Các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự : Luận văn ThS / guyễn Thị Minh ;
ghd. : PGS.TS. Trần Văn Độ . - H. : Khoa Luật, 2008 . - 87 tr. + CD-ROM
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
mở đầu
1
Chương 1: những vấn đề lý luận cơ bản về điều tra trong tố tụng hình sự
5
1.1.
Khái niệm, nhiệm vụ, nguyên tắc, yêu cầu của hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự
5
1.1.1.
Khái niệm
5
1.1.2.
Nhiệm vụ
6
1.3.2.
Từ năm 1989 đến năm 2003
19
1.3.3.
Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
21
Chương 2: quy định của luật tố tụng hình sự việt nam về các biện pháp điều tra
25
2.1.
Khởi tố bị can và hỏi cung bị can
25
2.1.1.
Khởi tố bị can
25
2.1.2.
!Invalid Character Setting
2.4.
Nhận dạng
39
2.5.
Khám xét
43
2.5.1.
Khám người
46
2.5.2.
Khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm
47
2.5.3.
Thực nghiệm điều tra
56
2.8.
Trưng cầu giám định
58
2.8.1.
Việc tiến hành giám định
63
2.8.2.
N ội dung kết luận giám định
64
2.8.3.
Giám định bổ sung hoặc giám định lại
65
Chương 3: giải pháp nâng cao hiệu quả các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự
danh mục tài liệu tham khảo
84
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật tố tụng hình sự được ban hành nhằm đảm bảo việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Ý nghĩa đó được thể
hiện trong suốt quá trình tố tụng ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Để đạt được mục đích đó, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định quyền hạn,
trách nhiệm của cơ quan và người tiến hành tố tụng (gồm các cơ quan chức năng của N hà nước, các tổ chức xã hội và công dân) nhằm phát hiện và xử lý nghiêm minh
mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.
!Invalid Character Setting
!Invalid Character Setting
Trong quá trình đổi mới đất nước, do tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tình hình tội phạm ở nước ta trong thời gian
vừa qua và trong những năm tới đang và sẽ diễn biến rất phức tạp, chưa có chiều hướng giảm. Tội phạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt về thủ đoạn, phương thức và ngày
càng nghiêm trọng về tính chất, mức độ nguy hiểm. Điều tra là một hoạt động trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách
quan, toàn diện và đầy đủ. Công tác điều tra rất quan trọng, điều tra đúng là cơ sở để xét xử đúng; điều tra sai là sai ngay từ bước đầu, dễ dẫn tới xét xử sai, vi phạm
nghiêm trọng tới quyền, lợi ích của công dân.
N gày 17/3/2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra N ghị quyết số 388/N Q-UBTVQH11 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thNm quyền trong hoạt
động tố tụng hình sự gây ra, đã nhận được sự hưởng ứng đồng tình từ phía đông đảo nhân dân. Điều này không chỉ có ý nghĩa lớn đối với những người bị oan sai mà còn
ảnh hưởng lớn tới tâm lý của tất cả mọi người, tạo cho người dân yên tâm, tin tưởng hơn nữa vào chính sách pháp luật của N hà nước ta. Đồng thời, N ghị quyết này còn
đặt ra một thách thức, yêu cầu lớn cho những người tiến hành tố tụng. Họ phải thận trọng, tỷ mỷ trong hoạt động của mình để tránh gây ra tổn thất về tinh thần cũng như
vật chất cho những người tham gia tố tụng. Muốn như vậy, ngay từ bước điều tra ban đầu cần phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, yêu cầu trình độ chuyên
môn cao, làm việc một cách khách quan và hoàn toàn phục vụ vì công lý.
Điều tra trong tố tụng hình sự là giai đoạn đầu tiên có vai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự. Chính vì vậy mà pháp luật tố tụng hình sự
quy định rất chặt chẽ về các biện pháp điều tra. Điều này được thể hiện trong BLTTHS, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự và các văn bản chuyên ngành khác. Vì vậy
việc nghiên cứu cụ thể về các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự và thực tiễn hoạt động điều tra, phân tích làm sáng tỏ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về
Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng và kết hợp chặt chẽ phương pháp lôgíc với phương pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, thống kê,
khảo sát, điều tra, tổng kết thực tiễn.
