TIỂU LUẬN:
Đánh giá tình hình kê khai đăng ký
đất đai và quản lý hệ thống hồ sơ địa
chính trên địa bàn phường Nhân
Chính - quận Thanh Xuân - Hà Nội Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong mọi thời đại, ở bất kỳ một quốc gia nào, đất đai cũng luôn được coi là
nguồn tài nguyên vô cùng quý giá. Đất đai không những đem lại các lợi ích kinh tế
mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội và chính trị, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay thì nó
lại càng trở nên quan trọng hơn. Bởi vậy, không một Nhà nước nào lại không quan
tâm tới việc quản lý quỹ đất của mình.
ở nước ta, trước đây việc quản lý đất đai bị buông lỏng trong một thời gian dài
nhưng những năm gần đây, do tác động của cơ chế thị trường đã làm thay đổi tình
hình sử dụng đất nhất là ở các thành phố lớn. Cùng với sự thay đổi đó, nhu cầu thực
hiện các quyền sử dụng đất ngày càng cấp thiết đặc biệt là đất ở đô thị. Luật Đất Đai
3. Phương pháp nghiên cứu và các tài liệu sử dụng
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập, thống kê tài liệu, số liệu.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp trên cơ sở thực tiễn.
Tài liệu sử dụng:
* Các tài liệu và bảng biểu theo quy định của Tổng cục Địa chính (nay là Bộ
Tài nguyên và Môi trường) mà trên thực tế phường Nhân Chính hiện có và đang sử
dụng để quản lý các thông tin về đất đai như: bản đồ địa chính, sổ địa chính, biểu
thống kê diện tích đất đai…
* Các báo cáo về việc thực hiện công tác địa chính của phường trong một vài
năm trước.
4. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được cấu
trúc thành 3 chương:
Chương I : Cơ sở khoa học và căn cứ pháp lý để thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính.
Chương II : Hiện trạng hệ thống hồ sơ địa chính của phường Nhân Chính – quận
Thanh Xuân – Hà Nội.
Chương III: Một số giải pháp khắc phục khó khăn để quản lý tốt hệ thống hồ
sơ địa chính của phường. Chương I
Cơ sở khoa học và căn cứ pháp lý để thiết lập hệ thống Hồ Sơ Địa Chính
1.1. Vai trò của việc thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính và đăng ký đất đai trong
công tác quản lý Nhà nước về đất đai
1.1.1. Khái niệm về hồ sơ địa chính và đăng ký đất đai.
a) Hồ sơ địa chính
b) Đăng ký đất
Đăng ký đất là một trong 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai nhằm xác
lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước (với tư cách là chủ sở hữu) và người sử dụng
đất (người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất…) để xác lập địa vị pháp lý của họ
trong việc sử dụng đất đối với Nhà nước và xã hội, thiết lập hồ sơ đầy đủ để để quản
lý thống nhất đất đai theo pháp luật, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
những người đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Đăng ký đất là một thủ tục hành chính bắt buộc đối với người sử dụng đất
và người quản lý, do hệ thống ngành Địa chính giúp UBND các cấp tổ chức thực
hiện.
Kết hợp với bản đồ địa chính, việc kê khai đăng ký đất và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất sẽ hình thành lên hệ thống hồ sơ địa chính.
* Mục đích của đăng ký đất đai nhằm:
- Bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.
- Nhà nước nắm quỹ đất để có đủ căn cứ pháp lý xác định quyền và nghĩa
vụ của người sử dụng đất.
- Bảo hộ quyền sử dụng hợp pháp của chủ sử dụng đất theo quy định của
pháp luật.
* Yêu cầu của việc đăng ký đất:
- Việc đăng ký đất trước hết phải theo đúng Luật Đất đai, các quy định kỹ
thuật và các thủ tục đăng ký của ngành Địa chính.
- Đăng ký phải đúng người sử dụng, diện tích sử dụng, mục đích, loại đất, thời
hạn sử dụng…
- Các tài liệu của hồ sơ địa chính phải được thiết lập đầy đủ và đúng quy cách
của từng loại tài liệu trong hồ sơ địa chính.
