Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ thực tiễn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. - Pdf 87

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
************

Họ và tên: Trần Mạnh Hà
Tên đề tài: Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ
thực tiễn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Nam

Hà Nội, năm 2021

1


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi, được hồn thành
dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Nam.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được công bố, trùng lặp trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn

Trần Mạnh Hà


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU:
Chương 1: Các vấn đề lý luận về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự.



2.2.3. Cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố

tụng hình sự
2.2. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân cư huyện Cẩm Giàng, tỉnh

Hải Dương.
2.3. Thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự tại

huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Tiểu kết chương 2
Chương 3: Nguyên nhân, hạn chế và một số giải pháp nâng cao chất

lượng áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.
3.1. Một số nguyên nhân, hạn chế của áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong

tố tụng hình sự.
3.1.1. Nguyên nhân, hạn chế từ quy định của pháp luật hiện hành còn chưa

đầy đủ, rõ ràng.
3.1.2. Nguyên nhân, hạn chế trong áp dụng pháp luật.
3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng các biện pháp ngăn chặn

trong tố tụng hình sự.
3.2.1. Một số yêu cầu về nâng cao chất lượng áp dụng các biện pháp ngăn

chặn trong tố tụng hình sự.
3.2.2. Các giải pháp cụ thể về nâng cao chất lượng áp dụng các biện pháp


BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

BPNC

Biện pháp ngăn chặn

TAND

Tồ án nhân dân

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

CQĐT

Cơ quan điều tra

THTT

Tiến hành tố tụng

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU

chống tội phạm.
Trước thực tế đó, cần phải có sự nghiên cứu nghiêm túc và khoa học để tìm
ra được những tồn tại, hạn chế, đồng thời phân tích các nguyên nhân để từ đó có thể
để ra các giải pháp để đảm bảo áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá trình tố
tụng hình sự. Đây là yêu cầu cấp thiết cần thực hiện để có thể nâng cao hiệu quả
cơng tác đấu tranh phịng chống tội phạm.
Chính vì lý do trên, tác giả chọn đề tài “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn
trong tố tụng hình sự từ thực tiễn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương” để nghiên
cứu làm luận văn thạc sĩ là vấn đề rất cần thiết về từ lý luận đến thực tiễn trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.

Trong thời gian vừa qua cũng đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá trình tố tụng hình sự. Các biện pháp ngăn
chặn được nghiên cứu, đề cập trong Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2013 do tác giả Nguyễn Ngọc
Chí chủ biên; Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Kiểm
sát Hà Nội xuất bản năm 2016 do tác giả Phạm Mạnh Hùng biên soạn; Giáo trình
Luật Tố tụng hình sự Việt Nam xuất bản năm 2019 của Trường Đại học Luật Hà
Nội do tác giả Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên; Giáo trình Luật TTHS xuất bản năm
2019 của Học viện Tịa án do Tiến sĩ Nguyễn Trí Tuệ chủ biên; Bình luận khoa học
tố tụng hình sự năm 2015 do GS.TS. Nguyễn Ngọc Anh và Luật sư. TS. Phan
Trung Hoài đồng chủ biên. Bên cạnh đó, quy định về các biện pháp ngăn chặn được
đưa ra nghiên cứu trên nhiều diễn đàn pháp luật, trên các tạp chí, cổng thơng tin
điện tử của ngành Toà án nhân dân, Kiểm sát nhân dân.
Đối với tình hình nghiên cứu thực tế; có một số cơng trình nghiên cứu đã tập
trung vào việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, cụ thể như


sau: Luận án Tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Trọng Phúc với đề tài “Chế định



Để đạt mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn được nghiên cứu là dựa trên cơ
sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng
Mác Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về áp dụng
pháp luật, tăng cường đấu tranh, phòng chống tội phạm, xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa; bảo vệ tính mạng, sức khỏe con người, về chính sách hình
sự, về cải cách tư pháp.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể
như: Phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích; phương
pháp tổng hợp; phương pháp nghiên cứu những vụ án điển hình; phương pháp thống
kê, tổng hợp; trong đó phương pháp thống kê và phương pháp so sánh là những
phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong đề tài nghiên cứu này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn.

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hồn thiện lý luận về áp dụng các
biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự trong khoa học pháp luật hình sự Việt
Nam. Luận văn nghiên cứu nghiêm túc, đóng góp khoa học về lý luận áp dụng áp
dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự và kiểm chứng thơng qua thực
tiễn hoạt động xét xử trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn.

Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ những bất cập, hạn chế và nguyên nhân
của thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự trên địa bàn
huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Những đề xuất, giải pháp, kiến nghị của luận
văn đưa ra có thể đóng góp phục vụ cho cơng tác nghiên cứu lập pháp và hoạt động
áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự để nâng cao chất lượng giải

niệm cụ thể nào về các biện pháp ngăn chặn mà các biện pháp ngăn chặn mới chỉ
được liệt kê, quy định tại Chương VI của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Mục
I, Chương VII của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bao gồm các biện pháp ngăn
chặn: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt
người phạm tội quả tang; Bắt người đang bị truy nã; tạm giữ, tạm giam; Cấm đi
khỏi nơi cư trú; Bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm. Riêng theo quy định của BLTTHS
năm 2015 có thêm biện pháp ngăn chặn mới là Tạm hoãn xuất cảnh.
Trong những năm gần đây, thực tế cho thấy việc áp dụng các BPNC đã kịp
thời chặn đứng được tội phạm, ngăn chặn việc cản trở hoạt động điều tra, truy tố,
xét xử, thi hành án, góp phần làm giảm tình hình tội phạm. Tuy nhiên, trong quá
trình áp dụng đó vẫn xảy ra vi phạm pháp luật, như: lạm dụng bắt khẩn cấp, lạm
dụng tạm giam, bức cung, nhục hình dẫn đến oan sai…. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên
cứu làm sáng tỏ khái niệm BPNC và nội dung của nó có ý nghĩa quan trọng đối với
việc nâng cao nhận thức của người tiến hành tố tụng, bảo đảm cho việc áp dụng các
BPNC đạt hiệu quả cao hơn. Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là cơ sở
pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho cơng tác phịng ngừa, ngăn chặn, điều tra, truy
tố, xét xử tội phạm, xuất phát bản chất là những biện pháp hạn chế một số quyền cá
nhân nên đây là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu khoa học luật TTHS cũng như


các nhà lập pháp quan tâm nghiên cứu. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau của
các chuyên gia luật học về khái niệm của BPNC.
Trước hết, khái niệm biện pháp ngăn chặn được nêu trong giáo trình tố tụng
hình sự của Đại học Luật Hà Nội, được hiểu là “những biện pháp cưỡng chế trong
tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khởi
tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc bắt quả tang nhằm ngăn chặn những hành vi
nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc
có hành vi cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án [5. tr 45].
Ngoài ra, trong Từ điển Luật học có giải thích về biện pháp cưỡng chế được
áp dụng đối với bị can, bị cáo trong trường hợp phạm tội quả tang, hoặc trường hợp

tra, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân trong phạm vi thẩm quyền tố tụng
hoặc người có thẩm quyền theo quy định BLTTHS có thể áp dụng với người bị tình
nghi phạm tội chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo, người bị kết án khi kịp thời ngăn chặn
tội phạm hoặc có căn cứ xác định họ sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét
xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án.
1.1.2. Đặc điểm các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.

Dựa trên khái niệm trên về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, có
thể đưa ra những đặc điểm đặc trung của biện pháp ngăn chặn, bao gồm:
- Bản chất pháp lý của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng

hình sự: Theo Đại từ điển Tiếng Việt do GS, TS Nguyễn Như Ý làm chủ biên giải
thích nghĩa của động từ "ngăn chặn" là: "Chặn lại, làm hạn chế khả năng gây tác
hại", nghĩa của danh từ "biện pháp" là: "cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết
một vấn đề cụ thể".[96. tr 161]. Từ các nội dung này, ta có BPNC trong luật TTHS
là cách thức chặn lại, làm hạn chế khả năng gây tác hại của tội phạm.


Bản chất pháp lý của các BPNC được xác định bởi tính chất và nội dung của
sự cưỡng chế thể hiện trong trong khi áp dụng chúng. Xét về tính chất của sự cưỡng
chế, các BPNC là sự tác động trực tiếp của Nhà nước và xã hội lên đối tượng bị áp
dụng. Xét về nội dung cưỡng chế, các BPNC tác động đến thể chất và tâm lý của
chính đối tượng bị áp dụng bằng sự cấm đoán một số hành vi nhất định, như: tiếp
tục phạm tội, bỏ trốn, rời khỏi nơi cư trú mà không được phép của cơ quan có thẩm
quyền, cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, phạm tội mới; và còn tác động
tâm lý lên cả đối tượng nhận bảo lĩnh về trách nhiệm của mình khi để cho bị can, bị
cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan. Như vậy, các BPNC cịn mang tính phịng ngừa
chung và phịng ngừa riêng. Mức độ hạn chế tự do cá nhân cũng khác nhau trong
việc áp dụng từng BPNC mà không thể áp dụng đồng thời, nhiều BPNC cùng một
lúc trong một thời điểm để gia tăng cao hơn mức độ hạn chế đó. Các biện pháp tạm

lệnh truy nã có thể là bị can, bị cáo, người đang thi hành án.
- Phạm vi áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự: Tất cả các

