Phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia Cúc Phương - Pdf 13

Trường ĐH Văn Hóa Hà Nội GVHD: Ths Nguyễn Thị Quỳnh Trang

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA DU LỊCH
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA
Đề Tài: “ Phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia Cúc
Phương”
Giảng viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Sinh viên thực hiện: Đinh Thị Tâm
Lớp: CDDL5B
Hà Nội ngày tháng năm 2014
Sinh viên: Đinh Thị Tâm Page 1
Trường ĐH Văn Hóa Hà Nội GVHD: Ths Nguyễn Thị Quỳnh Trang
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bài tiểu luận cuối khóa này, ngoài sự có gắng, nỗ lực
của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của trường, của quý
thầy cô, người thân và bạn bè.
Tôi xin phép gửi lời biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô trường Đại học Văn
hóa Hà Nội, đặc biệt là cô giáo Thạc sỹ Nguyễn Thị Quỳnh Trang đã tận tình giúp
đỡ, chỉ bảo, động viên và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành tốt bài tiểu luận
cuối khóa này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Sở Văn hóa Thể thao và
du lịch Ninh Bình, Ban quản lý Vườn Quốc gia Cúc Phương, đặc biệt là Ban lãnh
đạo và các anh chị làm việc tại phòng Nghiệp vụ Du lịch đã cung cấp những tư
liệu cũng như góp ý để bài tiểu luận cuối khóa này của tôi được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến những người thân, bạn bè
đã luôn bên cạnh lo lắng và động viên tôi trong suốt những năm học vừa qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên : Đinh Thị Tâm
Lớp: CDDL5B
Sinh viên: Đinh Thị Tâm Page 2

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG
3.1. Thực trạng hoạt động
3.1.1. Các đơn vị tổ chức du lịch
3.1.2. Nguồn nhân lực
3.1.3. Thực trạng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
3.1.4. Thực trạng phát triển DLST tại VQG Cúc Phương
3.2. Một số giải pháp phát triển DLST tại VQG Cúc Phương
3.2.1. Phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
3.2.2. Giaỉ pháp về nguồn nhân lực
3.2.3. Xây dựng chiến lược về đào tạo tuyên truyền DLST
3.2.4. Giaỉ pháp bảo vệ môi trường sinh thái
3.2.5. Quy hoạch du lịch
3.2.6. Xây dựng hình ảnh tốt về khu vực để nhấn mạnh vai trò của du lịch sinh
thái( hoạt động marketing)
3.2.7. Các giải pháp khác
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng trên toàn thế
giới với tỷ lệ hàng năm tăng cường cao và ổn định. Du lịch sinh thái (DLST) với
bản chất nhạy cảm và có trách nhiệm với môi trường đã và đang phát triển nhanh
Sinh viên: Đinh Thị Tâm Page 4
Trường ĐH Văn Hóa Hà Nội GVHD: Ths Nguyễn Thị Quỳnh Trang
chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới, thu hút sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp
xã hội, đặc biệt đối với những người có nhu cầu tham quan du lịch nghiên cứu
khoa học.
Tại Việt Nam, du lịch sinh thái là loại du lịch mới cả về khái niệm lẫn tổ chức
quản lý và khai thác sử dụng. Công tác nghiên cứu, điều tra cơ bản và phát triển du