5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Luận văn là một công trình nghiên cứu về các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự một cách hệ thống, toàn diện. Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ vấn
đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự; đề xuất những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng điều tra trong tố tụng hình sự
hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
N goài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: N hững vấn đề lý luận cơ bản về điều tra trong tố tụng hình sự.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt N am về các biện pháp điều tra.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự.
N ỘI DUN G CƠ BẢN CỦA LUẬN VĂN
!Invalid Character Setting
!Invalid Character Setting
Chương 1
HỮ G VẤ ĐỀ LÝ LUẬ CƠ BẢ
VỀ ĐIỀU TRA TRO G TỐ TỤ G HÌ H SỰ
1.1. Khái niệm, nhiệm vụ, nguyên tắc, yêu cầu của hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự
1.1.1. Khái niệm
Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó cơ quan Điều tra và các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra được sử dụng các
biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc
xét xử của Tòa án. Đồng thời, thông qua hoạt động điều tra xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa
với các cơ quan và tổ chức hữu quan.
Điều tra vụ án hình sự là một dạng hoạt động nhận thức đặc biệt. Đối tượng nhận thức của hoạt động điều tra là tội phạm đã xảy ra, những phương tiện, biện pháp
được áp dụng trong hoạt động điều tra phải phù hợp với pháp luật, không trái với giá trị pháp lý của kết quả điều tra vụ án.
+ Kết thúc giai đoạn điều tra vụ án và hành vi phạm tội của bị can được làm rõ, đúng sự thật như trong thực tế đã xảy ra. Không được xuyên tạc, cố ý bóp méo hay làm
sai sự thật do nhiều động cơ, mục đích khác nhau.
- Tuân theo pháp luật, chấp hành các nguyên tắc của BLTTHS.
+ Trong quá trình điều tra, Điều tra viên không chỉ đơn thuần chấp hành những yêu cầu của pháp luật, nhất là BLTTHS mà còn áp dụng hiệu quả những thủ thuật,
chiến thuật, những phương tiện kỹ thuật trong hoạt động điều tra.
+ Không cho phép áp dụng trong hoạt động điều tra những biện pháp, phương tiện trái pháp luật, chống lại pháp luật. Tất cả những biện pháp được áp dụng trong hoạt động
điều tra phải theo đúng thủ tục, trình tự, kết quả tiến hành phải được phản ánh chính xác, khách quan trong các văn bản tố tụng.
- Tôn trọng danh dự, nhân ph m, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, người tham gia tố tụng nói riêng.
+ Hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự động chạm nhiều nhất đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Các biện pháp điều tra được áp dụng, nhất là các biện
pháp cưỡng chế tố tụng phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật cho phép, không được xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phNm, tài sản, sức khỏe của công dân.
- Cơ quan điều tra cấp dưới chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của cơ quan điều tra cấp trên.
+ Cơ quan điều tra các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình và mối quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo giữa cơ quan điều tra cấp trên và cơ quan điều tra
cấp dưới do pháp luật quy định. Mặt khác, công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động điều tra phải mang tính trực tiếp để đảm bảo sự nhanh chóng của hoạt động điều tra, phát
huy tinh thần chủ động, sáng tạo của cơ quan điều tra các cấp, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra và Điều tra viên trong quá trình điều tra v.v…
1.1.4. Yêu cầu của hoạt động điều tra vụ án hình sự
- Hoạt động điều tra phải được tiến hành có kế hoạch
- Tiến hành nhanh chóng và linh hoạt
- Sử dụng có hiệu quả những biện pháp trinh sát, những phương tiện kỹ thuật trong quá trình điều tra
- Vận động quần chúng tham gia vào hoạt động điều tra
!Invalid Character Setting
!Invalid Character Setting
1.2. Các biện pháp điều tra
Các biện pháp điều tra bao gồm: Khởi tố bị can và hỏi cung bị can; lấy lời khai; thu giữ vật chứng; đối chất; nhận dạng; khám xét, thu giữ tài liệu, vật chứng; khám
nghiệm hiện trường, tử thi, xem xét dấu vết; thực nghiệm điều tra; trưng cầu giám định.