BPNC được áp dụng trong mọi giai đoạn tố tụngtương ứng từ điều tra, khởi tố, truy
tố, xét xử. Khi đình chỉ hoặc việc áp dụng khơng cịn cần thiết, thì cơ quan THTT
phải hủy bỏ hoặc thay thế chúng. Các BPNC được áp dụng trong một khoảng thời
hạn nhất định, phụ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng, cấp xét xử phúc thẩm và tính
chất tội phạm. Mỗi một BPNC cụ thể lại được áp dụng với một đối tượng cụ thể
theo căn cứ, mục đích áp dụng khác nhau tùy theo từng giai đoạn TTHS. Có những
BPNC chỉ được áp dụng trong phạm vi của một giai đoạn tố tụng, như: bắt khẩn
cấp, bắt quả tang, tạm giữ, thì chỉ được áp dụng trong giai đoạn điều tra, nhưng
cũng có những biện pháp lại được áp dụng trong nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau
(điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm), như: bắt bị can, bị cáo để tạm
giam, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để
bảo đảm.
1.1.3. Mục đích, ý nghĩa các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.
1.1.3.1. Mục đích áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự


Khi quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
nhằm 02 mục đích, đó là “Ngăn chặn tội phạm” và “Bảo đảm hoạt động cho các
giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án". Mục đích áp dụng các BPNC ở
mỗi giai đoạn tố tụng điều tra, truy tố, xét xử là khác nhau. Theo đó, khi hồ sơ vụ án
thuộc cơ quan nào thụ lý, thì cơ quan đó có quyền áp dụng, thay thế, hủy bỏ các
BPNC để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ của mình do pháp luật quy định. Như đã
phân tích ở trên mỗi một BPNC cụ thể lại được áp dụng với một đối tượng cụ thể
theo căn cứ, mục đích áp dụng khác nhau tùy theo từng giai đoạn TTHS.
Tại giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra áp dụng biện pháp ngăn chặn để kịp
thời ngăn chặn hành vi phạm tội; xác định căn cứ khởi tố bị can đối với người phạm

nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người
nào thực hiện các hành vi đó.Tội phạm trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sự ổn
định và bền vững của độc lập, chủ quyền, thống nhất, tồn vẹn lãnh thổ Tổ quốc,
chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phịng, an ninh, trật tự, an toàn
xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự
do, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản của công dân, xâm phạm những lĩnh vực
khác của trật tự pháp luật XHCN. Do đó, việc đấu tranh phòng chống tội phạm, loại
trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội là nhiệm vụ quan trọng. Do đó, các biện pháp
ngăn chặn trong tố tụng hình sự góp phần:
Thứ nhất, việc áp dụng đúng đắn, kịp thời, chính xác các biện pháp ngăn
chặn trong tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng trong q trình giải quyết vụ án
hình sự, nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự để ngăn chặn,
phịng ngừa hiệu quả sự gia tăng của tội phạm, từ đó giữ gìn an ninh, trật tự an tồn
xã hội. Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự đảm bảo cho hoạt động của
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, khởi tố,
truy tố, xét xử, thi hành án được diễn ra thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả cơng


cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn kịp
thời ngay từ đầu khi phát hiện dấu hiệu của tội phạm thì sẽ đạt hiệu quả cao trong
việc giải quyết vụ án hình sự.
Thứ hai, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự góp
phần bảo vệ hiệu quả quyền lợi của Nhà nước, xã hội, công dân. Trên thực tiễn, nếu
không áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo, người tình nghi phạm tội
chưa bị khởi tố thì rất có thể họ sẽ trốn tránh, cản trở hoặc tiếp tục thực hiện hành vi
nguy hiểm khác cho xã hội. Quá trình xây dựng một Nhà nước vững mạnh, biết
thượng tơn pháp luật thì địi hỏi người dân sống trong xã hội phải tuyệt đối chấp
hành pháp luật. Các BPNC không tước bỏ quyền và tự do cá nhân như mục đích
trừng trị của hình phạt mà chỉ hạn chế những quyền và tự do ấy để cơ quan có thẩm
quyền xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự. Việc áp dụng biện pháp ngăn

cách đúng đắn nhất, đạt hiệu quả tốt nhất. Đồng thời, việc hệ thống các quy định
pháp luật về áp dụng các biện pháp ngăn chặn đầy đủ chi tiết hơn sẽ khắc phục tình
trạng thiếu thống nhất trong quá trình áp dụng từng vụ việc, từng địa phương khác
nhau.
Tuy nhiên vẫn còn nhiều quy định hiện chưa chặt chẽ, hợp lý làm cho việc áp
dụng cụ thể vào thực tiễn chưa thực sự hiệu quả. Việc quy định quy phạm pháp luật
về áp dụng biện pháp ngăn chặn ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng việc áp dụng,
bởi lẽ việc áp dụng phải tuân theo nguyên tắc, chặt chẽ tuân theo pháp luật chứ
khơng mang tính tuỳ nghi nên một khi quy định không rõ ràng sẽ rất xảy ra việc
hiểu khơng đúng, áp dụng khơng đúng, khơng chính xác BPNC, khơng đạt được
mục đích áp dụng BPNC.
1.2.2. Năng lực của chủ thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố

