Tạm giữ trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng - Pdf 26

TẠM GIỮ
MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước ta trong những năm gần đây, nạn
tội phạm xảy ra ngày càng phổ biến với quy mô rộng và tính chất phức tạp. Trong số
này, không thể không kể đến sự gia tăng của tội phạm hình sự. Tội phạm về hình sự
xâm hại đến lợi ích của nhà nước và công dân, đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến đời
sống chung của xã hội. Nhà nước ta với tính chất là nhà nước của dân, do dân và vì
dân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, có trách nhiệm đảm bảo cuộc sống bình thường
cho nhân dân. Vì vậy, để bảo vệ quyền công dân, luật TTHS đã nêu ra một số biện
pháp cần thiết để hạn chế các quyền và lợi ích của công dân nhằm tạo điều kiện thúc
đẩy thực hiện tốt các nghĩa vụ các quyền cho nhà nước và cho cộng đồng.
Để phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm tính trung thực công minh
đúng người, đúng tội, không gây oan ức cho người vô tội và không bỏ sót kẻ phạm tội
Luật TTHS cũng nêu ra một số biện pháp ngăn chặn. Việc sử dụng các biện pháp ngăn
chặn trong quá trình TTHS là điều cần thiết, trong những biện pháp ngăn chặn đó,
không thể không kể đến biện pháp tạm giữ. Có thể nói, tạm giữ là một khâu quan trọng
trong quá trình tố tụng, có ý nghĩa không nhỏ đối với công tác điều tra. Việc áp dụng
các quy định về tạm giữ trong TTHS sẽ góp phần thực hiện tốt các trình tự tố tụng hình
sự, phát hiện và tìm được bằng chứng, chứng cứ phạm pháp để xử lí kịp thời kẻ có tội.
Chính vì tầm quan trọng của biện pháp tạm giữ nên em chọn đề tài số 05: “Tạm
giữ trong TTHS và việc hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng” làm đề
tài cho bài tập học kỳ môn Luật tố tụng hình sự. Trong quá trình làm bài không thể
tránh khỏi những thiếu sót, mong các thầy cô góp ý cho bài của em!
NỘI DUNG CHÍNH
1
I/ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TRONG LUẬT TTHS VIỆT NAM
1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn
“Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đối với bị
can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi tố về hình sự
(trong những trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang), nhằm ngăn chặn những

trốn pháp tránh pháp luật, cản trở hoạt động điều tra của người phạm tội, tạo điều kiện
cho Cơ quan điều tra thu thập chứng cứ tài liệu, bước đầu xác định tính chất hành vi
của người bị tạm giữ. Tạm giữ đối với người bị bắt theo lệnh truy nã để có thời gian
cho cơ quan đã ra quyết định truy nã đến nhận người bị bắt.
2.2. Ý nghĩa của tạm giữ
Biện pháp tạm giữ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều tra và xử lý tội
phạm. Góp phần vào việc đảm bảo thực hiện tính dân chủ công bằng văn minh, giúp
cho việc điều tra xét xử được một cách nhanh chóng. Nếu không có các quy định pháp
luật về tạm giữ thì quyền dân chủ của công dân khó có thể đảm bảo thực hiện được
một cách triệt để. Việc thực hiện theo đúng thẩm quyền, quyền hạn, thủ tục tạm giữ
đúng người, đúng tội, đúng thời hạn sẽ làm hạn chế và tránh được sự vi phạm đến
quyền công dân và vi phạm dân chủ XHCN.
3. Đối tượng của tạm giữ
Khoản 1 Điều 86 BLTTHS năm 2003 quy định: "Tạm giữ có thể được pháp
dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người
phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã".
Như vậy, theo quy định của luật TTHS thì đối tượng có thể bị áp dụng biện
pháp tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, người
phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo lệnh truy nã. Nhìn chung đối
tượng bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang,
trong hầu hết các trường hợp khi quyết định bắt khẩn cấp, Cơ quan điều tra đã xác định
cần phải ngăn chặn việc người đó bỏ trốn hoặc cản trở điều tra, tuy nhiên điều luật
không quy định bắt buộc trong tất cả mọi trường hợp bắt đó đều phải tạm giữ; mà
trong một số trường hợp bắt người phạm tội quả tang, nếu xét thấy hành vi phạm tội
nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng lại có nơi cư trú rõ ràng, không có cơ sở để cho rằng
người đó trốn hoặc cản trở việc điều tra, trong các trường hợp đó không cần thiết phải
tạm giữ họ.
3
Đối với người bị bắt theo lệnh truy nã, ngay sau khi thấy lời khai, Cơ quan điều
tra nhận người bị bắt phải thông báo cho cơ quan đã ra lệnh truy nã để cơ quan này đến

