VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
************
Họ và tên: Trần Mạnh Hà
Tên đề tài: Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ
thực tiễn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Nam
Hà Nội, năm 2021
1
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi, được hồn thành
dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Nam.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được công bố, trùng lặp trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn
Trần Mạnh Hà
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU:
2.2.3. Cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự
2.2. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân cư huyện Cẩm Giàng, tỉnh
Hải Dương.
2.3. Thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự tại
huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Tiểu kết chương 2
Chương 3: Nguyên nhân, hạn chế và một số giải pháp nâng cao chất
lượng áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.
3.1. Một số nguyên nhân, hạn chế của áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong
tố tụng hình sự.
3.1.1. Nguyên nhân, hạn chế từ quy định của pháp luật hiện hành còn chưa
đầy đủ, rõ ràng.
3.1.2. Nguyên nhân, hạn chế trong áp dụng pháp luật.
3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng các biện pháp ngăn chặn
trong tố tụng hình sự.
3.2.1. Một số yêu cầu về nâng cao chất lượng áp dụng các biện pháp ngăn
chặn trong tố tụng hình sự.
3.2.2. Các giải pháp cụ thể về nâng cao chất lượng áp dụng các biện pháp
ngăn chặn trong tố tụng hình sự.
Tiểu kết chương 3
KẾT LUẬN:
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
4
BPNC
Biện pháp ngăn chặn
TAND
Tồ án nhân dân
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
CQĐT
Cơ quan điều tra
THTT
Tiến hành tố tụng
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói chung, cũng như trên địa
ra được những tồn tại, hạn chế, đồng thời phân tích các nguyên nhân để từ đó có thể
để ra các giải pháp để đảm bảo áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá trình tố
tụng hình sự. Đây là yêu cầu cấp thiết cần thực hiện để có thể nâng cao hiệu quả
cơng tác đấu tranh phịng chống tội phạm.
Chính vì lý do trên, tác giả chọn đề tài “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn
trong tố tụng hình sự từ thực tiễn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương” để nghiên
cứu làm luận văn thạc sĩ là vấn đề rất cần thiết về từ lý luận đến thực tiễn trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Trong thời gian vừa qua cũng đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá trình tố tụng hình sự. Các biện pháp ngăn
chặn được nghiên cứu, đề cập trong Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2013 do tác giả Nguyễn Ngọc
Chí chủ biên; Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Kiểm
sát Hà Nội xuất bản năm 2016 do tác giả Phạm Mạnh Hùng biên soạn; Giáo trình
Luật Tố tụng hình sự Việt Nam xuất bản năm 2019 của Trường Đại học Luật Hà
Nội do tác giả Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên; Giáo trình Luật TTHS xuất bản năm
2019 của Học viện Tịa án do Tiến sĩ Nguyễn Trí Tuệ chủ biên; Bình luận khoa học
tố tụng hình sự năm 2015 do GS.TS. Nguyễn Ngọc Anh và Luật sư. TS. Phan
Trung Hoài đồng chủ biên. Bên cạnh đó, quy định về các biện pháp ngăn chặn được
đưa ra nghiên cứu trên nhiều diễn đàn pháp luật, trên các tạp chí, cổng thơng tin
điện tử của ngành Toà án nhân dân, Kiểm sát nhân dân.
Đối với tình hình nghiên cứu thực tế; có một số cơng trình nghiên cứu đã tập
trung vào việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, cụ thể như
8
sau: Luận án Tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Trọng Phúc với đề tài “Chế định
các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” bảo vệ năm 2010;
Luận văn thạc sĩ luật học "Các biện pháp ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Làm rõ những vấn đề lý luận và các quy định pháp luật về các biện pháp
ngăn chặn trong tố tụng hình sự.
- Đánh giá thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
từ thực tiễn địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
- Đưa ra một số yêu cầu và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng
các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận, các quy định
của pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, thực tiễn và giải
pháp nâng cao chất lượng áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ
thực tiễn địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
Về thời gian nghiên cứu đánh giá: Số liệu nghiên cứu đề tài được giới hạn từ
số liệu trong thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra,
truy tố, xét xử các vụ án hình sự trên địa huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, từ năm
2016 đến năm 2020.
Về cơ sở pháp lý: Luận văn nghiên cứu, so sánh những quy định pháp luật
của BLTTHS năm 2003 và quy định của BLTTHS năm 2016 về việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
5.1. Phương pháp luận.
10
Để đạt mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn được nghiên cứu là dựa trên cơ
sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng
Mác Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về áp dụng
viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán trong quá trình giải quyết thực tế các vụ án hình sự.