Trong quá trình điều tra, tùy từng vụ án cụ thể mà các biện pháp điều tra được thực hiện toàn bộ hay một phần. Có những biện pháp luôn luôn bắt buộc phải thực
hiện (như khởi tố bị can, hỏi cung bị can, lấy lời khai người tham gia tố tụng), có những biện pháp có thể không bắt buộc phải thực hiện tùy theo nhu cầu điều tra.
sự, góp phần đáng kể vào những thành tựu mà cơ quan điều tra đã đạt được trong thời gian qua.
N ghị quyết 49-N Q/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nêu rõ: "Xác định rõ nhiệm vụ của cơ quan điều tra trong mối quan hệ với
các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra theo hướng cơ quan điều tra chuyên trách điều tra tất cả các vụ án hình sự, các cơ quan khác chỉ tiến hành một
số hoạt động điều tra sơ bộ và tiến hành một số biện pháp theo yêu cầu của cơ quan điều tra chuyên trách. Trước mắt tiếp tục thực hiện mô hình tổ chức cơ quan điều
tra theo pháp luật hiện hành; nghiên cứu và chu n bị mọi điều kiện để tiến tới tổ chức lại cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác
trinh sát và hoạt động điều tra tố tụng hình sự".
Chương 2
QUY ĐN H CỦA LUẬT TỐ TỤ G HÌ H SỰ VIỆT AM
VỀ CÁC BIỆ PHÁP ĐIỀU TRA
2.1. Khởi tố bị can và hỏi cung bị can
2.1.1. Khởi tố bị can
Khởi tố bị can là việc cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố đối với một người khi có đủ căn cứ xác định rằng người đó đã thực hiện hành vi
phạm tội.
Quyết định khởi tố bị can là văn bản pháp lý cần thiết để cơ quan điều tra áp dụng tất cả các biện pháp ngăn chặn, thu thập chứng cứ, biện pháp đảm bảo việc giải
quyết vụ án đối với bị can.
2.1.2. Hỏi cung bị can
Hỏi cung bị can là biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự, do Điều tra viên tiến hành bằng cách tác động trực tiếp vào tâm lý bị can nhằm mục đích thu được lời
khai trung thực, đúng đắn và đầy đủ về hành động phạm tội của bị can và đồng bọn cũng như những tin tức cần thiết khác góp phần làm sáng tỏ sự thật của vụ án.
- Là biện pháp điều tra phổ biến nhất, có khả năng thu nhiều tin tức nhất về vụ án đang điều tra cũng như các tin tức khác mà cơ quan điều tra cần thu thập.
- Hỏi cung cũng dễ dẫn đến sai lầm chủ quan, xâm phạm nghiêm trọng tới quyền lợi của bị can. Chính vì vậy mà khoản 2 Điều 72 BLTTHS năm 2003 đã quy định
lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng
cứ duy nhất để kết tội.
2.2. Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
2.2.1. Lấy lời khai người làm chứng
Lấy lời khai của người làm chứng là biện pháp điều tra được tiến hành nhằm thu thập, theo trình tự tố tụng hình sự, lời khai của người làm chứng về những tình tiết của
vụ án đang được điều tra và những tin tức, tài liệu khác có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm.
- Lời khai của người làm chứng thường thu thập được nhiều thông tin về vụ án, đối tượng gây án và những tình tiết khác có liên quan đến vụ án xảy ra.
!Invalid Character Setting
!Invalid Character Setting
- Biện pháp khám xét sẽ ảnh hưởng tới quyền tự do cá nhân. N ếu không đủ căn cứ do pháp luật quy định thì không được quyền khám xét.
!Invalid Character Setting
!Invalid Character Setting
- Việc khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một người có công cụ,
phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có, hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án. Việc khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm cũng được tiến hành khi cần
phát hiện người đang bị truy nã.
- Khi khám xét, chỉ được thu giữ những đồ vật, tài liệu có ý nghĩa cho hoạt động điều tra và mô tả đúng thực trạng vào biên bản, đưa vào hồ sơ vụ án.
Các biện pháp khám xét được trình bày ở các điểm sau đây.
2.5.1. Khám người
Khám người là việc lục soát, tìm kiếm, nghiên cứu trong người, quần áo đang mặc và đồ vật, phương tiện mang theo của họ nhằm phát hiện và thu giữ công cụ,
phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có, những dấu vết, đồ vật, tài liệu có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra.