để định hướng phát triển du lịch sinh thái, nhằm quản lý, bảo vệ môi trường, phát
huy các giá trị truyền thống và hỗ trợ cộng đồng địa phương phát triển.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
• Tổng quan cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và mối quan hệ giữa DLST với các
vườn quốc gia.
• Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại VQGCP.
• Tìm hiểu hiện trạng hoạt động du lịch ở Cúc Phương, đánh giá hiện trạng du lịch
dưới góc độ du lịch sinh thái.
• Các giải pháp cơ bản nhằm khai thác hợp lý tiềm năng DLST của VQG Cúc
Phương.
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
• Phạm vi lãnh thổ: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ của vườn
quốc gia Cúc Phương.
• Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đánh giá tiềm năng và hiện trạng theo các nguyên
tắc cơ bản của DLST.
5. Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp thu thập xử lý thông tin
• Phương pháp thực địa
• Phương pháp quan sát
• Phương pháp phân loại và hệ thống hóa
• Phương pháp phân tích tổng hợp
• Phương pháp thống kê
6. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính
của đề tài được trình bày trong 3 chương.
Chương 1: Du lịch sinh thái và việc phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam.
Chương 2: Tiềm năng du lịch sinh thái tại VQG Cúc Phương.
Chương 3: Thực trạng hoạt động và một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái
tại VQG Cúc Phương.
CHƯƠNG1: DU LỊCH SINH THÁI VÀ VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Trường ĐH Văn Hóa Hà Nội GVHD: Ths Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Mặc dù có chung quan niệm cơ bản về DLST, song căn cứ vào những đặc
thù và mục tiêu phát triển, mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế đều phát triển những
định nghĩa riêng của mình về DLST. Một số định nghĩa có thể xem xét đến là:
• Định nghĩa của Hictor ceballos-Lascurain(1987): “DLST là du lịch đến những
khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham
quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám
phá”
• Định nghĩa của Nêpal: “DLST là loại hình du lịch đề cao sự tham gia của nhân
dân về việc hoạch định và quản lý các tài nguyên du lịch để tăng cường phát triển
cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch, đồng thời sử
dụng thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc
vào.”
• Định nghĩa của Malaixia: “DLST là hoạt động du lich và thăm viếng một cách có
trách nhiệm về mặt môi trường, tới những khu thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm
tận hưởng và tôn trọng các giá trị của thiên nhiên (và những đặc thù văn hóa kèm
theo, trước đây cũng như hiện nay), mà hoạt động này sẽ thúc đẩy công tác bảo
tồn có ảnh hưởng du khách không lớn và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương
được tham dự một cách tích cực, có lợi về xã hội và kinh tế”.
• Định nghĩa của Ôtrâylia: “DLST là du lịch dựa vào thiên nhiên, có liên quan đến
giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên, được quản lý bền vững về mặt
sinh thái”.
• Định nghĩa của hiệp hội DLST quốc tế: “DLST là việc đi lại có trách nhiệm tới
các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện được phúc lợi
cho người dân địa phương”.
• Định nghĩa của Tổng Cục Du lịch Việt Nam thông qua Hội thảo quốc gia về “
Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam” từ ngày 7 đến 9/9/1999, đã đưa
ra định nghĩa về DLST ở Việt Nam như sau: “DLST là loại hình du lịch dựa vào
Sinh viên: Đinh Thị Tâm Page 8
Trường ĐH Văn Hóa Hà Nội GVHD: Ths Nguyễn Thị Quỳnh Trang

