Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
----------Chuyên Đề Học Phần
Kinh Tế Chính Sách Và Phát Triển Vùng
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM
NHÓM 04
Giáo viên hướng dẫn:Đào Duy Minh
1. Võ Viết Tầng (Nhóm trưởng)
2.Nguyễn Lê Mỹ Hằng
3. Hà Khánh Linh
4. Hồ Thị Tuyết Nga
5. Nguyễn Thị Kiều Oanh
6. Nguyễn Xuân An
7. Trương Vũ Hoàng Anh
8. Huỳnh Thị Lệ
9. Nguyễn Đức Sang
10. Trần Thị Hoài Nhi
11. Ngô Thị Thùy Phương
12. Võ Thị Hồng Phương
13. Huỳnh Thị Ngọc Loan
14.Lê Quí Minh Trang
Huế, tháng 11 năm 2015
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
ii
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng đông nam
châu Á, chiếm giữ vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa- xã hội, an
ninh quốc phòng của châu Á nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng. Với
các lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên biển và nguồn nhân lực, thủy sản là một
thế mạnh góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Các
lợi thế này đã có những tác động tích cực góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng các chỉ tiêu kinh tế xã hội của Việt Nam, nâng cao khả năng cạnh tranh,
đẩy mạnh xuất khẩu của nước ta trong những năm qua. Tuy nhiên, bên cạnh
những lợi thế, ngành thủy sản nước ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức,
do khí hậu khắc nghiệt, hạn hán, mưa bão thường xuyên xảy ra, hiện tượng biển
bị xâm thực cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác nuôi trồng thủy sản.
Bên cạnh đó, lực lượng lao động ở Việt Nam dồi dào nhưng chất lượng còn hạn
chế, tỉ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn còn thấp. Hệ thống cơ sở hạ tầng
còn chậm phát triển, nhất là chưa có nhiều cảng cá, các trung tâm bán buôn cá
còn ít dẫn đến chi phí vận chuyển và bảo quản tăng cao trong quá trình chế biến
và xúc tiến thương mại. Công nghệ nuôi trồng, đánh bắt và chế biến còn lạc
hậu, khó đầu tư lớn trong khi những đòi hỏi về chất lượng và vệ sinh an toàn
thực phẩm đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu trên thị trường thế giới ngày
càng khắt khe. Vì vậy, chúng em đã chọn đề tài “Đánh giá tình hình xuất khẩu
thủy sản tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu để thấy được thực trạng của
ngành từ đó có những giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả của xuất
khẩu thuỷ sản Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, có sự cạnh tranh khốc liệt của
thị trường thế giới đặc biệt khi nước ta gia nhập vào tổ chức thương mại quốc tế
WTO.
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
GVHD: Đào Duy Minh
Page 2
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN TẠI VIỆT
NAM
1.1. Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu
1.1.1. Khái niệm
-
Xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia với
phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường
nhằm mục đích khai thác lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc
tế.
-
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương, đã xuất
hiện từ rất lâu đời và ngày càng phát triển. Tuy hình thức đầu tiên chỉ là hàng
đổi hàng, song ngày nay hình thức xuất khẩu đã được thể hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau.
-
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ
xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị, công
nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm đem lại lợi ích
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
Trong những năm qua, xuất khẩu thủy sản đã có những đóng góp hết sức to lớn,
trở thành động lực thúc đẩy kinh tế thủy sản phát triển nói riêng và sự tăng trưởng
kinh tế Việt Nam nói chung. Hằng năm, xuất khẩu thủy sản đã đem lại nguồn
ngoại tệ rất lớn cho đất nước và trỏ thành một trong bốn ngành dẫn đầu về kim
gạch xuất khẩu. Như vậy cùng với các mặt hàng xuất khẩu khác, thủy sản đã góp
phần rất lớn trong việc tạo ra nguồn vốn cho sự công nghiêp hóa – hiện đại hóa.
Từ một lĩnh vực còn yếu về kĩ thuật, ngành thủy sản đã vươn lên, đóng góp tích
cực vào quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng thị trường trong và
ngoài nước, sản xuất hàng hóa phát triển, lấy xuất khẩu làm mũi nhọn. Trong khai
thác hải sản, nghề cá nhân dân đã được tổ chức quản lý và hợp tác theo đơn vị
truyền nghề, khuyến khích trang bị tàu thuyền có công suất lớn, có khả năng đánh
bắt ở vùng biển khơi. Do đó không chỉ đảm bảo hiệu quả kinh tế mà còn mang ý
nghĩa chính trị và bảo vệ an ninh đất nước. Bên cạnh đó, phong trào nuôi trồng
thủy sản đã phát triển mạnh mẽ trong phạm vi cả nước, các hình thức nuôi thâm
canh, nuôi xen canh tôm – lúa, tôm – cá được thực hiện rộng rãi. Mạng lưới sản
xuất giống cũng đã được hình thành ở hầu hết các tỉnh ven biển, đáp ứng yêu cầu
sản xuất của dân. Như vậy, nuôi trồng thủy sản đã trở thành một ngành sản xuất
chính, có vị trí quan trọng trọng tạo ra việc làm, sản xuất mặt hàng xuất khẩu.