2.5.2. Khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm
Khám xét chỗ ở, địa điểm là việc tìm kiếm các chứng cứ phạm tội tại chỗ ở, địa điểm nhất định
2.5.3. Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu ph m tại bưu điện
Các thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phNm bị khám xét phải còn đang nằm trong sự quản lý của cơ quan bưu điện chưa giao cho người nhận, nếu đã giao cho người nhận
mang theo người hoặc để tại chỗ thì được coi là đồ vật.
Trong thực tiễn, hoạt động điều tra có những trường hợp cần thiết phải tiến hành khám xét nhiều đối tượng ở nhiều nơi cùng một lúc. Khi khám xét đòi hỏi phải tiến
hành đồng thời, có sự phối hợp thống nhất trong hành động của các lực lượng, đảm bảo không để cho đối tượng tNu tán, tiêu hủy tài liệu, vật chứng của vụ án.
Hoạt động khám xét còn bao gồm cả khám xét lại người, đồ vật, chỗ ở, địa điểm, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phNm.
2.6. Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể
2.6.1. Khám nghiệm hiện trường
Khám nghiệm hiện trường là biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự, do Điều tra viên trực tiếp tiến hành nhằm nghiên cứu, ghi nhận, mô tả hiện trường; phát hiện, thu
thập, đánh giá các dấu vết, vật chứng, các tin tức, tài liệu liên quan tại hiện trường phục vụ cho điều tra, xử lý tội phạm, đồng thời phát hiện những nguyên nhân, điều kiện phát
sinh tội phạm, phát hiện phương thức, thủ đoạn hoạt động mới của tội phạm để phục vụ phòng ngừa tội phạm.
- Khám nghiệm hiện trường là một hoạt động điều tra phức tạp, đan xen nhiều yếu tố về tố tụng, về nghiệp vụ điều tra, kỹ thuật hình sự, tổ chức lực lượng, thậm chí
có thể liên quan đến hoạt động điều tra khác được tiến hành đồng thời như việc lấy lời khai.
- N hững người trực tiếp thi hành cần chú ý rèn luyện tư duy tốt về nghiệp vụ điều tra, đầu tư tốt trang bị kỹ thuật phục vụ cho công tác khám nghiệm hiện trường
làm rõ trong vụ án hình sự trong những trường hợp do pháp luật quy định hoặc khi cần thiết.
N hững trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định:
- N guyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động;
- Tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo trong trường hợp có nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ;
- Tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc người bị hại trong trường hợp có nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn đối với những tình tiết của
vụ án;
- Tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại, nếu việc đó có ý nghĩa đối với vụ án nếu không có tài liệu khẳng định tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của
những tài liệu đó;
- Chất độc, chất ma túy, chất phóng xạ, tiền giả.
!Invalid Character Setting
!Invalid Character Setting
N goài ra, xét thấy cần thiết thì cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định. N hững trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định là những trường
hợp liên quan trực tiếp đến việc xác định tội danh, cũng như khung hình phạt dành cho người phạm tội.
Trong quá trình giám định, giám định viên có thể phát hiện cho cơ quan điều tra những nguyên nhân, điều kiện thực hiện việc phạm tội; những sơ hở, thiếu sót của
ta và những thủ đoạn hoạt động của kẻ phạm tội. Điều đó có ý nghĩa phòng ngừa tội phạm hoặc có tác dụng đấu tranh đối với hoạt động phạm tội.
Pháp luật không quy định việc cá nhân tự mình trưng cầu giám định. Trong nhiều trường hợp khi kết quả cá nhân tự trưng cầu giám định sẽ được cơ quan điều tra
xác minh và chấp nhận, nhưng có những cơ quan điều tra lại không chấp nhận việc trưng cầu giám định của cá nhân. Việc trưng cầu giám định của người tham gia tố
tụng cũng là một hoạt động để đưa ra chứng cứ chứng minh cho vụ án, vì vậy cần phải được tôn trọng, cơ quan điều tra có thể sử dụng những kết quả trưng cầu giám
định của người tham gia tố tụng phục vụ cho quá trình chứng minh sự thật của vụ án sau khi đã thNm định lại tính hợp pháp và sự chính xác của kết quả đó.
2.8.1. Việc tiến hành giám định
Việc tiến hành giám định có thể tiến hành tại cơ quan giám định hoặc tại nơi tiến hành điều tra vụ án ngay sau khi có quyết định trưng cầu giám định.
