bắt người trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả nhằm áp dụng biện pháp này - Pdf 26

Mục lục
Danh mục viết tắt
Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS
Cơ quan điều tra CQĐT
Viện kiểm sát nhân dân VKSND
Tòa án nhân nhân TAN
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bắt người là biện pháp ngăn quan trọng được quy định tại Chương VI Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003. Đây là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống
biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, là cơ sở pháp lý để cơ quan tiến hành tố tụng và
người có thẩm quyền có thể tác động một cách hợp pháp đến một số quyền cơ bản
của công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định và bảo hộ nhằm ngăn chặn tội
phạm, ngăn ngừa tội phạm trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây khó khăn trong tố
tụng hình sự cũng còn là một phương tiện góp phần đảm bảo thực hiện các quyền tự
do dân chủ của công dân, hạn chế và ngăn ngừa sự xâm phạm một cách tùy tiện trái
pháp luật đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Tuy nhiên trong quy định của pháp
luật còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc nhất định cùng với nhận thức của những
người áp dung biện pháp này mà còn tồn tại những trường hợp áp dụng không phù
hợp với quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người
dân. Chính vì vậy em chọn đề tài “bắt người trong tố tụng hình sự và việc hoàn
thiện pl nhằm nâng cao hiệu quả nhằm áp dụng biện pháp này”
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Vấn đề chung về biện pháp ngăn chặn bắt người
1.Khái niệm
Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền
áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thể đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị
khởi tố( trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) theo những trình tự, thủ
tục mà pháp luật tố tụng hình sự quy định, nhằm ngăn chặn tội phạm, người thực hiện
1
tội phạm chốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án

Theo đó: “bắt bị can, bị cáo để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình sự hoặc
người đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử để tạm giam nhằm ngăn chặn bị can, bị
cáo tiếp tục phạm tội cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án hình sự”
2
.
Đối tượng: Theo quy định này thì trường hợp bắt người này chỉ áp dụng đối với bị
can, bị cáo- những người đã bị khởi tố về hình sự hoặc đã bị tòa án quyết định đưa vụ
1 Ts. Trần Quang Tiệp. Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự. Tr 73
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Tr 206
2
án ra xét xử. Tuy nhiên BLTTHS không quy định cụ thể những bị can, bị cáo này có
thể bị bắt tạm giam trong những trường hợp nào, nhưng mục đích của biện pháp bắt
người trong trường hợp này là để tạm giam vì vậy thực tế chỉ áp dụng biện pháp này
khi đã xem xét thật kỹ có cần thiết bắt bị can, bị cáo để tạm giam hay không và có
thuộc các trường hợp bị tạm giam quy định tại Khoản 1 Điều 88 hay không, đó là:
Một là, đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt ngiêm trọng
Hai là, đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng nhưng có
hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ cho rằng đối tượng có thể trốn tránh hoặc cản trở
điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội.
Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là
người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp
dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ những trường hợp sau: bị can, bị cáo bỏ trốn và
bị bắt theo lệnh truy nã hoặc đang áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục
phạm tội hoặc cố ý gây cản trở đến việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc bị can, bị cáo
phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không áp dụng
biện pháp tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia nên đối tượng
thuộc trường hợp này có thể bị bắt tạm giam.
Căn cứ bắt bị cáo, bị can để tạm giam cũng không được quy định cụ thể trong điều
luật. Tuy nhiên bắt bị can, bị cáo để tạm giam là một trong những biện pháp ngăn

đọc cho người bị bắt, người chứng kiến nghe và cùng ký tên. Nếu có ý kiến khác hoặc
không đồng ý với nội dung biên bản thì phải ghi ý kiến đó hoặc lý do vào biên bản và
ký tên. Ngoài ra đối với lệnh bắt của người có thẩm trong cơ quan điều tra phải được
VKS cùng cấp phê chuẩn mới có giá trị.
Ngoài ra điều luật còn quy định rõ: “khi tiến hành bắt người tại nơi cư trú phải có
người đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng của người bị bắt
chứng kiến. khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc phải có đại diện cơ
quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến. khi tiến hành bắt người tại nơi khác
phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã phường, thị trấn nơi tiến hành bắt”.
Quy định này nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch của việc bắt người, vừa gắn
trách nhiệm của chính quyền địa phương với việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm đồng thời tăng cường giáo dục, tuyên truyền pháp luật hay hỗ trợ giúp sức khi
cần thiết để thi hành lệnh bắt được thuận lợi.
Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam không mang tính chất cấp bách như bắt người
trong trường hợp khẩn cấp, quả tang hay truy nã, vì vậy đảm bảo chính đáng quyền
lợi của người bị bắt, của thân nhân, của cơ quan, tổ chức nơi người đó là việc, tránh
gây căng thẳng do việc bắt người gây ra, Khoản 3 Điều 80 BLTTHS quy định:
“không được bắt người vào ban đêm”. Ban đêm được tính từ 22 giờ tối hô trước đến 6
giờ sáng hôm sau.
2.Bắt người trong trường hợp khẩn cấp.
Theo quy định tại điều 81 BLTTHS có thể hiểu: bắt người trong trường hợp khẩn
cấp là trường hợp bắt người chuẩn bị thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ
hoặc bắt người sau khi thực hiện tội phạm mà người đó bỏ trốn, cản trở việc điều tra,
khám phá tội phạm hoặc bắt người mà cơ quan điều tra thấy dấu vết tội phạm ở người
hoặc chỗ ở của họ. Đây là trường hợp bắt người có tính chất cấp bách, nếu không
thực hiện sẽ không thể kịp thời ngăn chặn việc thực hiện tội phạm, không chặn đứng
được hành vi trốn tránh, gây khó khăn, cản trở việc điều tra.
Đối tượng áp dụng: Đối tượng áp dụng của bắt người trong trường hợp này là
người chưa bị khởi tố về hình sự. Nhưng bên cạnh đó không loại trừ cả người đã bị

