Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong Tố tụng hình sự -phương hướng hoàn thiện theo tinh thần mới của Hiến pháp 2013 về Quyền con người - Pdf 34

MỤC LỤC

1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.

A – PHẦN MỞ ĐẦU:
Tính cấp thiết của đề tài..........................................................................4
Tình hình nghiên cứu..............................................................................6
Mục đích nghiên cứu...............................................................................7
Nhiệm vụ nghiên cứu..............................................................................8
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...........................................................8
Phương pháp nghiên cứu ........................................................................8
Ý nghĩa của đề tài....................................................................................9
Cấu trúc của đề tài...................................................................................9
B – PHẦN NỘI DUNG:

CHƯƠNG I: NHẬN THỨC VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG
VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ.
1. Quyền con người và vấn đề đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự.....
1.1. Khái niệm và những yêu cầu đặt ra về quyền con người trong tố tụng
hình sự......................................................................................................... 10
1.2. Nguyên tắc đảm bảo quyền con người trong Hiến pháp năn 2013
..................................................................................................................... 14
2. Nhận thức về biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam................


2


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT:

BKXPVTT
BLTTHS
BPNC
CAND
QCN
SĐVT
TAND
THTT
TTHS
VKS
VKSNDTC

Bất khả xâm phạm về thân thể
Bộ luật Tố tụng hình sự
Biện pháp ngăn chặn
Công an nhân dân
Quyền con người
Suy đoán vô tội
Tòa án nhân dâ
Tiến hành tố tụng
Tố tụng Hình sự
Viện kiểm sát
Viện kiểm sát nhân dân tối cao


điều ước quốc tế cơ bản về QCN trên, Việt Nam đã tham gia các công ước quốc tế
khác có liên quan đến lĩnh vực bảo vệ QCN và luật nhân đạo quốc tế như Nghị
định thư bổ sung Công ước Genève về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột
4


quốc tế (tham gia ngày 28/8/1981), Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội ác diệt
chủng và Công ước về ngăn chặn và trừng trị tội ác Apartheid (tham gia ngày
9/6/1981)…
QCN cũng được coi là một trong những vấn đề trọng tâm tại Đại Hội đồng
Liên minh Nghị viện Thế giới 132 (IPU) diễn ra tại thủ đô Hà Nội từ ngày 28/31/4/ 2014 - một sự kiện đặc biệt quan trọng, đánh dấu mốc sang trang mới trong
lịch sử phát triển 125 năm của tổ chức liên minh nghị viện lớn nhất và lâu đời nhất
thế giới. Với 166 thành viên và 10 thành viên liên kết; hơn 1.600 đại biểu quốc tế,
trong đó có khoảng 50 vị Chủ tịch Quốc hội và 50 Phó Chủ tịch Quốc hội. IPU là
trung tâm của hoạt động ngoại giao nghị viện khắp thế giới, hoạt động nhằm mục
đích vì hòa bình, dân chủ hợp tác giữa các dân tộc và nghị viện các nước.
Các Ủy ban thường trực của IPU đã thông qua các Nghị quyết gồm Nghị
quyết Chiến tranh mạng – mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh
quốc tế; Nghị quyết Định hình cơ chế mới về quản trị nguồn nước: Thúc đẩy hành
động của Nghị viện về vấn đề nước; Nghị quyết về Luật pháp quốc tế trong vấn đề
chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và QCN.
Ngày 01/01/2014, Hiến Pháp 2013 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có
hiệu lực thi hành, thể hiện những bước tiến mới trong ghi nhận QCN và quyền
công dân; tạo một nền tảng pháp lý vững chắc cho việc thực hiện QCN, quyền
công dân trên thực tế. Qua đó đòi hỏi sự thay đổi phù hợp của các Bộ luật khác để
phù hợp với Hiến pháp 2013 về bảo vệ QCN. Tuy nhiên, qua gần 12 năm thi hành,
BLTTHS năm 2003 chưa có sự bổ sung, sửa đổi. Quy định của BLTTHS 2003 về
áp dụng BPNC trong tố tụng hình sự bộc lộ nhiều hạn chế như: còn có quy định
chưa phù hợp với tiêu chí quốc tế về nhân quyền, lạm dụng trong quá trình giải
quyết vụ án của cơ quan THTT, người THTT,… chưa đáp ứng được yêu cầu của

