tạm giữ trong tố tụng hình sự và một số đề xuất hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng - Pdf 26

A. Lời Mở Đầu
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp
dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người chưa bị khởi tố
(trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang), nhằm ngăn chặn những hành
vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp
luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
hình sự. Việc sử dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá trình tố tụng hình sự là
điều cần thiết,trong những biện pháp ngăn chặn đó thì tạm giữ trong tố tụng hình sự
Việt Nam là một trong những biện pháp ngăn chăn quan trọng và hữu hiệu.
Vậy biện pháp tạm giữ được quy định như thế nào trong luật tố tụng hình sự
và việc áp dụng biện pháp đó như thế nào trong thực tế đang là vấn đề cần được
quan tâm của xã hội. Do đó, bài viết dưới đây em xin được tìm hiểu về vấn đề :
tạm giữ trong tố tụng hình sự và một số đề xuất hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu
quả áp dụng.
B. Nội Dung
I. Những quy định về biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong tố tụng
hình sự.
1. Khái niệm tạm giữ.
Căn cứ những quy định tại Điều 86 BLTTHS và xuất phát từ thực tiễn áp
dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, có thể đưa ra khái niệm về biện pháp ngăn chặn
tạm giữ như sau: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, do cơ
quan và người có thẩm quyền theo pháp luật áp dụng đối với những người bị bắt
trong trường hợp khẩn cấp, trường hợp phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy
nã, người phạm tội tự thú, đầu thú nhằm ngăn chặn tội phạm, tạo điều kiện cho việc
xử lý tội phạm được chính xác cao kịp thời.Qua đó tạo điều kiện đảm bảo cho cơ
quan điều tra có thời gian tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu.Trên cơ sở đó
ra các quyết định tố tụng như khởi tố bị can,tạm giam áp dụng các biện pháp ngăn
chặn khác hoắc trả tự do cho họ.
1
Mục đích tạm giữ đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội
quả tang, phạm tội tự thú, đầu thú là để ngăn chặn hành vi pham tội, hành vi trốn

đến nhận người bị bắt.Việc tạm giữ đối với người này chỉ đặt ra khi xét thấy cơ
quann đã ra lệnh truy nã không thể đến ngay để nhận người bị bắt.
*** Chính việc quy định 1 cách cụ thể các trường hợp áp dụng như trên đã tạo
điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định đúng đối tượng cần tiến
hành bắt giữ trên thực tế, tránh nhầm lẫn. Tuy nhiên không phải bất cử người nào
bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quá tang, tự thú, đầu thú hoặc bắt người
theo quyết định truy nã đều bị ra lệnh tạm giữ. Nếu phạm tội ít nghiêm trọng, sự
việc đơn giản không có căn cứ cho rằng người phạm tội bỏ trốn, thông cung cản trở
việc điều tra hoặc tiếp tục việc phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng thì có thể không bị
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ.Trong trường hợp này cơ quan có thẩm
quyền phải nhanh chóng lấy lời khai, xác minh những tình tiết có liên quan đến
hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội để làm căn cứ ra quyết định khởi tố bị
can, áp dụng biện pháp ngăn chặn khác hoặc trả tự do cho người đó.
Bên cạnh đó, nhà nước cũng đã thể hiện sự quan tâm đến việc tạm giữ người
chưa thành niên phạm tội khi đưa ra quy định chi tiết: “Người từ đủ 14 tuổi đến
dưới 16 tuổi có thể bị tạm giữ nếu có đủ căn cứ tại điều 86 BLTTHS năm 2003
nhưng chỉ trong truờng hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm
trọng. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giữ nếu có căn cứ tại điều
86 BLTTHS năm 2003 nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý,
phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”. (Điều 303
BLTTHS).
- Khi người bị tạm giữ có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc có người thân thích
là người tàn tật, già yếu không có người chăm sóc thì ra cơ quan có thẩm quyền ra
quyết định tạm giữ có trách nhiệm đối với họ. Trong trường hợp người bị tạm giữ
có nhà hoặc tài sản khác không có người trông nom, bảo quản thì cơ quan có thẩm
quyền ra quyết định tạm giữ có nhiệm vụ trông nom, bảo quản. Quy định này thể
hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta và bảo đảm quyền lợi
hợp pháp của người bị tạm giữ.
3
- Trong khi tạm giữ nếu không đủ căn cứ để khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay

giữ phải có lệnh viết của người có thẩm quyền. Lệnh tạm giữ phải nêu lí do tạm
giữ, thời hạn tạm giữ, ngày tháng hết tạm giữ và giao cho người tạm giữ một bản.
Trong thời hạn 12 giờ kể tư khi ra lệnh tạm giữ, lệnh tạm giữ phải được gửi cho
Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn. Nếu thấy
việc tạm giữ không đúng pháp luật hoặc không cần thiết thì viện kiểm sát ra quyết
định hủy bỏ việc tạm giữ và cơ quan đã ra lệnh tạm giữ phải trả tự do cho người bị
tạm giữ. Còn nếu xét thấy việc tạm giữ có căn cứ hoặc cần thiết thì Viện kiểm sát
ra quyết định phê chuẩn.
Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ lệnh tạm giữ trong những trường hợp sau đây:
- Người bị tạm giữ không phải là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, trường
hợp phạm tội qủa tang hoặc đang bị truy nã và không phải là người phạm tội tự thú,
đầu thú.
- Người bị tạm giữ có những vi phạm nhỏ (vi phạm hành chính), tính chất nguy
hiểm cho xã hội không đáng kể, chưa đến lúc phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Người bị tạm giữ là người là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nhưng phạm tội
ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc pham tội rất nghiêm trọng do vô ý;
người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm
trọng do vô ý.
- Người bị tạm giữ trong trường hợp phạm tội qủa tang nhưng sự việc phạm tội
nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người tạm giữ có nơi cư trú rõ ràng và không có
biểu hiện sẽ trốn hoặc cản trở việc điều tra.
- Người bị tạm giữ bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội qủa tang nhưng đã có
đủ tài liệu, chứng cứ kết luận họ không phạm tội.
*** Ngoài ra, người thi hành quyết định tạm giữ có trách nhiệm giải thích quyền
và nghĩa vụ của người bị tạm giữ do BLTTHS năm 2003 quy định tại khoản 2, 3
Điều 48. Đó là,người bị tạm giữ có quyền: được biết lí do mình bị tạm giữ,được
giải thích về quyền và nghĩa vụ;trình bày lời khai; tự bào chữa hoặc nhờ người
5
khác bào chữa; đưa ra tài liệu, đồ vật yêu cầu; khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định
hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.Người bị tạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status