lý, với mục đích bảo tồn các khu tự nhiên đó.
+ Tạo ra các cơ hội về công ăn việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng địa
phương.
+ Tăng cường nhận thức của cả du khách và người dân địa phương về sự cần
thiết phải bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa.
1.1.2. Mối quan hệ giữa DLST với các loại hình du lịch khác nhau
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào tự nhiên và văn hoá bản địa. Tài
nguyên du lịch, sản phẩm du lịch sinh thái trước hết là thiên nhiên, không có thiên
nhiên không có du lịch sinh thái. Du lịch sinh thái không tách rời giáo dục môi
trường sinh thái. Các hoạt động của du lịch sinh thái nhằm nâng cao nhận thức của
con người, giúp thay đổi thái độ và hành vi theo hướng tích cự để rồi người dân
sống thân thiện với thiên nhiên; khám phá, hưởng thụ và đóng góp cho các nỗ lực
bảo tồn và phát triển bền vững.
Một đặc trưng của du lịch sinh thái là các hoạt động có sự tham gia tích cực của
cộng đồng địa phương. Vai trò của họ cùng với văn hoá bản địa làm nên sản phẩm
du lịch sinh thái khác nhau, các loại hình du lịch khác nhau. Để du lịch sinh thái
thành công cụ của bảo tồn nhất thiết phải phối hợp tốt giữa các bên tham gia vào
du lịch. Đây là vấn đề mấu chốt trong quan hệ giữa bảo tồn và du lịch sinh thái. Vì
vậy, cần xây dựng niềm tin và nhận thức chung trong hoạt động du lịch sinh thái.
Không cho rằng bảo tồn là đóng kín và ngược lại không nên hiểu rằng làm du lịch
sinh thái chỉ là khai thác tự nhiên đơn thuần. Trước hết phải hiểu được những khu
vực, những việc được làm và không được làm trong khu bảo tồn để phát triển du
lịch sinh thái. Ví dụ: Một số quy định bắt buộc phải thực hiện trong khu bảo tồn du
lịch sinh thái: Không được xây dựng các công trình phục vụ du lịch trong phân
khu bảo vệ nghiêm ngặt; có dự án du lịch sinh thái riêng được cấp có thẩm quyền
phê duyệt; hoạt động du lịch phải tuân theo các quy định về bảo tồn, phải trả phí.
• Du lịch dựa vào thiên nhiên
Sinh viên: Đinh Thị Tâm Page 10
Trường ĐH Văn Hóa Hà Nội GVHD: Ths Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Du lịch dựa vào thiên nhiên là loại hình du lịch sử dụng tài nguyên thiên

Trường ĐH Văn Hóa Hà Nội GVHD: Ths Nguyễn Thị Quỳnh Trang
• Du lịch công vụ
Du lịch công vụ là loại hình du lịch kết hợp hai mục đích là công việc và đi
du lịch. Mục đích của khách du lịch trong du lịch công vụ chỉ là chiêm ngưỡng,
tìm hiểu tài nguyên thiên nhiên, không mang tính trách nhiệm bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên, bản sắc văn hóa bản địa như du lịch sinh thái.
• Quan hệ giữa du lịch sinh thái và cộng đồng địa phương
Trước hết, ngoài những hấp dẫn về tự nhiên đối với khách du lịch, thì vai trò
của cộng đồng địa phương cũng không thể xem nhẹ trong việc thu hút khách với
những yếu tố chĩnh về văn hóa xã hội, bao gồm:
Truyền thống địa phương
Lịch sử địa phương và những di sản văn hóa bản địa
Kiến trúc
Các món ăn địa phương
Hàng thủ công
Nghệ thuật, âm nhạc
Tôn giáo ngôn ngữ
Cách sống
Trang phục, phong tục, truyền thống.
Trong những yếu tố này, 5 yếu tố đầu có xu hướng được khách du lịch coi là
quan hơn. Mặc dù khách du lịch sinh thái quan tâm nhiều đến môi trường tự nhiên,
song không thể loại trừ mong muốn tham quan, hiểu biết các vấn đề văn hóa – xã
hội của cộng đồng địa phương. Thêm vào đó, địa phương lại là nơi đáp ứng các
nhu cầu của khách như: nơi ăn nghỉ, tiện nghi, các phương tiện giải trí, các dịch vụ
cần thiết, và ngay cả nguồn nhân lực phục vụ khách trong đó có cả lòng hiếu
kháchv.v
Như vậy, khách du lịch đến địa phương thăm quan, dù là môi trường tự
nhiên, thì vẫn có những quan hệ và tác động đến cộng đồng địa phương. Đó là
những tác động về văn hóa – xã hội – những ảnh hưởng mang đến cho cộng đồng
địa phương do kết quả của mối quan hệ qua lại với khách.