BPNC chính là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều tài liệu, công trình
nghiên cứu như cuốn sách “Chế định các BPNC theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
– Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả TS. Nguyễn Trọng Phúc(2003),
Luận án tiến sỹ: “Các BPNC bắt, tạm giữ, tạm giam trong Tố tụng hình sự Việt
Nam – Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” (2005) của tác giả Nguyễn Văn
6


Điệp, Luận văn thạc sĩ “ Đảm bảo QCN trong áp dụng các BPNC của tố tụng hình
sự”(2004) của tác giả Lại Văn Trình.... Bên cạnh đó còn có rất nhiều bài viết khác
về BPNC được đăng trên các tạp chí Luật học, Tạp chí TAND, Tạp chí Kiểm sát,
Khoa học Pháp lý,... như: “Sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về những
BPNC” của tác giả Mai Bộ (2007); “Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS
nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC” của tác giả Vũ Gia Lâm (2012); “Những
vướng mắc trong việc áp dụng các BPNC theo quy định của BLTTHS và kiến nghị
sửa đổi bổ sung” của tác giả Phùng Văn Tài (2012); “ Hiến pháp 2013 và việc
hoàn thiện BPNC bắt, tạm giữ, tạm giam trong TTHS” của tác giả Nguyễn Ngọc
Chi (2014),….
Thực tiễn nghiên cứu cho thấy: các tài liệu và công trình nghiên cứu này có
đề cập đến việc dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng áp dụng các BPNC ở nước ta
để từ đó đưa ra kiến nghị bổ sung, sửa đổi BLTTHS 2003 cho phù hợp với tình
hình mới nhưng chưa đề cập được một cách có hệ thống các lý luận cũng như
phương hướng hoàn thiện vấn đề áp dụng BPNC trong BLTTHS theo tinh thần
Hiến pháp 2013 về QCN. Vì vậy, nhóm tác giả lựa chọn đề tài “Áp dụng các biện
pháp ngăn chặn trong Tố tụng hình sự -phương hướng hoàn thiện theo tinh
thần mới của Hiến pháp 2013 về QCN” với mong muốn tạo ra một cơ sở tham
khảo để đề xuất hoàn thiện BLTTHS tới đây về vấn đề áp dụng các BPNC theo
tinh thần của Hiến pháp 2013 về đảm bảo QCN, góp phần giải quyết yêu cầu cấp
bách về đổi mới tư pháp ở nước ta.
3. Mục đích nghiên cứu

việc áp dụng các BPNC trong thực tiễn; góp phần xây dựng một cái nhìn mới, định

8


hướng mới cho việc áp dụng pháp luật theo tinh thần mới của Hiến pháp 2013 về
QCN.
- Về thực tiễn: Là tài liệu tham khảo cho các cơ quan kiến nghị, đóng góp ý
kiến sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện BLTTHS trong thời gian tới theo Kế hoạch xây
dựng dự án BLTTHS do Quốc hội giao nhiệm vụ cho Ban Soạn thảo BLTTHS (sửa
đổi).
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần mục lục, nội dung chính của đề tài
được cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1. Nhận thức chung về bảo đảm quyền con người trong áp dụng các
BPNC.
Chương 2. Thực tiễn áp dụng các BPNC trong TTHS Việt Nam.
Chương 3. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các
BPNC trong TTHS thời gian tới.

9


B – PHẦN NỘI DUNG
Chương I:
NHẬN THỨC CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG VIỆC
ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.