chứng cứ nghi một người thực hiện tội phạm và qua quá trình điều tra đã phát hiện
những vật, những tài liệu có liên quan đến tội phạm hoặc những dấu vết khác do tội
phạm để lại. Và xét thấy cần ngăn chặn việc người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng
cứ, cơ quan, người có thẩm quyền phải căn cứ và đánh giá một cách toàn diện các
mặt như: nhân thân người bị bắt, tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội và loại
tội phạm được thực hiện mà thực tiễn cho thấy người phạm tội thường trốn như tội
trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản, tội giết người…
Thẩm quyền ra lệnh bắt: Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 BLTTHS, những
người sau đây có thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp:
- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp;
- Người chỉ huy đơn vị bộ đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ
huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
- Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến
cảng.
Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp: Khoản 3 Điều 81 BLTTHS quy
định thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp cũng được tiến hành như trường
5
hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Người thi hành lệnh bắt phải đọc, giải thích lệnh
và phải lập biên bản về việc bắt. Khi tiến hành bắt người, phải có đại diện chính
quyền xã, phường, thị trấn hoặc đại diện cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt cư trú hoặc
làm việc và người láng giềng chứng kiến. Tuy nhiên quy định như vậy nhiều khi rất
khó thực hiện bởi vì trong một số trường hợp nhất định như quy định tại điểm C,
khoản 2 Điều 81 chẳng hạn, trường hợp này không thể có đầy đủ thành phần tham
giam khi thực hiện lệnh bắt được, vì vậy quy định này của pháp luật rất khó thực hiện
và không khả thi.
Với tính chất và đặc điểm của việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp nên luật quy
định việc bắt người trong trường hợp này không cần có sự phê chuẩn trước của VKS.
Tuy nhiêm nhằm đảm bảo cho tính chính xác và tránh lạm dụng bắt khẩn cấp, luật
quy định, trong mọi trường hợp việc bắt khẩn cấp phải báo ngay cho VKS cùng cấp
bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn

phạm bị phát hiện và đuổi bắt.
Bị can, bị cáo hoặc người bị kết án có hành vi trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án và đối với họ có quyết đinh truy nã của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền.
Căn cứ áp dụng:
Khoản 1 Điều 82 quy định: “ đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau
khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy
nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan công an, Viện
kiểm sát hoặc Ủy ban nhân nhan nơi gần nhất. Cơ quan này phải lập biên bản và giải
ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền”. Theo đó căn cứ bắt người
phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã bao gồm:
Đối với trường hợp bắt người phạm tội quả tang thì BLTTHS quy định những căn
cứ sau:
Căn cứ thứ nhất, người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện. Đây là trường
hợp người phạm tội đang thực thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu
thành tội phạm. bị phát hiện và bắt quả tang. Đối với những hành vi phạm tội được
thực hiện trong một thời gian dài, không bị gián đoạn như tàng trữ trái phép vũ khí
quân dụng, tang trữ trái phép chất nổ, chất độc… thì trong suốt thời gian đó bị coi là
đang thực hiện hành vi phạm tội. Chính vì vậy thời điểm nào phát giác thì cũng bị coi
là bắt người phạm tội quả tang
Căn cứ thứ hai, ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện. Đây là trường
hợp người thực hiện hành vi phạm tội xong, người phạm tội chưa kịp chạy trốn, hoặc
đang cất giấu công cụ, phương tiện phạm tội, đang xóa dấu vết thì bị phát hiện. Trong
trường hợp này khi bắt người phạm tội quả tang cần có căn cứ chứng minh người
phạm tội vừa thực hiện hành vi phạm tội xong, chưa kịp chạy trốn và sự phát hiện,
bắt giữ người phạm tội phải xảy ra không gián đoạn về mặt thời gian.
Căn cứ thứ ba, người sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị đuổi bắt. Đây là
trường hợp vừa thực hiện hành vi phạm tội xong thì bị lộ, chạy trốn và bị đuổi bắt.
Việc đuổi bắt này diễn ra liền ngay sau hành vi chạy trốn, giữa hành vi bỏ chạy và
hành vi chạy trốn không bị gián đoạn về mặt thời gian.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status