7. Kết cấu của luận văn.
Luận văn được cấu thành từ 03 chương chính (khơng tính mở đầu, kết luận,
danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu) bao gồm:
Chương 1: Các vấn đề lý luận về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình
sự.
Chương 2: Quy định của pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự và thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự tại
huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Chương 3: Nguyên nhân, hạn chế và một số giải pháp nâng cao chất lượng áp
dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.
12
CHƯƠNG 1:
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa các biện pháp ngăn chặn
trong tố tụng hình sự.
1.1.1. Khái niệm các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.
Trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, vẫn chưa có một khái
niệm cụ thể nào về các biện pháp ngăn chặn mà các biện pháp ngăn chặn mới chỉ
được liệt kê, quy định tại Chương VI của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Mục
I, Chương VII của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bao gồm các biện pháp ngăn
chặn: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt
người phạm tội quả tang; Bắt người đang bị truy nã; tạm giữ, tạm giam; Cấm đi
khỏi nơi cư trú; Bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm. Riêng theo quy định của BLTTHS
năm 2015 có thêm biện pháp ngăn chặn mới là Tạm hoãn xuất cảnh.
Trong những năm gần đây, thực tế cho thấy việc áp dụng các BPNC đã kịp
tránh pháp luật. Khái niệm này đã đúng khi xác định BPNC có tính bắt buộc, nếu
hiểu "bắt buộc" đó là nghĩa vụ chấp hành từ phía đối tượng bị áp dụng và thừa nhận
việc áp dụng các BPNC sẽ "hạn chế một phần quyền tự do thân thể của bị can bị
cáo", nhưng khơng hợp lý cho rằng nó "tạm thời tước bỏ quyền tự do thân thể" của
bị can, bị cáo.
Theo một quan điểm khác lại cho rằng: Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự là những biện pháp cưỡng chế cần thiết áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc
người chưa bị khởi tố khi có căn cứ do Bộ luật tố tụng hình sự quy định nhằm ngăn
chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn chặn tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp
luật đồng thời bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
14
Ngồi ra, cịn có một số khái niệm khác nữa về BPNC của các nhà nghiên
cứu luật, diễn giả luật học .... dựa trên cơ sở phân tích nội dung của các quy phạm
pháp luật tại Điều 79 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 109 của Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2015, cũng như thực tiễn áp dụng chúng trong cơng tác phịng
ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Cho đến nay, trong BLTTHS năm 2015 là bộ
luật tố tụng hiện hành đang được áp dụng thực tế vẫn chưa có quy định cụ thể, định
nghĩa chính xác về biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự; từ đó dẫn đến có
nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa, khái niệm đặc điểm, bản chất của biện pháp
ngăn chặn trong tố tụng hình sự.
Nhìn chung, tổng hợp phân tích từ các quan điểm này, có thể rút ra khái niệm
đầy đủ, bao quát về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự như sau: “Các
biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là biện pháp cưỡng chế do Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân trong phạm vi thẩm quyền tố tụng
hoặc người có thẩm quyền theo quy định BLTTHS có thể áp dụng với người bị tình
nghi phạm tội chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo, người bị kết án khi kịp thời ngăn chặn
tội phạm hoặc có căn cứ xác định họ sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét
tạm giữ chỉ cách ly đối tượng khơng q 9 ngày đêm.
Tóm lại, về bản chất pháp lý, ngồi tính cưỡng chế, các BPNC cịn mang tính
phịng ngừa.
- Chủ thể có quyền tham gia vào việc quyết định và thực hiện áp dụng biện
pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự gồm: Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến
hành tố tụng; Cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra. Bên cạnh đó, có sự tham gia của chính quyền địa phương, tổ chức và cơng
dân, như: việc theo dõi, giám sát của chính quyền địa phương đối với việc thực hiện
biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, bị cáo; việc bảo lĩnh của tổ chức và
công dân; việc công dân tham gia vào các hoạt động bắt người với tư cách là người
chứng kiến hoặc trực tiếp bắt quả tang.
