKSND có quyền áp dụng mọi biện pháp do
pháp luật quy định để đảm bảo việc áp dụng BPNC có căn cứ và cần thiết
đồng thời phát hiện, loại trừ vi phạm pháp luật trong việc áp dụng các BPNC.
Khoản 4, khoản 5 điều 165 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định khi thực hành
quyền công tố trong việc áp dụng các BPNC, VKS có nhiệm vụ và quyền :
Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các
biện pháp ngăn chặn khác, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của
Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật TTHS; hủy bỏ các quyết định
không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT. Khi kiểm sát hoạt động tư pháp
trong áp dụng BPNC, VKS có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực
hiện việc áp dụng BPNC theo đúng quy định của pháp luật, tự kiểm tra việc
thực hiện việc áp dụng BPNC thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả cho
Viện kiểm sát. Cung cấp hồ sơ, tài liệu để VKS kiểm tra tính hợp pháp của

13


các hành vi, quyết định áp dụng BPNC. Yêu cầu CQĐT khắc phục các vi
phạm pháp luật, cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra
viên và yêu cầu Thủ trưởng CQĐT xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã vi
phạm pháp luật trong việc áp dụng các BPNC này; trực tiếp kiểm sát tại nhà
tạm giữ, trại tạm giam; kiểm tra hồ sơ, tài liệu của trại tạm giam, nhà tạm giữgặp, hỏi người bị tạm giữ, tạm giam; tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo
về việc tạm giữ, tạm giam; yêu cầu trại tạm giam, nhà tạm giữ thông báo tình
hình tạm giữ, tạm giam, trả lời về quyết định, biện pháp hoặc việc làm vi
phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam; kháng nghị yêu cầu đình chỉ
việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc
tạm giữ, tạm giam, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý
người vi phạm pháp luật. Kiến nghị với cơ quan, tổ chức áp dụng các biện
pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật. [15]
Như vậy có thể hiểu “kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn

ra hay không, vi phạm điều nào, khoản nào của BLHS, có đủ căn cứ để bắt
người hay không từ đó để đề xuất lãnh đạo VKS phê chuẩn hay không phê
chuẩn lệnh bắt người (trong trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn
cấp hoặc bắt bị can để tạm giam) của Cơ quan điều tra. Nếu thấy việc bắt, giữ
người không đủ căn cứ VKS yêu cầu CQĐT trả tự do ngay cho người bị bắt, giữ
[31].

- Kiểm sát về hình thức phải kiểm sát việc bắt người đã đúng quy định
của luật tố tụng hình sự về trình tự thủ tục, về căn cứ bắt, thẩm quyền bắt, trường
hợp bắt (quả tang, truy nã, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt tạm
giam) có đúng hay không.

- Kiểm sát việc tạm giữ, gia hạn tạm giữ.
Viện kiểm sát không trực tiếp ra quyết định tạm giữ nhưng có trách
nhiệm kiểm sát việc tạm giữ. Mục đích của hoạt động kiểm sát việc tạm giữ là
nhằm bảo đảm việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ có căn cứ và
đúng pháp luật, kịp thời khắc phục các vi phạm trong quá trình áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ của những người có thẩm quyền. Nếu thấy cần gia
hạn tạm giữ để làm rõ hành vi cũng như nhân thân người bị tạm giữ thì VKS phê
chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ của Cơ quan điều tra hoặc trong trường hợp
15


cần thiết nếu Cơ quan điều tra không gia hạn tạm giữ thì VKS yêu cầu cơ quan
điều tra gia hạn tạm giữ. Nếu thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần
thiết, VKS ra quyết định hủy bỏ việc tạm giữ. Các trường hợp phải hủy bỏ quyết
định tạm giữ là các trường hợp như người bị tạm giữ không thực hiện hành vi
phạm tội, người bị tạm giữ chỉ vi phạm hành chính hoặc hành vi của họ tuy có
dấu hiệu của tội phạm nhưng mức độ nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, chưa
đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Các trường hợp không cần thiết phải