thực thể tự nhiên - xã hội, là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội, cho
nên QCN cũng vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội. Do con người là một
thực thể sinh học xã hội, cho nên QCN vừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc
thù. Tính phổ biến của QCN có nghĩa QCN được áp dụng phổ biến mọi nơi, cho
mọi đối tượng. Tính đặc thù của QCN có nghĩa, quyền này ở mỗi quốc gia, mỗi
lãnh thổ do trình độ phát triển khác nhau mà có đặc điểm riêng phù hợp với điều
kiện của quốc gia, lãnh thổ đó. QCN mang tính xã hội, nên trong xã hội có sự phân
chia giai cấp nên nó vừa mang tính giai cấp sâu sắc, vừa là một giá trị của nhân
loại. Trong chủ nghĩa xã hội có sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân với lợi ích
tập thể và lợí ích toàn xã hội. Lợí ích cá nhân là mục tiêu, động lực của sự phát
triển xã hội, đồng thời bảo đảm lợi ích của tập thể, của cả cộng đồng xã hội.
QCN có mối liên hệ mật thiết với quyền công dân. C.Mác cho rằng QCN và
quyền công dân luôn nằm trong một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ biện
chứng với nhau. Quyền công dân chính là QCN trong một xã hội cụ thể, trong một
chế độ chính trị - xã hội nhất định với một nền pháp luật cụ thể do Nhà nước đó
thừa nhận quy định.
Có rất nhiều văn bản mang danh là tiếng nói về nhân quyền nhưng văn bản
chung nhất, đại diện cho sự thỏa thuận về QCN trong các khu vực, hiến pháp và
luật pháp quốc gia, mang tính quốc tế sâu sắc chính là Tuyên ngôn Quốc tế Nhân
quyền được Đại hội đồng Liên hợp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại
Palais de Chaillot ở Paris, Pháp. Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền là mộtkhuôn mẫu
chung cần đạt tới của mọi quốc gia và mọi dân tộc. Tinh thần của bản Tuyên ngôn
là dùng truyền đạt và giáo dục để nỗ lực thúc đẩy các quốc gia thành viên Liên
Hợp Quốc tôn trọng các QCN cơ bản được đưa ra trong Tuyên ngôn. Theo đó, con
11


người có ba nhóm quyền cơ bản bao gồm quyền dân sự, quyền chính trị và quyền
kinh tế, xã hội và văn hóa.
Quyền dân sự bao gồm: quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà



về QCN nói riêng là hết sức cần thiết không chỉ để thực hiện đầy đủ hơn các nghĩa
vụ quốc tế mà Việt Nam cam kết mà còn là đòi hỏi thực tiễn trong nước nhằm bảo
đảm ngày càng tốt hơn QCN, quyền tự do, dân chủ của công dân”.
Như vậy, yêu cầu trong thời đại mới đạt ra yêu cầu Việt Nam cần thiết phải
có các biện pháp để có thể đảm bảo QCN, mà cơ sở pháp lý cho những biện pháp
đó chính là phải Hiến pháp và Luật phù hợp với các yêu cầu đó. Đặc biệt là trong
các quy định của pháp luật tố tụng về TTHS. TTHS là cách thức, trình tự tiến hành
các hoạt động của các cơ quan THTT, người THTT, người tham gia tố tụng, của
các cơ quan Nhà nước khác và các tổ chức xã hội để giải quyết vụ án theo quy định
của pháp luật tố tụng hình sự. Luật TTHS được xem là “luật hình thức vì nó nói về
cách thức thực hiện và hoạt động của các cơ quan, người THTT nhằm xác định tội
phạm, mức độ trách nhiệm của tội phạm cùng với Luật Hình sự - “luật nội dung”,
quy định về tội phạm và hình phạt có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đây là lĩnh
vực mà các QCN có nguy cơ bị vi phạm nhiều nhất, thì việc quy định quyền tố
tụng đi đôi với nghĩa vụ tố tụng của công dân và trách nhiệm của Nhà nước trong
việc bảo đảm cho công dân thực hiện các quyền tố tụng có ý nghĩa rất quan trọng.
Trong lĩnh vực tố tụng, để giúp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có điều kiện
phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật, tội phạm vì lợi ích chung của toàn xã hội,
cộng đồng và của người khác, pháp luật cần có một số quy định hạn chế đến QCN,
quyền công dân. Yêu cầu đặt ra trong lĩnh vực này chính là phải thực hiện những
chế định cần thiết để phục vụ cho các hoạt động tố tụng, đảm bảo xử lý hành vi vi
phạm pháp luật, tội phạm nhưng đồng thời vẫn đảm bảo được QCN và quyền công
dân.
Nguyên tắc đảm bảo quyền con người trong Hiến pháp năm 2013.
Mọi Nhà nước hiện đại đều ghi nhận QCN trong hiến pháp. Hiến pháp là
1.2.