Đăng ký đất có 2 hình thái :
Đăng ký đất đai ban đầu: là đăng ký đất được thực hiện lần đầu trên phạm
vi cả nước để thiết lập hồ sơ địa chính ban đầu cho toàn bộ đất đai và cấp giấy chứng
- Loại hồ sơ địa chính phục vụ thường xuyên trong quản lý.
Hồ sơ tài liệu gốc, lưu trữ và tra cứu khi cần thiết
Hồ sơ tài liệu gốc là căn cứ pháp lý duy nhất làm cơ sở xây dựng và quyết
định chất lượng hồ sơ địa chính phục vụ thường xuyên trong quản lý. Nó bao gồm:
Các tài liệu gốc hình thành trong quá trình đo đạc, lập bản đồ địa chính, bao
gồm : toàn bộ thành quả giao nộp sản phẩm theo luận chứng kinh tế - kỹ thuật đã
được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt của mỗi công trình đo vẽ lập bản đồ địa chính
(trừ bản đồ địa chính, hồ sơ kỹ thuật thửa đất, sơ đồ trích thửa).
Các tài liệu gốc hình thành trong quá trình đăng ký đất đai ban đầu, đăng ký
biến động đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bao gồm :
- Các giấy tờ do chủ sử dụng đất giao nộp khi kê khai đăng ký như: đơn kê
khai đăng ký, giấy tờ pháp lý về nguồn gốc sử dụng đất, các giấy tờ có liên quan đến
nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước mà chủ sử dụng đất đã thực hiện.
- Hồ sơ tài liệu được hình thành trong quá trình thẩm tra xét duyệt đơn kê khai
đăng ký của cấp xã, cấp huyện.
- Các văn bản pháp lý của cấp có thẩm quyền trong thực hiện đăng ký đất đai,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như quyết định thành lập Hội đồng đăng ký
đất đai, biên bản xét duyệt của Hội đồng, quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyết định xử lý các vi phạm pháp luật đất đai v.v.
- Hồ sơ kiểm tra kỹ thuật, nghiệm thu sản phẩm đăng ký đất đai, xét cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hồ sơ tài liệu địa chính phục vụ thường xuyên trong quản lý đất đai Các tài liệu địa chính phục vụ thường xuyên cho công tác quản lý đất đai
ở các cấp gồm có:
Bản đồ địa chính và các tài liệu bổ trợ như: hồ sơ kỹ thuật thửa đất, sơ đồ
trích thửa, bản đồ giải thửa, bản đồ trích đo một khu vực… Chúng chứa đựng các
thông tin về điều kiện tự nhiên của từng thửa đất.
Tuỳ theo phương pháp thành lập, với mức độ chất lượng khác nhau, bản đồ
trọng nhằm đem lại lợi ích kinh tế xã hội to lớn, lâu dài cho đất nước. Do đó, để
Nhà nước quản lý được quỹ đất nhất thiết phải có thông tin về đất đai, khi đó mới
cho phép chúng ta xác định mức độ tích tụ đất đai đối với từng chủ sử dụng đất, các
hiện tượng kinh tế - xã hội nảy sinh trong quan hệ đất đai. Từ đó làm cơ sở khoa học
cho việc hoạch định các chính sách, pháp luật đất đai và điều chỉnh các mối quan hệ
về đất đai cho phù hợp với quá trình phát triển của xã hội. Việc phân tích các thông
tin đất đai trong hệ thống hồ sơ địa chính giúp cho việc thống kê - kiểm kê đất đai,
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thanh tra đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai cũng
như làm cơ sở cho việc xác định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Từ những lý do trên cho thấy việc thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính trong
chức năng quản lý nhà nước về đất đai là cần thiết và tất yếu.