tụng hình sự


Ngoài yếu tố lập pháp, chất lượng của các quy định pháp luật về áp dụng các
biện pháp ngăn chặn, yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng của việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn chính là năng lực của chủ thể áp dụng. Cùng là quy phạm pháp
luật quy định về BPNC nhưng năng lực nhận thức, trình độ hiểu biết của từng chủ
thể áp dụng là khác nhau, có người năng lực tốt, có người năng lực yếu. Chính vì
vậy, nếu ý thức pháp luật của các chủ thể có quyền áp dụng BPNC khơng đầy đủ,
khơng tồn diện như việc hiểu sai điều luật hướng dẫn, nhận thức sai về tình tiết vụ
án, áp dụng theo cảm tính, kinh nghiệm sẽ khơng thể áp dụng BPNC một cách hiệu
quả và ngược lại, nếu trình độ hiểu biết, nhận thức pháp luật của các chủ thể hiểu rõ
về việc áp dụng BPNC trong quá trình giải quyết vụ án sẽ đạt hiệu quả tốt.
Đơn cử như trong thực tế áp dụng biện pháp tạm giam còn có nhiều vướng
mắc, bất cập dẫn tới có nhiều trường hợp bị can, bị cáo nếu không tạm giam cũng
không tiếp tục phạm tội, cản trở hoạt động tố tụng như trường hợp hành vi phạm tội
rõ ràng, người thực hiện hành vi phạm tội tự thú, thành khẩn khai nhận, ăn năn, hối

trường hợp khẩn cấp; Bắt người đang bị truy nã. So với BLTTHS năm 2003,
BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm hai biện pháp ngăn chặn mới là Giữ người trong
trường hợp khẩn cấp; Tạm hoãn xuất cảnh.
1.3.1.1. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Trước đây Điều 81 Bộ luật TTHS 2003 quy định là bắt người trong trường
hợp khẩn cấp, thì hiện nay Bộ luật TTHS 2015 quy định là giữ người trong trường
hợp khẩn cấp; Bởi vì trong quá trình áp dụng theo quy định của Điều 81 BLTTHS
năm 2003 thì có thể “bắt trước, phê chuẩn sau”, tuy nhiên theo tinh thần của Hiến
pháp năm 2013 thì “Khơng ai bị bắt nếu khơng có quyết định của Tòa án, quyết
định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát”. Vì lý do đó mà tại Bộ luật TTHS năm
2015 các nhà làm luật đã thay đổi từ bắt người trong trường hợp khẩn cấp thành
“Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” theo quy định của Điều 110 BLTTHS năm
2015 để phù hợp với quy định của Hiến pháp. Theo đó, Điều 110 Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015 quy định các trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp,


thẩm quyền người ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, nội dung và các thủ
tục cần thiết khác khi ban hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Mục
đích áp dụng biện pháp ngăn chặn trên là để kịp thời ngăn chặn, xử lý tội phạm và
người phạm tội.
Các căn cứ áp dụng BPNC giữ người trong trường hợp khẩn cấp là:
+ Khi cơ quan công an có căn cứ cho rằng một người đang chuẩn bị thực hiện
hành vi phạm tội thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng. Cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định được các chứng cứ
chứng tỏ người đó đang tìm kiếm, chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội; lên kế
hoạch, lôi kéo, phân công người khác nhằm thực hiện tội phạm…Tội phạm mà họ
chuẩn bị thực hiện phải là tội phạm rất nghiêm trọng, có mức cao nhất của khung
hình phạt từ trên 07 năm đến 15 năm tù hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, có
mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

tội phạm phải được tiến hành thông qua các biện pháp tố tụng được quy định trong
BLTTHS. Xét thấy cần ngăn chặn việc bỏ trốn, xóa dấu vết tội phạm, đang cất giấu
hoặc phá hủy công cụ, phương tiện phạm tội, đang tẩu tán hoặc tiêu thụ tài sản do
phạm tội mà có…
Thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp: Thủ trưởng, Phó
thủ trưởng Cơ quan điều tra , thủ trưởng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra và người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã
rời khỏi sân bay, bấn cảng. BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm thẩm quyền ra
lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp so với thẩm quyền bắt người trong
trường hợp khẩn cấp của BLTTHS năm 2003 một số người đứng đầu các đơn vị hữu
quan thuộc Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư. Đây cũng là



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status