đạo luật cao nhất của một quốc gia , là cơ sở để quốc gia hoàn thiện hệ thống pháp

14


+ Quốc hội xây dựng Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, phản ánh ý chí,
nguyện vọng của nhân dân, thể chế hoá các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân. Đây là hoạt động xác lập mối quan hệ cơ bản hữu cơ gắn bó giữa Nhà nước và
công dân. Các mối quan hệ được Hiến pháp ghi nhận là cơ sở pháp lý cao nhất cho
sự ra đời của các mối quan hệ pháp lý cụ thể giữa Nhà nước và công dân. Thực
hiện giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật của tất cả các chủ thể.
Nhất là các chủ thể nắm giữ quyền lực Nhà nước. Là cơ quan đại diện cho ý chí
của nhân dân thực hiện quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước.
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương đại diện
cho ý chí, nguyên vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương. Với vị trí đó,
HĐND các cấp cũng là yếu tố rất quan trọng trong cơ chế pháp lý đảm bảo thực
hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân trên lãnh thổ địa phương mình.
- Quyền và nghĩa vụ pháp lý của con người, của công dân được đảm bảo
thực hiện bởi hệ thống cơ quan hành pháp. Chính phủ và uỷ ban nhân dân các cấp
là cơ quan chấp hành và điều hành của cơ quan quyền lực, là chủ thể có trách
nhiệm đưa pháp luật đi vào cuộc sống, làm cho quyền và nghĩa vụ của công dân trở
thành hiện thực. Là cơ quan trực tiếp thực hiện công tác quản lý Nhà nước – điều
hành xã hội trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như: chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội, ANTT… Trong đó cơ quan công an (cơ quan điều tra) có vai trò quan trọng
trong việc bảo vệ trật tự pháp luật, pháp chế XHCN và trong hoạt động tố tụng
hình sự.
- Quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể được bảo đảm qua hệ thống cơ quan tư
pháp. Toà án và VKS là những cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau (Toà án
có chức năng xét xử và VKS có chức năng kiểm tra, giám sát) nhưng đều là các cơ
quan “bảo vệ chế độ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà
nước, tập thể và tính mạng, danh dự, nhân phẩm của mọi công dân”.
15

bảo vệ không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục; thứ ba, quyền
được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị tước đi tự do;
thứ tư, để đảm bảo quyền BKXPVTT thì việc bắt, giam, giữ người do luật định.
16


+

Hiến pháp 2013 mở rộng quyền bào chữa của người bị bắt, tạm giam, tạm giữ,
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
Quyền bào chữa là một trong những quyền quan trọng của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo trong TTHS. Các chủ thể này thực hiện quyền bào chữa làm sáng tỏ
những tình tiết của vụ án nhằm chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự cho mình. Họ có thể tự bào chữa, cũng có thể nhờ người khác bào chữa
nhưng không làm mất đi quyền tự bào chữa của họ. Hiến pháp 2013 đã quy định
quyền này tại Khoản 4, Điều 31 của Hiến pháp 2013: “người bị bắt, bị tạm giữ,
tạm giam (...) có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người bào chữa khác” như
vậy, một người từ khi bị bắt đã có quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
Quyền này cùng với quyền BKXPVTT và nguyên tắc SĐVT theo quy định
của Hiến pháp 2013 sẽ góp phần tránh được những oan sai đáng tiếc trong hoạt
động TTHS.
- Hiến pháp 2013 đã làm rõ nguyên tắc suy đoán vô tội.
SĐVT là một trong những nguyên tắc cơ bản được đánh giá là thành tựu vĩ
đại của văn minh pháp lý trong việc bảo đảm QCN và được ứng dụng rộng rãi
trong nền khoa học pháp lý, được rất nhiều nước trên thế giới ứng dụng. Nguyên
tắc này được công nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 19848, Công ước quốc
tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên Hợp quốc. Việt Nam là một
thành viên của Liên Hợp quốc từ năm 1948 và gia nhập Công ước quốc tế về
quyền dân sự và chính trị của Liên Hợp quốc năm 1982. Việt Nam đã đem nguyên
tắc ấy vào trong bản Hiến pháp của mình.. Nội dung của nguyên tắc SĐVT được

kĩ luật lập hiến mới, tiếp cận với các chuẩn mực khoa học pháp lý quốc tế, thể hiện
việc tôn trọng và thực hiện Công ước quốc tế 1966 và đặc biệt là sự nỗ lực tôn
trọng và đảm bảo QCN của Đảng và Nhà nước ta.

