Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự việt nam - Pdf 61

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TÔ THỊ THU TRANG

THỜI HẠN CỦA CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TÔ THỊ THU TRANG

THỜI HẠN CỦA CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí



MỞ ĐẦU

Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỜI HẠN CỦA CÁC BIỆN PHÁP

9

NGĂN CHẶN

1.1.

Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự và thời hạn tố

9

tụng hình sự
1.1.1. Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

9

1.1.2. Thời hạn tố tụng hình sự

14

1.2.

Thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự



1.3.2. Luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức

31

1.3.3. Luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga

34

Chương 2:

QUY ĐỊNH VỀ THỜI HẠN BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG

38

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIẾN ÁP
DỤNG

2.1.

Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật tố tụng

38

hình sự Việt Nam về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn
từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến nay
2.1.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến

38


2.2.5. Quy định về thời hạn của biện pháp bảo lĩnh

58

2.2.6. Quy định về thời hạn của biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có

60

giá trị để bảo đảm
2.3.

Thực trạng áp dụng các quy định về thời hạn của các biện
pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ khi có Bộ luật tố
tụng hình sự đến nay

5

62


2.3.1. Tình hình và kết quả áp dụng trong thực tiễn

62

2.3.2. Những tồn tại, hạn chế của việc áp dụng thời hạn của các

63

biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
2.3.3. Những khó khăn, vướng mắc, bất cập từ thực tiễn

Nhóm giải pháp và kiến nghị về nâng cao năng lực cho cơ

99

quan và người tiến hành tố tụng hình sự
3.2.1. Tăng cường lực lượng và nâng cao trình độ cho Điều tra

101

viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và những người tiến hành
tố tụng khác
3.2.2. Tăng cường bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật mới về

103

tố tụng hình sự cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán
và những người tiến hành tố tụng khác
3.2.3. Tiến hành tổng kết thực tiễn, tổ chức rút kinh nghiệm về việc

104

áp dụng các quy định về thời hạn của biện pháp ngăn chặn
quy định trong tố tụng hình sự
3.2.4. Giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế và trao đổi kinh
nghiệm với các nước về áp dụng các quy định của pháp luật

6

105



TAND

: Tòa án nhân dân

TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao

TTHS

: Tố tụng hình sự

UBND

: Ủy ban nhân dân

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC

: Viện kiểm sát nhân dân tối cao

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

8


9


tra, giám sát còn chưa được thường xuyên, kịp thời, hiểu biết pháp luật của
người dân còn nhiều hạn chế v.v...
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, cần thiết phải nghiên cứu chuyên
sâu các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật
TTHS Việt Nam hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này, và
đó cũng là lý do, luận chứng cho sự cần thiết để chúng tôi lựa chọn đề tài
"Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam"
làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Do việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn không chỉ có ý nghĩa về mặt
TTHS mà còn có vai trò lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm,
đặc biệt là xuyên suốt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự, nên đã có
nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, những khía
cạnh, phương diện khác nhau về các biện pháp ngăn chặn trong TTHS.
Hiện nay, khoa học luật TTHS trong và ngoài nước đã có nhiều công
trình khoa học nghiên cứu về các biện pháp ngăn chặn, nhưng chủ yếu chỉ đề
cập một cách tổng thể và có hệ thống những khía cạnh lý luận chung nhất về
các biện pháp ngăn chặn mà chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu
có hệ thống, toàn diện và sâu sắc riêng về thời hạn của các biện pháp ngăn
chặn dưới góc độ lý luận cũng như thực tiễn áp dụng.
Ở Việt Nam, nghiên cứu về các biện pháp ngăn chặn, đã có các công
trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Cấp độ luận văn Tiến sĩ có đề tài:
- Áp dụng biện pháp ngăn chặn trong điều tra vụ án hình sự của lực
lượng cảnh sát nhân dân của tác giả Trịnh Văn Thanh, (Bộ Công an), 2000;
- Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình

- Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, của
Viện Nhà nước và Pháp luật, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994;
- Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự, của Viện Nghiên cứu
Nhà nước và Pháp luật, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1994;

11


- Các biện pháp ngăn chặn và vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng,
của TS. Nguyễn Vạn Nguyên, Nhà xuất bản Công an nhân dân (CAND), 1995;
- Các biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, của
Nguyễn Mai Bộ, Nhà xuất bản CAND, 1997.
- Biện pháp ngăn chặn khám xét và kê biên tài sản trong Bộ luật tố
tụng hình sự, của ThS. Nguyễn Mai Bộ, 2004;
- Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, của TS. Trần
Quang Tiệp, 2005.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây cho thấy, ở nước ta
đã có nhiều công trình nghiên cứu cơ bản và trực diện về các biện pháp ngăn
chặn, căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn đối với riêng thời hạn của
các biện pháp ngăn chặn trong TTHS Việt Nam, nhìn một cách tổng quan có
thể khẳng định chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu. Ngoài ra, trong
bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về "Một số
nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" nêu rõ: "Tăng
cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ đảm bảo đúng pháp luật... phát
hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ"; Nghị quyết số
48-NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
2020"; và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về
"Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" trong đó có nêu: "hoàn thiện

Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng thời hạn của
các biện pháp ngăn chặn trên phạm vi cả nước.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thời hạn áp dụng các biện pháp
ngăn chặn trong 10 năm (2004-2013).
4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà
nước pháp quyền, về chính sách hình sự, chính sách TTHS, về vấn đề cải cách
tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X

14


và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW
ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật TTHS như: phương pháp
phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn
dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để
tổng hợp các tri thức khoa học về luật TTHS và luận chứng các vấn đề tương
ứng được nghiên cứu trong luận văn.
5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương
diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ
thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về thời hạn của các biện pháp
ngăn chặn trong TTHS, trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận
và thực tiễn liên quan tới thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong luật
TTHS Việt Nam. Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Tổng hợp các quan điểm khoa học trong và ngoài nước về thời hạn

chặn.
Chương 2: Quy định về thời hạn biện pháp ngăn chặn trong pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Những giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả áp dụng
các quy định về thời hạn của biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.

16


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỜI HẠN
CỦA CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
1.1. BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ THỜI
HẠN TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1.1. Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
1.1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn
Trong bất kỳ xã hội nào, con người cũng luôn giữ vai trò quyết định
đối với sự phát sinh, tồn tại và và phát triển của xã hội đó. Tác giả Phạm
Thanh Bình đã chỉ ra rằng: "Tuy nhiên, chỉ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, con
người mới được đặt vào vị trí trung tâm của toàn bộ hoạt động xã hội. Mọi
chiến lược, chính sách phát triển của Đảng ta đều nhằm tới mục đích vì con
người, cho con người" [3]. Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) với vai trò là
đại diện cho nhân dân, đã thể chế hóa ý chí và lợi ích của nhân dân thành
pháp luật, do đó bảo vệ trật tự XHCN, bảo vệ quyền công dân là một trong
những chức năng quan trọng của Nhà nước ta.
Trên tinh thần kế thừa Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã quy định:
1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được
pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm.

của pháp luật. Đồng thời, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn nhằm tạo
điều kiện thuận lợi để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án như không để
người phạm tội có thể xóa bỏ dấu vết phạm tội, tiêu hủy chứng cứ, thông cung
giữa những người phạm tội hoặc với người làm chứng, đảm bảo sự có mặt của bị
can, bị cáo, bị án khi có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng… Như vậy, biện
pháp ngăn chặn không nhằm mục đích trừng trị như hình phạt mà nhằm mục đích
phòng ngừa và có thể làm giảm hậu quả của tội phạm gây ra, để làm rõ sự thật
khách quan của vụ án, mặc dù khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn cũng có thể
hạn chế quyền tự do thân thể, tự do đi lại của người bị áp dụng. Do đó, mọi nhận
thức áp dụng biện pháp ngăn chặn để trấn áp, trừng trị người bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn đều là không đúng; như quan niệm của nhà Luật học I.I. Karpes:

18


"Giải quyết việc lựa chọn áp dụng biện pháp ngăn chặn chính là thực hiện trách
nhiệm hình sự đối với cá nhân người phạm tội" [54, tr. 49] hay các tác giả Phan
Hữu Kỳ, Phạm Quang Mỹ là "có tác dụng trấn áp mạnh mẽ kẻ địch và các bọn
tội phạm khác, thỏa mãn được yêu cầu, nguyện vọng của quần chúng" [31].
1.1.1.3. Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn
Điều 79 BLTTHS năm 2003 quy định các căn cứ áp dụng biện pháp
ngăn chặn bao gồm:
- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm: Việc kịp thời ngăn chặn tội phạm,
không để lọt tội phạm xảy ra hoặc không để người phạm tội có điều kiện kết
thúc hành vi phạm tội của mình gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội là việc làm
rất cần thiết và cấp bách vì mỗi tội phạm xảy ra đều có thể gây ra hoặc đe dọa
gây ra thiệt hại cho một hoặc nhiều quan hệ xã hội là khách thể được luật hình sự
bảo vệ. Quy định áp dụng trong những trường hợp cụ thể như: Bắt người trong
trường hợp khẩn cấp khi có căn cứ để cho rằng một người nào đó đang chuẩn bị
thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (điểm a

bỏ trốn hoặc sau khi phát hiện dấu vết tội phạm trên người hoặc nơi ở của
người bị nghi thực hiện tội phạm và có căn cứ cho rằng người đó trốn hoặc
tiêu hủy chứng cứ, cụ thể là những trường hợp bắt khẩn cấp hoặc phạm tội
quả tang theo quy định của BLTTHS.
- Để đảm bảo thi hành án: Thi hành án là giai đoạn cuối cùng của
TTHS, phát huy hiệu lực của bản án được thi hành trong thực tế. Việc cản trở
thi hành án được thể hiện: bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng, không có nghề
nghiệp hoặc bị cáo có nhân thân xấu như có tiền án, tiền sự, đối tượng côn đồ
hung hãn,… Khi có căn cứ cho rằng bị cáo cản trở việc thi hành án thì có thể
áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn thích hợp như: Tạm giam; Cấm đi
khỏi nơi cư trú; Bảo lãnh; Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
1.1.1.4. Ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn
Thứ nhất, các biện pháp ngăn chặn thể hiện sự chuyên chính của nhà
nước XHCN trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm: Tội phạm trực tiếp
hoặc hoặc gián tiếp xâm hại đến sự bền vững và ổn định của chế độ nhà nước,
chế độ kinh tế - chính trị và xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tự do,