Sinh viên: Đinh Thị Tâm Page 13
Trường ĐH Văn Hóa Hà Nội GVHD: Ths Nguyễn Thị Quỳnh Trang
• Tính giáo dục cao về môi trường: DLST hướng con người tiếp cận hơn nữa với
các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học và rất
nhạy cảm về mặt môi trường. Hoạt động du lịch gây nên những áp lực lớn đối với
môi trường, và DLST được coi là chìa khóa nhằm cân bằng giữa các mục tiêu phát
triển du lịch với việc bảo vệ môi trường.
• Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa dạng sinh
học: Hoạt động DLST có tác động giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi trường, qua đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên
thiên nhiên cũng như thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, đảm bảo yêu cầu phát triển
bền vững.
• Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Cộng đồng địa phương chính là
những người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại địa phương mình.
Phát triển DLST hướng con người đến những vùng tự nhiên hoang sơ, có giá trị
cao về đa dạng sinh học. Điều này đặt ra một yêu cầu cấp bách là cần phải có sự
tham gia của cộng đồng địa phương tại khu vực đó, bởi vì hơn ai hết chính những
người dân địa phương tại đây hiểu rõ nhất về các nguồn tài nguyên của mình. Sự
tham gia của cộng đồng địa phương có tác dụng to lớn trong việc giáo dục du
khách bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường, đồng thời cũng góp phần nâng
cao hơn nữa nhận thức cho cộng đồng, tăng các nguồn thu nhập cho cộng đồng.
1.1.4.Những nguyên tắc cơ bản của DLST
DLST hàm chứa những nguyên tắc cơ bản với những nội dung chủ yếu sau đây:
• Nguyên tắc 1: Giáo dục nâng cao hiểu biết cho du khách về môi trường tự nhiên,
qua đó tạo ý thức tham gia của khách du lịch và các nỗ lực bảo tồn.
• Nguyên tắc 2: Góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh
thái tự nhiện, góp phần bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa của vùng, quốc gia
• Nguyên tắc 3: Tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đông địa phương.
• Nguyên tắc 4: Du khách được hòa nhập với hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn
nhưng phải có trách nhiệm giữ gìn hệ sinh thái đang hòa nhập.

sau:
Một VQG là một lãnh thổ tương đối rộng trên đất liền hay trên biển mà:
Sinh viên: Đinh Thị Tâm Page 15
Trường ĐH Văn Hóa Hà Nội GVHD: Ths Nguyễn Thị Quỳnh Trang
- ở đó có một hay vài hệ sinh thái không bị thay đổi lớn do sự khai thác hoặc chiếm
lĩnh của con người. Các loài thực – đông vật, các đặc điểm hình thái, địa mạo và
nơi cư trú của các loài, hoặc các cảnh quan thiên nhiên đẹp là mối quan tâm cho
nghiên cứu khoa học, cho giáo dục và giải trí.
- ở đó có ban quản lý thực hiện các biện pháp ngăn chặn hoặc loại bỏ nhanh chóng
sự khai thác hoặc chiếm lĩnh các đặc trưng về sinh thái và cảnh quan.
- ở đó cho phếp khách du lịch đến thăm, dưới những điều kiện đặc biệt, cho các mục
đích nghiên cứu, giáo dục, văn hóa, giải trí và lòng ngưỡng mộ.
- Việc thiết lập vườn quốc gia và các khu bảo tồn nhằm mục tiêu chính trong bảo
tồn đa dạng sinh học và tính toàn vẹn lãnh thổ, phục vụ nghiên cứu khoa học và
giáo dục, tạo môi trường du lịch. Như vậy VQG là những địa bàn phù hợp cho
DLST.
+ Khả năng hấp dẫn DLST của VQG
VQG và các khu cảnh quan tự nhiên hấp dẫn ngày càng được quan tâmtrong sử
dụng đầu tư cho phát triển du lịch vì sự phong phú của tự nhiên, sự đa dạng của hệ
sinh thái và cảnh quan đẹp. Chúng được coi là nền tảng cho sự phát triển DLST và
mang lại lợi ích kinh tế xã hội.
Một trong những yếu tố thúc đẩy việc thành lập VQG chính là tạo cơ hội cho
mọi người tham quan, giải trí trong thiên nhiên. Do đó, nhiều quốc gia đã thành
lập VQG và khu bảo tồn.
Yếu tố khiến một VQG hoặc một khu tự nhiên trở thành hấp dẫn khách du
lịch bao gồm:
- Vị trí ở gần sân bay quốc tế hay trung tâm du lịch lớn.
- Khả năng đến khu vực tham quan thuận lợi.
- Đặc điểm sinh thái tự nhiên: đa dạng, các loài quý hiếm, điển hình, sự hấp dẫn và
khả năng để quan sát chúng ( thường xuyên hay mang tính mùa vụ), sự an toàn khi