1.2. Cơ sở pháp lý của việc thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính
Trong quá trình xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh thì
vấn đề đáp ứng được nhu cầu về đất ở, nhà ở của người dân là một trong những mục
tiêu quan trọng hàng đầu. Vấn đề quản lý chặt chẽ các khu dân cư, nắm được việc
chuyển mục đích sử dụng, chuyển quyền sử dụng đất, cấp phép xây dựng… được coi
là một công cụ nhằm bảo đảm định hướng xây dựng một xã hội công bằng hơn. Điều
đó cho thấy đất đai đóng một vai trò quan trọng cả về kinh tế lẫn chính trị và xã hội,
trong đó Nhà nước đóng vai trò quyết định. Mục tiêu của việc quản lý đất đai là đưa quỹ đất vào sử dụng hợp lý, hiệu quả góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội.
Công cụ của việc quản lý đó là hệ thống hồ sơ địa chính phục vụ cho công tác kê
khai đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong tình hình hiện nay,
công tác đăng ký đất đai đang là yêu cầu bức xúc và là một nhiệm vụ chiến lược của
toàn ngành Địa chính nhằm hoàn thiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và lập hồ sơ địa chính, làm cơ sở để đưa công tác quản lý Nhà nước về đất đai thành
một hoạt động bắt buộc và thường xuyên.
Hồ sơ địa chính bao gồm rất nhiều vấn đề có liên quan mật thiết với nhau, đòi
quy định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng Cục Địa Chính:
hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
- UBND thành phố Hà Nội và quận Thanh Xuân đã có những văn bản cụ thể
về công tác kê khai đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử
dụng đất ở:
+ Quyết định 3564/QĐ-UB ngày 16/9/1997 của UBND thành phố về việc ban
hành " Quy định về kê khai đăng ký nhà ở, đất ở, cấp giấy chúng nhận quyền sở hữu
nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại đô thị thành phố Hà Nội".
+ Kế hoạch số 20/KH-UB của UBND quận Thanh Xuân ngày 12/11/1997 về
"Triển khai công tác kê khai đăng ký nhà ở, đất ở, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu
nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại quận Thanh Xuân – thành phố Hà Nội".
+ Quyết định 69/1999/QĐ-UB ngày 18/8/1999 của UBND thành phố Hà Nội
về việc ban hành sửa đổi " Quy định về kê khai đăng ký nhà ở, đất ở, cấp giấy chúng
nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại đô thị thành phố Hà Nội".
Trên đây là những căn cứ pháp lý quan trọng nhằm từng bước thiết lập hệ
thống hồ sơ địa chính làm cơ sở để Nhà nước nắm chắc và quản chặt đất đai theo
đúng quy định của pháp luật.
1.3. Một số yêu cầu và quy định của việc thiết lập hồ sơ địa chính
1.3.1. Yêu cầu của việc lập hồ sơ địa chính
ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước (với tư cách là chủ sở
hữu) thống nhất quản lý. Để Nhà nước nắm được quỹ đất, bảo vệ quyền lợi hợp pháp
và giám sát việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý của người sử dụng đất đòi hỏi phải có
các thông tin về đất đai, nghĩa là phải thiết lập được hệ thống hồ sơ địa chính.
Hồ sơ địa chính dù được thiết lập ở giai đoạn nào cũng phải đáp ứng được các
yêu cầu cơ bản sau:
các loại tài liệu của hồ sơ địa chính theo đúng quy định.
- Các loại tài liệu của hồ sơ địa chính được thiết lập phải thể hiện đầy đủ, đúng
quy cách nội dung của mỗi loại tài liệu.
- Các nội dung thông tin về từng thửa đất, từng chủ sử dụng phải được thể
hiện chính xác, thống nhất trên tất cả các tài liệu có giá trị pháp lý để khai thác, sử
dụng trong quản lý biến động thường xuyên.
- Mỗi nội dung thông tin trên các tài liệu phải được ghi rõ ràng, không được tự
ý tẩy xoá. Các tài liệu sử dụng trong quản lý biến động phải được chỉnh lý theo đúng
quy cách với mỗi loại tài liệu.