đoạn điều tra: Tại Khoản 2 Điều 125 BLTTHS năm 2015 quy định: cơ quan
điều tra, VKS, Tòa án hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần
thiết hoặc có thể thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác. Đối với những
biện pháp ngăn chặn do VKS phê chuẩn thì việc hủy bỏ hoặc thay thế do VKS
quyết định. Vì vậy trong giai đoạn điều tra nếu thấy không cần thiết phải tiếp
tục tạm giam bị can thì căn cứ vào đề nghị của CQĐT, VKS ra quyết định hủy
bỏ hoặc thay thế BPNC tạm giam.
+ VKS kiểm sát việc gia hạn tạm giam để điều tra: Nhiều vụ án hình sự
do tính chất phức tạp, nhiều bị can, phạm nhiều tội... cần thiết phải gia hạn
tạm giam để điều tra thì CQĐT có công văn đề nghị VKS gia hạn tạm giam.
VKS phải kiểm tra kỹ hồ sơ đảm bảo việc gia hạn tạm giam là có căn cứ,
tránh kéo dài thời hạn tạm giam không cần thiết.
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tạm giữ, tạm giam
Khi các cơ quan tiến hành tố tụng quyết định áp dụng biện pháp tạm
giữ, tạm giam đối với người thực hiện hành vi phạm tội, bị can, bị cáo thể
hiện bằng lệnh tạm giữ, lệnh tạm giam hoặc quyết định tạm giam. Lệnh tạm
giữ, lệnh tạm giam và quyết định tạm giam đó chỉ được thực hiện trên thực
tiễn và đạt được mọc đích ngăn chặn khi người bị tạm giữ, tạm giam phải
được quản lý ở những nơi thực hiện việc giam giữ với một chế độ quản lý
nghiêm ngặt, chặt chẽ. Cơ quan được giao trách nhiệm quản lý họ là Trại tạm
giam hoặc Nhà tạm giữ. Vì vậy đối tượng của công tác kiểm sát việc tạm giữ,

17


tạm giam là việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra, Tòa án, nhà tạm giữ,
trại tạm giam trong việc tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật. Tại
Điều 26 Luật tổ chức VKSND năm 2014 nêu rõ mục đích của kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tạm giữ, tạm giam là: nhằm đảm bảo việc tạm giữ, tạm giam
theo đúng quy định của pháp luật; chế độ tạm giữ, tạm giam được chấp hành

việc áp dụng BPNC của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra thể hiện qua việc VKS là cơ quan có nhiệm vụ
quyền hạn mang tính chất quyết định như quyết định việc phê chuẩn, không
phê chuẩn các lệnh, quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam của CQĐT; quyết định
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các BPNC trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án
hình sự. Trong giai đoạn xét xử,-VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong việc bắt, tạm giam của Tòa án tuân thủ đúng quy định về
trình tự, thủ tục, nội dung, hình thức và tính có căn cứ; kiểm sát việc tuân theo
pháp luật của cơ quan, đơn vị trực tiếp thực hiện quyết định áp dụng các
BPNC nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người áp dụng các
BPNC được tôn trọng và bảo vệ. Việc nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn của
VKS trong việc kiểm sát việc áp dụng các BPNC được tiến hành trên cơ sở các
quy định của BLTTHS về kiểm sát việc áp dụng các BPNC.

1.2.1. Kiểm sát việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam
Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc, chỉ
áp dụng đối với bị can, bị cáo. VKS chỉ phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm
giam của CQĐT khi hồ sơ đề nghị phê chuẩn phải đảm bảo một trong các căn
cứ quy định tại khoản 1 Điều 119 BLTTHS (bị can phạm tội rất nghiêm trọng
đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà BLHS
quy định hình phạt tù trên hai năm mà có căn cứ cho rằng người đó có thể
trốn hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội). Trong
giai đoạn truy tố, xét xử, VKS và Tòa án có quyền độc lập ra lệnh bắt bị can, bị
cáo để tạm giam khi xét thấy có đủ căn cứ và cần thiết. Đối với bị can, bị cáo
đang bị tạm giam, VKS, Tòa án không ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status