trong việc điều hoà khí hậu địa phương, khí hậu vùng và ngay cả khí hậu toàn cầu.
- Bảo vệ được phong cảnh, nơi giải trí và du lịch cho nhân dân, bảo
vệđược các di sản văn hoá, khảo cổ, lịch sử dân tộc.
- Nơi nghiên cứu khoa học, học tập, giáo dục, đào tạo.
- Tăng thu nhập do hoạt động du lịch, tạo công ăn việc làm cho người dântrong
vùng.
1.2.3. Việc phát triển du lịch sinh thái tại một số vườn quốc gia tại Việt Nam
Vườn quốc gia tại Việt Nam là một danh hiệu được Chính phủ Việt Nam công
nhận chính thức thông qua nghị định. Thông thường, vườn quốc gia nằm trên địa
Sinh viên: Đinh Thị Tâm Page 17
Trường ĐH Văn Hóa Hà Nội GVHD: Ths Nguyễn Thị Quỳnh Trang
phận nhiều tỉnh, thành phố thì do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam quản lí còn vườn quốc gia nằm trong địa giới một tỉnh, thành phố thì do Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố đó quản lý. Năm 1966, Việt Nam có vườn quốc gia
đầu tiên là vườn quốc gia Cúc Phương thuộc địa bàn 3 tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa,
Hòa Bình. Hiện nay Việt Nam có 30 vườn quốc gia với tổng diện tích các vườn
quốc gia khoảng 10.350,74 km² (trong đó có 620,10 km² là mặt biển), chiếm
khoảng 2,93% diện tích lãnh thổ đất liền.
Đến tháng 8/2010, cả nước có 30 vườn quốc gia gồm: Ba Bể, Bái Tử Long,
Hoàng Liên, Tam Đảo, Xuân Sơn, Ba Vì, Cát Bà, Xuân Thủy, Cúc Phương, Bến
En, Pù Mát, Vũ Quang, Phong Nha-Kẻ Bàng, Bạch Mã, Núi Chúa, Bidoup Núi
Bà, Phước Bình, Chư Mom Ray, Chư Yang Sin, Kon Ka Kinh, Yok Đôn, Lò Gò-
Xa Mát, Tràm Chim, Mũi Cà Mau, U Minh Hạ, U Minh Thượng, Phú Quốc, Côn
Đảo.
- Phát triển DLST tại một số Vườn Quốc gia:
* Vườn Quốc gia Cát Tiên
Nói đến du lịch sinh thái thì vườn quốc gia Cát Tiên đã được UNESCO công
nhận là khu bảo tồn sinh quyển thế giới - là một địa điểm đang được du khách chú
ý. Cát Tiên có nguồn tài nguyên đa dạng sinh học phong phú, hệ thực vật, động vật,
mang đặc trưng miền Đông Nam Bộ. Điều mới lạ của Cát Tiên mà không vườn