1.3.2. Một số quy định về việc lập sổ sách trong hồ sơ địa chính
Trước đây các loại sổ sách thiết lập trong quá trình thực hiện đăng ký đất
đai do Tổng cục Địa chính ban hành theo Quyết định số 499/QĐ-ĐC ngày
27/7/1995, áp dụng thống nhất trong cả nước gồm có: sổ địa chính, sổ mục kê, sổ
cấp giấy chứng nhận, sổ theo dõi biến động đất đai. Do yêu cầu của công tác quản
lý đất đai ngày càng phức tạp, đòi hỏi các thông tin thật đầy đủ và chính xác,
Tổng cục Địa chính đã ban hành thông tư 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 về việc hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Theo thông tư này, việc lập và quản lý hồ sơ địa chính được
quy định cụ thể như sau:
* Sổ mục kê đất.
- Mục đích lập sổ: Sổ mục kê được lập nhằm liệt kê toàn bộ các thửa đất trong
phạm vi địa giới hành chính mỗi xã, phường, thị trấn về các nội dung: tên chủ sử
dụng, diện tích, loại đất … để đáp ứng yêu cầu tổng hợp thống kê diện tích đất đai,
lập và tra cứu, sử dụng các loại tài liệu hồ sơ địa chính một cách đầy đủ, thuận tiện và
chính xác.
- Nguyên tắc lập sổ:
Sổ được lập theo thứ tự từng tờ bản đồ địa chính và các tài liệu điều tra, đo
thẩm quyền duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với khu vực đô thị, sổ địa chính được lập riêng cho từng tờ bản đồ gồm
tất cả các thửa đất, mỗi thửa đất lập một trang và theo thứ tự số hiệu thửa đất. Với
khu vực nông thôn, mẫu sổ địa chính lập theo các chủ sử dụng, mỗi chủ sử dụng đất
là một trang.
Mỗi xã, phường, thị trấn lập một sổ mục lục chủ sử dụng đất để tra cứu, mục
lục của các tổ chức lập trước, các hộ gia đình và cá nhân lập sau và sắp xếp theo vần
A, B, C… của tên chủ sử dụng, ghi hết mỗi vần để cách số dòng bằng số trang đã viết
của vần đó để bổ sung sau này. Số thứ tự tên chủ được đánh liên tục từ 1 đến hết
trong mỗi vần.
Sổ được lập thành 3 bộ: 1 bộ lưu tại Sở địa chính, 1 bộ lưu tại Phòng địa
chính và 1 bộ lưu tại UBND cấp xã, do cán bộ địa chính cấp xã trực tiếp quản lý.
- Chỉnh lý sổ: Việc cập nhật, chỉnh lý sổ địa chính chỉ được thực hiện khi
đã làm đúng các thủ tục đăng ký biến động đất đai và được cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc chứng nhận biến động
trên giấy đã cấp. * Sổ theo dõi biến động đất đai:
- Mục đích lập sổ: Sổ được lập để theo dõi và quản lý chặt chẽ tình hình thực
hiện đăng ký biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính hàng năm và tổng hợp báo cáo
thống kê diện tích đất đai theo định kỳ.
- Nguyên tắc lập sổ:
Sổ được lập ngay sau khi kết thúc đăng ký đất đai ban đầu.
Sổ được lập trên cơ sở kết quả của việc đăng ký biến động đất đai, vào sổ
địa chính và chỉnh lý bản đồ địa chính.
Sổ lập cho từng xã, mỗi xã lập 1 bộ lưu tại trụ sở UBND xã, do cán bộ địa
chính xã lập và quản lý.
* Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- Mục đích lập sổ: Sổ được lập nhằm theo dõi quá trình cấp giấy chứng nhận
hiệu thửa đất tách ra và số thứ tự của giấy chứng nhận quyền sử dụng đát mới
vào cột ghi chú.