16
- Đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự: khái niệm
trên đều đề cập đến ba đối tượng bị áp dụng các BPNC là: bị can, bị cáo hoặc người
bị tình nghi phạm tội chưa bị khởi tố. Đối tượng bị áp dụng BPNC là bị can, bị cáo,
thì đã rõ, bởi vì, định nghĩa pháp lý về chúng đã được đề cập tại các điều 49 và 50
BLTTHS. Riêng về người chưa bị khởi tố, thì vẫn chưa có định nghĩa pháp lý nên
cần được làm rõ. Đối tượng người chưa bị khởi tố có thể là người có hành vi vi
phạm hình sự hoặc vi phạm pháp luật khác. Từ đó, cho thấy đối tượng người chưa
bị khởi tố là quá rộng và chưa chuẩn xác. Đối tượng chưa bị khởi tố mà bị áp dụng
các BPNC chỉ có thể là những người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm nên
có thể xác định phạm vi này để thay vào đó là "người có liên quan đến việc thực
hiện tội phạm chưa bị khởi tố". Ngoài ra, đối tượng bị áp dụng biện pháp bắt theo
lệnh truy nã có thể là bị can, bị cáo, người đang thi hành án.
- Phạm vi áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự: Tất cả các
BPNC được áp dụng trong mọi giai đoạn tố tụngtương ứng từ điều tra, khởi tố, truy
tố, xét xử. Khi đình chỉ hoặc việc áp dụng khơng cịn cần thiết, thì cơ quan THTT
phải hủy bỏ hoặc thay thế chúng. Các BPNC được áp dụng trong một khoảng thời
do, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản của công dân, xâm phạm những lĩnh vực
khác của trật tự pháp luật XHCN. Do đó, việc đấu tranh phòng chống tội phạm, loại
trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội là nhiệm vụ quan trọng. Do đó, các biện pháp
ngăn chặn trong tố tụng hình sự góp phần:
Thứ nhất, việc áp dụng đúng đắn, kịp thời, chính xác các biện pháp ngăn
chặn trong tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng trong q trình giải quyết vụ án
hình sự, nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự để ngăn chặn,
phịng ngừa hiệu quả sự gia tăng của tội phạm, từ đó giữ gìn an ninh, trật tự an tồn
xã hội. Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự đảm bảo cho hoạt động của
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, khởi tố,
truy tố, xét xử, thi hành án được diễn ra thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả cơng
19
cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn kịp
thời ngay từ đầu khi phát hiện dấu hiệu của tội phạm thì sẽ đạt hiệu quả cao trong
việc giải quyết vụ án hình sự.
Thứ hai, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự góp
phần bảo vệ hiệu quả quyền lợi của Nhà nước, xã hội, công dân. Trên thực tiễn, nếu
không áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo, người tình nghi phạm tội
chưa bị khởi tố thì rất có thể họ sẽ trốn tránh, cản trở hoặc tiếp tục thực hiện hành vi
nguy hiểm khác cho xã hội. Quá trình xây dựng một Nhà nước vững mạnh, biết
thượng tơn pháp luật thì địi hỏi người dân sống trong xã hội phải tuyệt đối chấp
hành pháp luật. Các BPNC không tước bỏ quyền và tự do cá nhân như mục đích
trừng trị của hình phạt mà chỉ hạn chế những quyền và tự do ấy để cơ quan có thẩm
quyền xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự. Việc áp dụng biện pháp ngăn
chặn cũng góp phần giáo dục người dân, bị can, bị cáo, người tình nghi phạm tội
chưa bị khởi tố biết nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng pháp luật xã hội
chủ nghĩa. Việc tôn trọng và bảo vệ quyền tự do cá nhân không những đối với
người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo và người thân thích của
nhau.
Tuy nhiên vẫn còn nhiều quy định hiện chưa chặt chẽ, hợp lý làm cho việc áp
dụng cụ thể vào thực tiễn chưa thực sự hiệu quả. Việc quy định quy phạm pháp luật
về áp dụng biện pháp ngăn chặn ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng việc áp dụng,
bởi lẽ việc áp dụng phải tuân theo nguyên tắc, chặt chẽ tuân theo pháp luật chứ
khơng mang tính tuỳ nghi nên một khi quy định không rõ ràng sẽ rất xảy ra việc
hiểu khơng đúng, áp dụng khơng đúng, khơng chính xác BPNC, khơng đạt được
mục đích áp dụng BPNC.