20


danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân. Do đó, Nhà nước ta coi việc đấu
tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời, xử lí nghiêm minh nhằm
tiến tới loại trừ hiện tượng phạm tội ra khỏi đời sống xã hội là một trong
những nhiệm vụ quan trọng nhất và phải được tiến hành một cách kiên quyết,
triệt để, không khoan nhượng.
Thứ hai, các biện pháp ngăn chặn bảo đảm cho hoạt động của các cơ
quan tiến hành tố tụng được thuận lợi; góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả
của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Thông thường, người phạm
tội luôn tìm đủ mọi cách để có thể nhanh chóng đạt được mục đích phạm tội
lại vừa có thể che giấu, trốn tránh được sự phát hiện và trừng phạt của pháp

tụng cụ thể nhằm đảm bảo các hành vi tố tụng được thực hiện một cách chính
xác, khách quan. Trong giai đoạn trước khi khởi tố vụ án hình sự, BLTTHS đã
quy định về thời hạn giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm, đảm bảo mọi tội
phạm được phát hiện kịp thời để từ đó quyết định khởi tố hoặc không khởi tố
vụ án hình sự. Theo quy định tại Điều 103 BLTTHS năm 2003, thời hạn này là
hai mươi ngày đối với sự việc đơn giản, hai tháng đối với vụ việc phức tạp. Thời
hạn điều tra vụ án hình sự được quy định tại Điều 119 BLTTHS năm 2003
như sau: Không được quá bốn tháng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết
thúc điều tra. Trong trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ
án, trong thời hạn mười ngày trước khi hết hạn điều tra, CQĐT phải có văn bản
đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra. Trong suốt giai đoạn điều tra, Viện
kiểm sát thực hiện chặt chẽ việc kiểm sát điều tra của CQĐT, đồng thời thực
hiện một số hoạt động điều tra trong thời hạn mà pháp luật cho phép v.v...
Có thể thấy rằng, ở mỗi giai đoạn TTHS, pháp luật đều quy định chặt
chẽ một thời hạn nhất định, không có hoạt động tố tụng nào lại không bị ràng
buộc bởi một thời hạn cụ thể. Việc quy định thời hạn tố tụng nhằm để các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có ý thức tinh thần trách
nhiệm về các hoạt động của mình đảm bảo đúng thời gian quy định, chống lại
sự tùy tiện và những biểu hiện vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của những
người tham gia tố tụng.

22


Theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành: Thời hạn TTHS bao gồm
hai loại: thời hạn của thủ tục tố tụng và thời hạn của các biện pháp ngăn chặn.
Bộ luật tố tụng hình sự quy định về thời hạn của thủ tục tố tụng cụ thể
thông qua từng nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng. Các
hoạt động tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án hình sự
đều phải được tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định. Mỗi cơ quan tiến

BLTTHS năm 2003 lại không quy định khái niệm về thời hạn TTHS. Điều 96
BLTTHS năm 2003 chỉ quy định riêng về cách tính thời hạn trong TTHS. Từ
những quy định tại Điều 96 BLTTHS và từ thực tiễn hoạt động TTHS có thể
đưa ra khái niệm về thời hạn TTHS như sau: Thời hạn trong TTHS chính là
giới hạn, thời gian dành cho các chủ thể của TTHS thực hiện các quyền và
nghĩa vụ pháp lý của mình theo quy định của pháp luật; là khoảng thời gian
được ấn định để chủ thể TTHS phải thực hiện hoặc kết thúc một hoạt động tố
tụng nào đó và thời hạn cũng là một tiêu chí để xác định trách nhiệm của các
chủ thể TTHS.
1.2. THỜI HẠN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ

1.2.1. Khái niệm thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự
Từ phân tích ở trên cho thấy, thời hạn của các biện pháp ngăn chặn
trong TTHS thuộc phạm vi, giới hạn của thời hạn trong TTHS. Các quy định
nghiêm ngặt của pháp luật TTHS về thời hạn đối với từng biện pháp ngăn
chặn là thực sự cần thiết để đảm bảo việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
được chính xác, khách quan và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của những
người tham gia tố tụng. Cũng như các loại thời hạn tố tụng khác, thời hạn của
các biện pháp ngăn chặn được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác
để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố
tụng thực hiện việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với cá nhân, tổ chức,
người bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn do BLTTHS quy định.
Theo quy định của BLTTHS thì các biện pháp ngăn chặn trong TTHS
sự bao gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt

24





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status