Trường hợp thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để huỷ bỏ do thu
hồi đất, do thiên tai không còn đất sử dụng và trường hợp cấp lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất do bị mất, viết sai giấy chứng nhận thì gạch ngang ( bằng mực đỏ)
dòng ghi nội dung của giấy chứng nhận quyến sử dụng đất đã huỷ và ghi vào cột ghi
chú " đã huỷ ". Nếu cấp lại giấy chứng nhận khác thì ghi số thứ tự vào sổ của giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lại.
Trường hợp cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ghi chú " đã thu
hồi, số thứ tự vào sổ của giấy chứng nhận mới cấp đổi ". Chương II
Hiện trạng hệ thống hồ sơ địa chính của phường Nhân Chính – Quận thanh
xuân – thành phố hà nội
2.1. Vài nét về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
* Vị trí địa lý:
Nhân Chính vốn là một làng cổ có truyền thống văn hoá lâu đời với cái tên
Làng Mọc, trước đây là một xã ven đô ngoại thành Hà Nội, thuộc huyện Từ Liêm. Từ
ngày 1-1-1997, Nhân Chính chính thức trở thành phường Nhân Chính thuộc quận
Thanh Xuân – thành phố Hà Nội.
Là một phường mới được thành lập, song Nhân Chính lại là phường có diện
tích lớn nhất trong số 11 phường của quận Thanh Xuân với diện tích đất tự nhiên là
160,8895 ha (trong tổng diện tích của cả Quận là 910,5 ha).
Nhân Chính tiếp giáp với nhiều đơn vị hành chính khác trong Quận, ngoài
Trên địa phận phường có sông Tô Lịch chảy qua, đây là tuyến thoát nước
chính của phường cũng như của thành phố Hà Nội. Ngoài ra còn có rất nhiều ao, hồ.
Hiện nay các ao lớn trong phường đang được kè bờ để tạo cảnh quan cho phường.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
* Dân cư: Tại thời điểm thành lập tháng 1/1997, toàn phường Nhân Chính
có 9229 nhân khẩu, đến ngày 4/11/2002 toàn phường đã có 4.610 hộ với 21.084
nhân khẩu ở 67 tổ dân phố thuộc 14 cụm dân cư. Tỷ lệ gia tăng dân số của
phường năm 2002 là 0,9%.
* Cơ cấu dân số, lao động của phường: Là phường chuyển từ một xã thuộc
huyện ngoại thành vốn có diện tích đất nông nghiệp lớn nhưng với tốc độ đô thị hoá
chóng mặt đã làm cho cơ cấu dân số, cơ cấu lao động của phường có những thay đổi
rõ nét. Dân cư trong phường chủ yếu là cán bộ công nhân viên Nhà nước, học sinh,
sinh viên… Do lấy đất phục vụ đô thị hoá nên 410 xã viên của Hợp tác xã Nông nghiệp cũ đã được chuyển sang hoạt động trong Hợp tác xã dịch vụ với cơ cấu sản
xuất chính là dịch vụ. Số dân trong độ tuổi lao động của phường chiếm 42 – 43%
tổng số dân, trong đó lao động trong các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước là đa số
còn lại là lao động dịch vụ và lao động thủ công. Ngoài ra, trên địa bàn phường còn
có một lượng học sinh, sinh viên ngoại tỉnh rất lớn trong các trường Cao đẳng, Đại
học ở các phường xung quanh đến ở trọ.
* Hệ thống giáo dục: Trên địa bàn phường Nhân Chính tập trung khá nhiều
các trường học và các trường chuyên nghiệp như: trường tiểu học, trường THCS
Nhân Chính, trường THCS Phan Đình Giót, trường Cao đẳng phòng cháy chữa cháy,
trường Quân sự Thủ đô, trường dạy nghề Bách Nghệ…
* Di tích lịch sử văn hoá: Phường Nhân chính có nhiều di tích lịch sử văn hóa
đã được Bộ văn hóa công nhận và xếp hạng như: Đình Cự Chính, Chùa Bồ Đề, Đình
Quan Nhân, Đình Giáp Nhất…
* Tình hình xây dựng cơ sở hạ tầng:
được đổ bê tông và có hệ thống thoát nước.