1.2.2. Năng lực của chủ thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự
21
Ngoài yếu tố lập pháp, chất lượng của các quy định pháp luật về áp dụng các
biện pháp ngăn chặn, yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng của việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn chính là năng lực của chủ thể áp dụng. Cùng là quy phạm pháp
luật quy định về BPNC nhưng năng lực nhận thức, trình độ hiểu biết của từng chủ
thể áp dụng là khác nhau, có người năng lực tốt, có người năng lực yếu. Chính vì
vậy, nếu ý thức pháp luật của các chủ thể có quyền áp dụng BPNC khơng đầy đủ,
khơng tồn diện như việc hiểu sai điều luật hướng dẫn, nhận thức sai về tình tiết vụ
án, áp dụng theo cảm tính, kinh nghiệm sẽ khơng thể áp dụng BPNC một cách hiệu
quả và ngược lại, nếu trình độ hiểu biết, nhận thức pháp luật của các chủ thể hiểu rõ
về việc áp dụng BPNC trong quá trình giải quyết vụ án sẽ đạt hiệu quả tốt.
Đơn cử như trong thực tế áp dụng biện pháp tạm giam còn có nhiều vướng
mắc, bất cập dẫn tới có nhiều trường hợp bị can, bị cáo nếu không tạm giam cũng
không tiếp tục phạm tội, cản trở hoạt động tố tụng như trường hợp hành vi phạm tội
rõ ràng, người thực hiện hành vi phạm tội tự thú, thành khẩn khai nhận, ăn năn, hối
cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả…, nhưng vẫn có thể bị áp dụng biện pháp tạm
giam. Tâm lý của phần đông người dân cũng như người tiến hành tố tụng vẫn mặc
1.3.1.1. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
Trước đây Điều 81 Bộ luật TTHS 2003 quy định là bắt người trong trường
hợp khẩn cấp, thì hiện nay Bộ luật TTHS 2015 quy định là giữ người trong trường
hợp khẩn cấp; Bởi vì trong quá trình áp dụng theo quy định của Điều 81 BLTTHS
năm 2003 thì có thể “bắt trước, phê chuẩn sau”, tuy nhiên theo tinh thần của Hiến
pháp năm 2013 thì “Khơng ai bị bắt nếu khơng có quyết định của Tòa án, quyết
định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát”. Vì lý do đó mà tại Bộ luật TTHS năm
2015 các nhà làm luật đã thay đổi từ bắt người trong trường hợp khẩn cấp thành
“Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” theo quy định của Điều 110 BLTTHS năm
2015 để phù hợp với quy định của Hiến pháp. Theo đó, Điều 110 Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015 quy định các trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp,
23
thẩm quyền người ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, nội dung và các thủ
tục cần thiết khác khi ban hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Mục
đích áp dụng biện pháp ngăn chặn trên là để kịp thời ngăn chặn, xử lý tội phạm và
người phạm tội.
Các căn cứ áp dụng BPNC giữ người trong trường hợp khẩn cấp là:
+ Khi cơ quan công an có căn cứ cho rằng một người đang chuẩn bị thực hiện
hành vi phạm tội thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng. Cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định được các chứng cứ
chứng tỏ người đó đang tìm kiếm, chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội; lên kế
hoạch, lôi kéo, phân công người khác nhằm thực hiện tội phạm…Tội phạm mà họ
chuẩn bị thực hiện phải là tội phạm rất nghiêm trọng, có mức cao nhất của khung
hình phạt từ trên 07 năm đến 15 năm tù hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, có
mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
+ Người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm hoặc bị hại hoặc người cùng thực
hiện tội phạm đã xác nhận người đó chính là người đã hành vi phạm tội được quy
định là tội phạm theo quy định của BLHS, cơ quan công an cần ngăn chặn ngay
của tội phạm phải được tiến hành thông qua các biện pháp tố tụng được quy định
trong BLTTHS. Xét thấy cần ngăn chặn việc bỏ trốn, xóa dấu vết tội phạm, đang
cất giấu hoặc phá hủy công cụ, phương tiện phạm tội, đang tẩu tán hoặc tiêu thụ tài
sản do phạm tội mà có…
Thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp: Thủ trưởng, Phó
thủ trưởng Cơ quan điều tra , thủ trưởng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra và người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã
rời khỏi sân bay, bấn cảng. BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm thẩm quyền ra
lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp so với thẩm quyền bắt người trong
trường hợp khẩn cấp của BLTTHS năm 2003 một số người đứng đầu các đơn vị
hữu quan thuộc Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư. Đây cũng là
25