Thêm vào đó, công nghiệp chế biến thủy sản với 172 cơ sở đã đóng vai trò to lớn
hàng đầu về công nghiệp chế biến thực phẩm trong cả nước và thu hút nguyên
liệu sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Sự ra đời hàng loạt nhà máy chế biến thế hệ mới
bên cạnh các nhà máy được nâng cấp với quy mô lớn, công nghệ hiện đại đã góp
phần đưa công nghệ chế biến thủy sản Việt Nam lên thứ hạn cao trên thế giới.
Ngoài ra, do yêu cầu của thị trường thế giới và cũng do cạnh tranh khốc liệt mà
các đơn vị hàng thủy sản luôn tìm tòi, cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm nhằm
đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của thị trường. Từ đó góp phần đáp ứng tốt hơn
nhu cầu thị trường nội địa, đóng góp sự tăng trưởng GDP của đất nước.
1.2.2. Tiềm năm xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
1.2.2.1. Tiềm năng về điều kiện tự nhiên
cá, tôm hùm…Bắc Bộ có tôm he, cá…Nam Bộ có nhiều mực. Tuy vậy nguồn lợi
biển không phải là vô tận, do đó nếu chúng ta không chính sách và biện pháp khai
thác hợp lý, đúng đắn thì nguồn lợi hải sản sẽ bị cạn kiệt nhanh chóng.
1.2.2.2. Tiềm năng về nguồn nhân lực
Về nhân lực, chúng ta có lao động nghề cá lên đến 4 triệu người sống tập trung tại
các vùng có tiềm năng về thủy sản. Số doanh nghiệp chế biến thủy sản ngày một
tăng đã thu hút nhiều hơn nữa số lao động vào trong ngành. Có thể nói Việt Nam
là quốc gia có lợi thế về nguồn nhân lực so với nhiều nước khác. Chi phí lao động
cho nông dân nuôi cá ở Việt nam chỉ bằng 1/10 chi phí lao động cho nông dân
nuôi cá ở Mỹ. Lợi dụng được lợi thế này, Việt Nam đã giảm thiểu được chi phí
đầu vào cho sản xuất, chế biến thủy sản, nhờ đó có thể giảm giá thành, đẩy mạnh
xuất khẩu và nâng cao kim ngạch hàng năm như đã thấy.Tuy nhiên cũng phải lưu
ý một điểm, lao động của ta chủ yếu chỉ là lao động phổ thông, trình độ nhận thức
còn kém, cho nên việc nâng cao trình độ cho lao động nghề cá cũng là yêu cầu
bức thiết trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. Bộ thủy sản đang có những biện pháp
đẩy mạnh và khuyến khích người dân đánh bắt xa bờ, từ đó tăng sản lương và qui
mô khai thác lâu dài.
1.3. Kinh nghiệm xuất khẩu thủy sản của một số nước
1. Những bất cập trong hoạt động XTTM thủy sản Việt Nam
Trước đây, hoạt động XTTM thủy sản chủ yếu tập trung vào các thị trường
quan trọng như Nhật Bản, Mỹ, EU và các thị trường mới (như: Nga, Hàn Quốc,
Canada, Úc) khiến thị phần xuất khẩu của những quốc gia này tăng vọt. Tuy
GVHD: Đào Duy Minh
Page 5
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
nhiên, sau sự kiện tôm Việt Nam bị kiện chống bán phá giá, Nhà nước đã tạo
hành lang thuận lợi cho các doanh nghiệp tự chủ động thực hiện XTTM, trong
bước tạo được thương hiệu chung cho các sản phẩm chủ lực của quốc gia và
dần chiếm lĩnh được các thị trường khó tính nhất. Điển hình là bài học kinh
nghiệm của Na-Uy với chiến lược phối hợp Nhà nước và cộng đồng trong việc
xây dựng, phát triển thương hiệu chung cho các sản phẩm thủy sản của Na-Uy
và thương hiệu quốc gia cho sản phẩm cá hồi; đồng thời, tiến hành tiếp cận thị
trường Nhật Bản. Đối với mặt hàng vẹm thì Tây Ban Nha và Hiệp hội Vẹm
(Bắc Mỹ) đã sử dụng chiến lược hướng dẫn người tiêu dùng và các đầu bếp ở
nhà hàng cách thức chế biến và thưởng thức những món ăn ngon làm từ vẹm.
Nhờ đó, làm giảm sự e ngại cho các đối tượng sử dụng khi phải xử lí thủy sản
có vỏ, còn sống.