2.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất của phường Nhân Chính
Từ trước năm 1993, Nhân Chính là một xã ven đô với tổng diện tích tự nhiên
là 254,3379 ha. Theo địa giới hành chính 364 từ năm 1994 đến nay, tổng diện tích đất
toàn phường là 160,8895 ha. Diện tích này giảm do đường địa giới chuyển sang
phường Thanh Xuân Trung và Thanh Xuân Bắc. Theo số liệu thống kê diện tích đất
đai năm 2001, tổng quỹ đất của phường là 160,8895 ha, trong đó:
Diện tích đất nông nghiệp: 17,6966 ha, chiếm 10,99% tổng diện tích đất.
Diện tích đất chuyên dùng: 84,6883 ha, chiếm 52,63%.
Diện tích đất ở: 51,3052 ha, chiếm 32,08%. Đất chưa sử dụng: 6,93 ha, chiếm 4,3%.
Phân theo đối tượng sử dụng thì trong tổng số 160,8895 ha quỹ đất của
phường:
Các tổ chức quản lý sử dụng 72,5678 ha bao gồm: 16,5592 ha đất nông
nghiệp; 43,0737 ha đất chuyên dùng; 12,6655 ha đất ở.
Hộ gia đình, cá nhân quản lý sử dụng 39,7771 ha gồm: 38,6397 ha đất ở;
1,1374 ha đất nông nghiệp.
UBND phường quản lý 36,7992 ha gồm chủ yếu là đất chuyên dùng
(29,8692 ha), còn lại là đất chưa sử dụng.
giới hành chính không thay đổi nhưng diện tích đất nông nghiệp giảm mạnh do quá
trình đô thị hoá, lấy đất nông nghiệp chuyển sang đất xây dựng.
* Tình hình quản lý sử dụng đất chuyên dùng:
Tổng diện tích đất chuyên dùng của phường năm 2001 là 84,6883 ha, chiếm
52,63% tổng quỹ đất, tăng 23,3905 ha so với năm 1995. Các nguyên nhân tăng
chủ yếu là:
- Do thay đổi loại đất chuyển từ mặt nước chưa sử dụng sang mặt nước
chuyên dùng là 6,4684 ha.
- Do chuyển từ đất nông nghiệp, đất chưa sử dụng sang đất xây dựng.
* Tình hình quản lý sử dụng đất ở:
Đến năm 2001, diện tích đất ở của phường Nhân Chính là 51,3052 ha, chiếm
32,08% quỹ đất của phường chủ yếu là đất ở của hộ gia đình, cá nhân được chuyển từ
làng xã lên phường và đất ở do các đơn vị, cơ quan trong địa bàn phường quản lý. So với năm 1995, diện tích đất ở của phường tăng lên 9,4879 ha, do lấy đất nông nghiệp
và đất chưa sử dụng sang để dãn dân.
* Tình hình quản lý đất chưa sử dụng:
Diện tích đất chưa sử dụng của phường là 6,93 ha, bao gồm;
Đất bằng chưa sử dụng: 6,8028 ha.
Ao, hồ, thùng đấu: 0,1272 ha.
Phần đất bằng chưa sử dụng chủ yếu trước đây là đất nông nghiệp hoang hoá
do bị kẹt khi cấp đất cho các đơn vị, cá nhân vào các mục đích sử dụng khác nhau.
Ngoài ra các ao, hồ nhỏ bị kẹt trong các khu dân cư do bị bồi lấp, lấn chiếm. Nguyên
nhân tồn tại đất chưa sử dụng của phường do:
- Việc cấp đất cho các đơn vị cơ quan và cá nhân trong địa bàn phường không
đồng bộ mà ngắt quãng.
- Việc cấp đất theo các mục đích sử dụng khác nhau trong khi điều kiện về hạ
tầng kỹ thuật chưa hoàn thiện dẫn đến đất nông nghiệp bị xen kẹp, không thể sử dụng
vào mục đích nông nghiệp được.