quyết định khởi tố cần thiết và cũng đã xác định được ngay căn cứ để có thể tạm giam
đối với họ nên đã ra lệnh tạm giam với bị can mà không cần tạm giữ. Hoặc ngay sau
khi bắt khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, ngay sau khi có người ra tự thú, đầu thú đã
xác định đầy đủ căn cứ để khởi tố vụ án và khởi tố bị can nên cơ quan có thẩm quyền
không ra quyết định tạm giữ, rồi sau khi đã ra quyết định khởi tố cần thiết nhưng xét
thấy không cần thiết phải tạm giam bị can nên cơ quan điều có thẩm quyền để cho bị
được tại ngoại mà không cần thiết phải tạm giam bị can.
Ngoài các trường hợp nêu trên, nếu sau khi bắt khẩn cấp hoặc bắt quả tang, cơ
quan có thẩm quyền đã gửi lệnh bắt cho VKS để VKS kiểm sát việc bắt và VKS đã
không phê chuẩn việc đó thì cũng không được đưa ra quyết định tạm giữ đối với
người bị bắt. Một vấn đề đặt ra về đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ, đó
là những trường hợp một người đang bị truy nã, bị bắt lại nhưng địa điểm bắt ở xa nơi
cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền giải quyết vụ này. Trong thời gian thông báo
cho cơ quan có thẩm quyền đến để nhận lại bi can, bị cáo mà họ truy nã thì cơ quan
đã bắt được bị can, bị cáo có quyền ra quyết định tạm giữ hay tạm giam hay không?
Về nguyên tắc thì không một ai có thể bị bắt, giữ mà không có quyết định các cơ quan
có thẩm quyền. Theo hướng dẫn của Thông tư số 03 ngày 7/1/1995 giữa Tòa án nhân
dân tối cao – VKSNDTC – Bộ nội vụ (nay là Bộ công an) có điều chỉnh như sau:
Theo quyết định tại điều 64, 65 BLTTHS 1988 thì cơ quan công an, VKS hoặc
UBND bắt được hoặc nhận được người bị truy nã thì phải lập biên bản và giải ngay
người bị bắt tới cơ quan điều tra có thẩm quyền ở địa bàn đó. Sau khi lấy lời khai, Cơ
quan điều tra phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết và giải
ngay người đó đến trại tạm giam nơi gần nhất. Ngay sau khi nhận được thông báo về
việc đã bắt được người bị truy nã, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã phải báo
cho VKS hoặc Tòa án đã có yêu cầu truy nã biết. VKS hoặc Tòa án đã có trách nhiệm
thực hiện theo đúng hướng dẫn tại điểm 1 hoặc điểm 2 của Thông tư này. Trong
5
trường hợp trước ngày hết thời hạn tạm giữ (tối đa là 9 ngày) mà trại tạm giam vẫn
không nhận được quyết định tam giam của VKS hoặc của Tòa án đã có yêu cầu truy
nã đối với người bị bắt thì trại tạm giam cần báo ngay cho cơ quan điều tra nơi đã bắt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status