đã đầu tư cho vườn hàng tỷ đồng. Thế nhưng, số lượt du khách đến Bến En tăng
chưa nhiều.Hàng năm, có trên dưới 10.000 lượt du khách (khoảng 20% khách nước
ngoài) đến khu bảo tồn này còn qúa ít so với tiềm Tiềm năng phong phú mà thiên
nhiên ưu đãi.
*Vườn quốc gia Tràm Chim
Nhắc đến du lịch sinh thái ở Việt Nam thời gian qua, không thể không nhắc đến
Tràm Chim, một khu rừng đặc hữu đại diện vùng sông nước Nam bộ. Vườn quốc
gia Tràm Chim (tỉnh Đồng Tháp), được công nhận là vườn quốc gia năm 1999. Với
diện tích rộng 5.788 ha, Tràm Chim có nhiều kênh rạch chằng chịt, xen kẽ những
Sinh viên: Đinh Thị Tâm Page 19
Trường ĐH Văn Hóa Hà Nội GVHD: Ths Nguyễn Thị Quỳnh Trang
cánh đồng lúa trời, cù nèo, cà na, bằng lăng nước, đặc biệt là những khu rừng tràm
bát ngát đã tạo cảnh quan sông nước hữu tình, thơ mộng. Vườn quốc gia Tràm
Chim có hơn 200 loài chim sinh sống, trong đó có những loài quý hiếm như: sếu
đầu đỏ, ven sen, cò mỏ quắm, giá đẫy, diệc xám, diệc móc, chim trích ba màu. Có
những loài cò đã phát triển rất đông đúc như: cò trắng, cò bơ, cò ma, cò ráng
Khách du lịch đến Tràm Chim chủ yếu đi xem và theo dõi đời sống của các loài
chim, hoặc đi xuồng ba lá trong những vườn tràm để câu cá, thưởng ngoạn không
khí trong lành, yên bình trong dòng kênh rạch hiền hoà. Giám đốc vườn quốc gia
Tràm Chim Nguyễn Văn Lũ nhận định, thời gian qua, một phần do lũ lụt làm ảnh
hưởng, một phần do hạ tầng cơ sở, đường đi còn khó khăn nên công tác tổ chức du
lịch ở Tràm Chim mới chỉ là hình thức thử nghiệm. Tuy nhiên, ông Lũ khẳng định,
trong tương lai Tràm Chim sẽ đầu tư mạnh vào lĩnh vực này.
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI TẠI VƯỜN QUỐC GIA
CÚC PHƯƠNG
2.1. Giới thiệu chung
Được thành lập ngày 7/7/1962, Cúc Phương là Vườn Quốc gia đầu tiên
và cũng là đơn vị bảo tồn thiên nhiên đầu tiên của Việt Nam. Với nhiều lợi thế về
cảnh quan thiên nhiên, sự đa dạng về hệ sinh thái, các giá trị văn hoá lịch sử, từ lâu
Cúc Phương đã trở thành điểm du lịch sinh thái nổi tiếng và hấp dẫn.

những chìa khoá để tìm hiểu lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á, những di cốt này
còn lưu giữ ở động Người Xưa, hang Con Mong.
Cúc Phương còn là nơi cư trú và sinh sống của đồng bào Mường với những nét
văn hoá riêng. Đó là những nếp nhà sàn, những trang phục, những phong tục tập
Sinh viên: Đinh Thị Tâm Page 21
Trường ĐH Văn Hóa Hà Nội GVHD: Ths Nguyễn Thị Quỳnh Trang
quán, lễ hội cồng chiêng, những điệu hò mang đậm sắc thái văn hoá dân tộc
Mường.
Năm 2000, Cúc Phương đã phát hiện một hoá thạch động vật có xương sống.
Hoá thạch lộ ra trong đá vôi phân lớp dày, hệ tầng Đồng Giao tuổi Trias giữa. Theo
kết luận ban đầu của Viện cổ sinh học Việt Nam, đây là hoá thạch của một loài
Placodontia (bò sát răng phiến) sống cách ngày nay chừng 200 đến 230 triệu năm
và là hoá thạch đầu tiên tìm thấy ở Đông Nam Á.
Vườn Quốc gia Cúc Phương ngoài hệ động thực vật phong phú và đa dạng,
còn có các công trình nghiên cứu, các thành quả của những dự án bảo tồn. Đây
thực sự là nguồn tài nguyên du lịch không chỉ có giá trị về mặt khoa học mà còn có
giá trị cao về giáo dục ý thức bảo tồn thiên nhiên, môi trường, như Trung tâm du
khách, Trung tâm cứu hộ các loài linh trưởng, Vườn thực vật
Vườn quốc gia Cúc Phương là 1 trong 4 đại diện đầu tiên của Việt Nam ứng
cử di sản thế giới năm 1991 (cùng với vịnh Hạ Long, chùa Hương và Cố đô Hoa
Lư). Hiện tại tỉnh Ninh Bình vẫn tiếp tục hoàn thiện hồ sơ để đề nghị UNESCO
công nhận rừng Cúc Phương là di sản thiên nhiên thế giới. Trong hồ sơ đề cử hang
Con Moong thuộc rừng Cúc Phương là di sản văn hóa thế giới do tỉnh Thanh Hóa
chủ trì, các nhà khoa học cũng đề nghị xét mở rộng phạm vi đối tượng đề cử khác
trong bối cảnh tổng thể vườn Cúc Phương.
2.2. Tài nguyên du lịch tại Vườn quốc gia Cúc Phương
2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm trên hai dãy núi đá vôi chạy song song theo
hướng Tây Bắc – Đông Nam. Giữa hai dãy núi là vùng đồi thấp tạo nên một thung
lũng trải dài trên 20km dọc trung tâm của Vườn.