Thứ nhất: tiến hành tại cơ quan giám định bởi giám định tư pháp là công việc phức tạp, đòi hỏi phải sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ
thuật, nghiệp vụ chuyên ngành, phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ với thời gian cần thiết. Đồng thời, tại cơ quan giám định sẽ đáp ứng được yêu cầu bảo
mật về nội dung vụ án.
Thứ hai: Tại hiện trường, việc tiến hành giám định đáp ứng được yêu cầu kịp thời của hoạt động điều tra và giải quyết vụ án.
2.8.2. ội dung kết luận giám định
Kết luận giám định là lời khẳng định mang tính chuyên môn của người giám định về vấn đề được trưng cầu. Từ kết luận này, cơ quan điều tra và cụ thể là Điều tra
3.2. hững giải pháp
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tố tụng hình sự, đặc biệt là pháp luật về điều tra trong tố tụng hình sự
- Về thời hạn của việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm: Cần quy định thời hạn cho từng giai đoạn giải quyết vụ án hợp lý hơn, vừa đảm bảo được yêu cầu giải
quyết vụ án nhanh chóng, đồng thời, đảm bảo thời gian cho những vụ án có tính chất phức tạp.
- N ên bổ sung biện pháp ghi âm, ghi hình khi lập biên bản hoạt động tố tụng tại Điều 95, Điều 125 BLTTHS.
- Cần bổ sung vào Điều 139 BLTTHS về đối tượng là băng ghi âm, ghi hình để nhận dạng, phù hợp với sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện nay.
- Để đảm bảo tính khách quan và quyền lợi của bị can, bị cáo thì BLTTHS cần có quy định khi cơ quan điều tra mở niêm phong và kiểm tra các thông tin được lưu
giữ trong các máy tính, ổ cứng, đĩa mềm, đĩa CD, ổ USD phải có mặt Kiểm sát viên, chủ sở hữu hoặc người quản lý máy tính, các ổ đĩa máy tính đó.
- Cần quy định về việc cho phép người tham gia tố tụng tự mình yêu cầu giám định (tự chi phí). Cần tránh những quan niệm sai lầm cho rằng BLTTHS chỉ quy định
cơ quan điều tra mới có thNm quyền trưng cầu giám định, cho nên chỉ có những kết luận giám định do cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu mới có giá trị chứng minh.
!Invalid Character Setting
!Invalid Character Setting
- Cần có những quy định thích hợp để chuyển hóa tài liệu trinh sát thành chứng cứ gián tiếp bằng cách sử dụng tài liệu đó như là một phương pháp tác động tâm lý trong
việc hỏi cung bị can, lấy lời khai của người tham gia tố tụng, thực nghiệm điều tra, xây dựng và khám nghiệm hiện trường v.v…
3.2.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác điều tra
âng cao trình độ, năng lực, ph m chất Điều tra viên
- Xây dựng cho cán bộ điều tra tư cách đạo đức trong sáng, mẫu mực, biết đặt lợi ích của N hà nước, của tập thể, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, có ý thức cao
về nhiệm vụ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; tạo mối quan hệ tốt với quần chúng nhân dân.
- Cần ưu tiên lựa chọn và bố trí vào các cơ quan điều tra những cán bộ có khả năng hoạt động điều tra như: hiểu biết rộng; có khả năng quan sát tốt, nhạy bén và
nhanh chóng phát hiện được vấn đề, có khả năng diễn đạt lập luận lôgíc, chặt chẽ, có tác phong chững chạc, có khả năng kiềm chế bản thân và có độ ổn định cảm xúc, ý
chí cao.
Hoàn thiện tổ chức, biên chế các cơ quan điều tra.
- Xây dựng tổ chức biên chế cho phù hợp với đặc điểm và yêu cầu của từng địa phương.
- Xây dựng nguồn nhân lực dự trữ dồi dào để có thể sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu trong bất kỳ tình huống nào.
+ N guồn được tuyển chọn từ các trường đào tạo nghiệp vụ;
+ Đội ngũ chiến sĩ nghĩa vụ có nguyện vọng ở lại phục vụ lâu dài trong lực lượng vũ trang.