18


Nguyên tắc SĐVT có quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc đảm bảo quyền bào
chữa bởi vì nếu như một người nếu như bị coi là có tội ngay từ đầu thì việc thực
hiện quyền bào chữa chỉ còn mang tính hình thức. Nắm được vấn đề đó, Hiến pháp
2013 đã khẳng định mạnh mẽ quyền bào chữa của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam,
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử với sự lựa chọn sự tự bào chữa, nhờ giúp đỡ bào
chữa với người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình và chứng
minh sự vô tội của mình.
Nguyên tắc SĐVT có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề đảm bảo QCN
trong hoạt động tố tụng nói chung và áp dụng các BPNC. Cụ thể là: trước hết
nguyên tắc này đáp ứng yêu cầu chứng minh – mọi sai lầm trong việc chứng minh
một người có tội hay là không có tội có hậu quả rất nghiêm trọng nhiều khi phải trả
giá bằng sinh mạng của con người. Nếu chỉ đơn thuần chứng minh theo hướng suy
đoán có tội thì rất dễ dẫn đến việc coi các hoạt động tố tụng chỉ đơn thuần là bắt rồi
ra bản án đối với họ. Việc định kiến người bị tình nghi, bị can, bị cáo là có tội rất
nguy hiểm, có thể dẫn đến việc áp dụng tràn lan, thiếu căn cứ các BP cưỡng chế
nói chung và các BPNC nói riêng, chà đạp lên QCN mà nhiều trường hợp dẫn đến
oan sai. Lúc đó, kể cả họ có được bồi thường thì chẳng qua cũng chỉ là một phần,
không thể bù đắp hết những thiệt thòi mà họ và cả gia đình họ phải chịu đựng. Như
trong vụ oan sai chấn động cả nước của Ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang,
trong 10 năm bị kết án oan của mình, ông đã bị bức cung, nhục hình, mất đi tự do
và danh dự, vợ và người thân ông đã mất bao công sức và tiền của đi kêu oan và tự
đi tìm đúng người phạm tội với sự suy sụp về sức khỏe và tinh thần, các con không
thể học hành đến nơi đến chốn vì mang tiếng có ông bố là tội phạm giết người. Bên

Sự kết hợp giữa nguyên tắc tranh tụng kết hợp với nguyên tắc SĐVT, mở
rộng quyền bào chữa cùng với các quy định khác góp phần quan trọng để Tòa án
xét xử đúng người, đúng tội, tránh tình trạng oan sai trong các hoạt động TTHS.
2.

Nhận thức chung về biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng Hình sự Việt
Nam.
Các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Những BPNC trong tố tụng hình sự là những biện pháp cưỡng chế được áp
2.1.

dụng đối với bị can, bị cáo hoặc trong một số trường hợp khác còn áp dụng đối với
20


người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm của họ, ngăn ngừa họ bỏ
trốn, tiếp tục phạm tội hoặc có những hành động khác làm cản trở việc điều tra,
truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Những BPNC là một trong những “công cụ” hữu
hiệu để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các cơ quan THTT có hiệu quả,
đáp ứng được kịp thời yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.
Vì những lí do như trên nên trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụng
hình sự thì BPNC chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Tất cả những quy định của Hiến
pháp và BLTTHS về BPNC đều nhằm góp phần phát huy dân chủ, tăng cường hơn
nữa hiệu lực của Nhà nước trong việc bảo đảm QCN, quyền công dân để xây dựng
một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Theo Điều 79 BLTTHS 2003, các BPNC trong tố tụng hình sự gồm có 6
biện pháp bao gồm:
2.1.1. Biện pháp bắt người
Theo Điều 80, 81, 82 của BLTTHS, BPNC bắt người có 3 trường hợp:
2.1.1.1. Bắt người trong trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam.

Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện của chính
quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến. Khi
tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc phải có địa diện cơ quan, tổ chức nơi
người đó làm việc chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự
chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.
Không được tiến hành bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp,
phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã quy định tại Điều 81, 82 của
BLTTHS 2003.
2.1.1.2. Bắt người trong trường hợp khẩn cấp.
Bắt người trong trường trường hợp khẩn cấp là BPNC áp dụng khi có căn
cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng; khi người đó
Theo Điều 81 – BLTTHS 2003, BPNC bắt người trong trường hợp khẩn cấp
-

được áp dụng trong các trường hợp sau:
Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm

-

trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và
xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc

-

người đó bỏ trốn;
Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực
hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy
chứng cứ.

Theo Điều 82 – BLTTHS 2003, biện pháp bắt người phạm tội quả tang
-

-

được áp dụng trong các trường hợp sau:
Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện.
Ngay sau khi thực hiện tội phạm thì người thực hiện tội phạm đó bị phát hiện và
bắt giữ.
Người thực hiện tội phạm đang bị đuổi bắt ngay sau khi thực hiện tội phạm
Khi thấy người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì bất kỳ người nào
cũng có quyền bắt ngay và có quyền tước vũ khí hoặc hung khí của người bị bắt.
Sau khi bắt người phạm tội quả tang phải giải ngay người bị bắt đến cơ
quan Công an, VKS, hoặc Ủy ban Nhân dân nơi gần nhất. Cơ quan trên có trách
nhiệm tiếp nhận người bị bắt và phải lập biên bản về việc bị bắt. Sau đó phải giải
ngay người bị bắt đến cơ quan có thẩm quyền điều tra.
2.1.1.4. Bắt người đang bị truy nã.
Bắt người đang bị truy nã là bắt người có quyết định truy nã của cơ quan có
thẩm quyền. Người đang bị truy nã có thể là bị can, bị cáo hoặc người bị kết án
trốn thi hành an và phạm nhân trốn khỏi nơi giam giữ mà các cơ quan có thẩm
quyền không biết rõ họ ở đâu và ra quyết định truy nã.
23


Theo Điều 82 – BLTTHS 2003, thẩm quyền bắt và thủ tục bắt người đang bị
truy nã giống với bắt người phạm tội quả tang.
2.1.2. Tạm giữ
Tạm giữ là BPNC trong TTHS có thể áp dụng đối với người bị bắt trong
trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người
đang bị truy nã.

24


quyết định tạm giữ phải được gửi cho VKS cùng cấp. Nếu xét thấy việc tạm giữ
không cần thiết hoặc không có căn cứ thì VKS ra quyết định huye bỏ quyết định
tạm giữ và yêu cầu cơ quan ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạm
giữ.
Thời hạn tạm giữ không quá 3 ngày, kể từ khi Cơ quan Điều tra nhận được
người bị bắt. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia
hạn tạm giữ nhưng không quá 3 ngày. Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết
định tạm giữ có thể gia hạn thêm lần thứ hai nhưng không được quá 3 ngày. Mọi
trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được sự phê chuẩn của VKS cùng cấp. Trong
thời hạn 12 giờ kể từ ngày nhận được đề nghị gia hạn tạm giữ và tài liệu có liên
quan đến việc gia hạn tạm giữ, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định
không phê chuẩn. Trong khi tạm giữ, nếu không có đủ căn cứ để khởi tố bị can thì
phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn
tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.
2.1.3. Tạm giam
Tạm giam là BPNC trong TTHS có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm
tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng,
ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù từ hai năm trở lên và có căn cứ
cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở các HĐTT hoặc có thể tiếp tục phạm
tội.
Theo quy định Khoản 1, Điều 88 – BLTTHS 2003, biện pháp tạm giam được
-

áp dụng đối với bị can, bị cáo trong các trường hợp sau:
Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng.
Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định
hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status