không đều: Chò chỉ (Parashorea chinensis), Gội nếp (Aglaia gigantea) , Chò đãi
Sinh viên: Đinh Thị Tâm Page 23
Trường ĐH Văn Hóa Hà Nội GVHD: Ths Nguyễn Thị Quỳnh Trang
(Annamocarya chinensis ), Vù hương (Cinnamomun balansae ) là những cây
thường xanh. Chò xanh (Terminalia myriocarpa) , Đăng (Tetrameles nudiflora) là
những loài cây rụng lá.
1b. Tầng ưu thế sinh thái. Cây phân bố tương đối đồng đều tạo nên tán chính
của rừng. Tầng này phần lớn là cây gỗ cao 20 – 35m: Sâng (Pometia pinnata) , Cà
lồ (Caryodaphnopsis tonkinensis) , Chò xanh (Terminalia myriocarpa), Re
(Cinnamomum sp) các loài thuộc họ Dẻ (Fagaceae).
1c. Tầng dưới tán cũng gồm các loài cây gỗ cao 10 – 20m, hầu hết là cây
thường xanh và phân bố không đều: Ngát (Gironniera subaequalis) , Thích ( Acer
decandrun) , Vàng anh ( Saraca dives) , Bời lời (Litsea amara) , Sang máu
(Horflieldia prainii) , Vạng trứng ( Endospernum chinense).
1d. Tầng cây bụi gồm các loài cây thuộc các họ: Na (Annonaceae) , Chè
(Theaceae), Gai (Urticaceae) và Thầu dầu ( Euphor biaceae) cao khoảng 8m.
1e. Tầng cỏ quyết có thành phần loài rất phức tạp gồm đủ đại diện từ ngành
Rêu (Bryophyta) đến các ngành thực vật có hạt ( Pinophyta và Magnoliophyta ) bao
phủ.
2.Rừng trên sườn núi chỉ gồm ba tầng.
2a. Tầng vượt tán gồm các cây gỗ lớn cao 15 – 30m chủ yếu như: Vôi cui
lớn ( Heritiera macrophylla) , Lòng mang ( Pterospermun sp) , Lát hoa (Chukrasia
tabularis ), Trường mật (Paviesia annamensis ) , Mun ( Diospyros mun ) .
2b. Tầng tán gồm các cây cao 10 – 15m tỏa tán đều liên tục như các loài: Mạy
tèo (Dimerocarpus brenieri ) , Teo nông ( Teonongia tonkinensis ) . Các loài thuộc
họ Na (Annonaceae) , họ Thị ( Ebenaceae ) . Một số loài thuộc lớp một lá mầm
như: Búng bang ( Arenga pinnata ), Cọ Bắc Sơn ( Caryota bacsonensis ).
2c. Tầng dưới tán gồm các cây bụi nhỏ hoặc cây thảo thuộc các họ Ô rô
(Acanthaceae ) , Gai (Urticaceae ) , Cà phê ( Rubiaceae ) và vài loài lá han
(Laportea sp ).

Trích đoạn GIỚI THIỆU MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH HIỆN CÓ: Chương trình 1: Thưởng ngoạn thiên nhiên Cúc Phương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status