N hững đối tượng này đều phải được thNm tra tư cách lý lịch rõ ràng, phNm chất đạo đức trong sáng.
cứu đề tài và đạt được một số kết quả khiêm tốn. N hững kết quả đó được thể hiện ở một số điểm sau đây:
1- Có vai trò quan trọng trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án, từ đó xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đề ra phương hướng khắc phục trong công cuộc đấu
tranh phòng và chống tội phạm, hoạt động điều tra trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định. Từ những ngày đầu thành lập nước, Chính phủ lâm thời Việt N am dân
chủ cộng hòa đã nhận thức rằng công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm là một trong những công tác trọng tâm và ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hoạt động
này. Cho đến nay đã có nhiều văn bản pháp luật ra đời, củng cố thêm hệ thống pháp luật về hoạt động điều tra nói chung và các biện pháp điều tra nói riêng mà BLTTHS năm 2003
và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 là những văn bản pháp lý có giá trị cao nhất và đang có hiệu lực thi hành. Tuy vẫn còn những quy định chưa phù hợp với thực tế,
nhưng các biện pháp điều tra được quy định trong tố tụng hình sự đã thể hiện được những điểm tiến bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra, khám phá sự thật khách quan
của vụ án.
2- Trong số các biện pháp điều tra được phân tích ở chương hai, mỗi biện pháp lại được sử dụng trong một hoàn cảnh, điều kiện khác nhau, và có phương thức thực hiện khác
nhau, nhưng đều có thể giúp cho cán bộ làm công tác điều tra xác định sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy, có thể nói, các biện pháp điều tra đó có giá trị ngang nhau, không phụ
thuộc vào đó là biện pháp đơn giản hay phức tạp, tiến hành trước hay sau. Mỗi biện pháp đều thể hiện được ưu điểm và nhược điểm trong quá trình sử dụng. Tuy nhiên, điều đó lại
không làm ảnh hưởng đến hoạt động điều tra nếu cán bộ làm công tác điều tra biết cách sử dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn những biện pháp đó trong từng tình huống cụ thể.
3- Để thực hiện được các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự, cán bộ làm công tác điều tra không chỉ dựa vào những quy định của pháp luật mà còn phải không ngừng
nâng cao kỹ năng nghiệp vụ của mình. Pháp luật về các biện pháp điều tra chỉ quy định trình tự, thủ tục thực hiện, còn chiến thuật thực hiện trong từng điều kiện, hoàn
cảnh, trong từng vụ án cụ thể lại phụ thuộc vào phương pháp, kinh nghiệm của mỗi cán bộ làm công tác điều tra. Điều này không được giảng dạy trong các trường đào
tạo hay được quy định trong các văn bản pháp luật mà phải thông qua hoạt động thực tiễn, cán bộ làm công tác điều tra tự tích lũy cho mình.
4- Bước sang thế kỷ 21, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước. Cùng với việc mở rộng mối quan hệ hòa bình, hợp tác, hữu nghị
với các nước trên thế giới, nền kinh tế nước ta đã không ngừng phát triển. Song song với đó là sự giao lưu văn hóa, xã hội với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh
!Invalid Character Setting
!Invalid Character Setting
những thành quả đã đạt được, xã hội đã xuất hiện không ít những mặt tiêu cực. N ổi bật lên là những loại tội phạm có tính chất nguy hiểm, những băng nhóm côn đồ, hành xử theo
kiểu xã hội đen, những tội phạm xuyên quốc gia, tội buôn người, rửa tiền... nhóm tội phạm sử dụng công nghệ kỹ thuật cao phục vụ cho mục đích đen tối của chúng. Điều này là
một khó khăn thách thức lớn cho những người làm công tác bảo vệ pháp luật nói chung và công tác điều tra nói riêng. Muốn hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả
thì trước hết phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện về lĩnh vực đó. Tiếp sau đó cần phải tập trung đầu tư vào yếu tố con người. Phải đào tạo được nguồn cán bộ làm công tác
điều tra có đầy đủ tâm, tầm và tài để có thể đối phó được với mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ xấu.
5- Để nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra, cần có hệ thống các giải pháp toàn diện, đồng bộ. Trong đó, các giải pháp quan trọng là hoàn thiện các quy định của
BLTTHS về điều tra nói chung, các biện pháp điều tra nói riêng, các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động điều tra như nâng cao trình độ, năng lực Điều tra viên. Hoàn thiện