3. Một số kết quả đạt được khi tiếp thu học hỏi ý kiến các nước quốc tế
GVHD: Đào Duy Minh
Page 6
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
-
-
-
Với những kinh nghiệm đúc rút được từ thực tiễn áp dụng của các nước trên thế
giới, Việt Nam đã có những định hướng hoàn thiện chính sách XTTM thủy sản
(nhằm khuyến khích hoạt động này phát triển mạnh tại Việt Nam) trên nguyên
tắc: Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thủy sản là chủ thể thực hiện hoạt
động XTTM; Nhà nước sẽ đóng vai trò hỗ trợ thông qua việc xây dựng và thực
hiện các chính sách khuyến khích, đầu tư cho hoạt động XTTM; Và giữ vững
các thị trường truyền thống (trước khi mở rộng ra các thị trường mới). Bên cạnh
trường thế giới nhưng nhờ có sự can thiệp kịp thời của nhà nước, nên nhìn chung
ngành thủy sản đã có nhiều khởi sắc, cụ thể như sau:
Biểu đồ1: Sản lượng thủy sản giai đoạn 2010-2014
- Năm 2010:
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng thủy sản năm 2010 ước đạt
5.157,6 ngàn tấn, tăng 6,4% so với năm 2009; trong đó, sản lượng khai thác đạt
2.414,4 ngàn tấn, tăng 7,6% so với cùng kỳ và đạt 102,1% kế hoạch năm; sản lượng
nuôi trồng đạt 2.728,3 ngàn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ và đạt 102,1% kế hoạch
năm.
- Năm 2011
+ về khai thác thủy sản
Theo báo cáo tổng hợp của các địa phương, 10 tháng đầu năm 2011, sản lượng khai
thác thủy sản ước đạt gần 2.165 nghìn tấn. Trong đó, sản lượng khai thác hải sản ước
đạt 2013 nghìn tấn, tăng 6% so với cùng kỳ. Sản lượng cá Ngừ đại dương đạt gần 12,8
nghìn tấn.
+ về nuôi trồng thủy sản
Tháng 10/2011, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 250 nghìn tấn, đưa tổng sản
lượng nuôi trồng thủy sản 10 tháng đầu năm lên trên 2,4 triệu tấn, tăng 10% so với
cùng kỳ năm 2010. Sản lượng nuôi trồng nước mặn, lợ tăng 7% trong khi sản lượng
nuôi trồng nước ngọt có mức tăng cao hơn, đạt 12,3%, trong đó cá tra tăng 10%
- Năm 2012
GVHD: Đào Duy Minh
Page 8
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
Năm 2012, tình hình sản xuất thủy sản gặp nhiều khó khăn nhưng ngành thủy sản vẫn
duy trì được mức tăng trưởng cao hơn so với năm 2011. Theo số liệu tổng hợp từ các
77.152.4
80.068,6 103,8
49.845,3
51.281,8 102,9
46.052,3
47.113,4 102,3
3.793
4.168,4 109,9
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Bảng 2 - Ước sản lượng thủy sản 9 tháng đầu năm 2013
TT Chỉ tiêu
ĐV tính
KH nămSản lượng So sánh cùng kỳ
I Tổng sản lượng thủy sản
1.000 tấn
5.700
4.493,5
102,66
1 Sản lượng khai thác
1.000 tấn
2.400
2.140,5
103,30
SL khai thác hải sản
1.000 tấn
2.200
1.997,0
103,10
SL khai thác nội địa
1.000 tấn
95,1
Nguồn: Trung tâm Thông tin Thủy sản, Vụ NTTS
GVHD: Đào Duy Minh
Page 9
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
* Số liệu so sánh 2012 theo số liệu của Tổng cục Thống kê
+ Khai thác thủy sản
9 tháng đầu năm 2013, ngành khai thác biển diễn ra thuận lợi, sản lượng tăng
cao so với năm trước. Thời tiết nhìn chung diễn biến thuận lợi cho khai thác hải sản.
Mặc dù có đến 8 cơn bão ảnh hưởng đến vùng biển nước ta nhưng không có cơn bão
nào gây ảnh hưởng nghiêm trọng. Sản xuất cá ngừ thuận lợi về đầu năm nhưng sau đó
gặp phải khó khăn do giá mua nguyên liệu giảm. Sản lượng cá ngừ tăng cao trong
những tháng đầu năm nhưng chững lại và có xu hướng giảm vào tháng 5, tháng 6 do
giá liên tục ở mức thấp.
+ Nuôi trồng thủy sản
Hoạt động nuôi trồng thủy sản 9 tháng đầu năm đối mặt với nhiều khó
khăn. Thời tiết không thực sự thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản. Rét đậm đầu năm tại
miền Bắc làm chết nhiều cá nuôi tại các địa phương. Nắng nóng và thay đổi nhiệt độ
bất thường vào giữa năm cũng làm tăng dịch bệnh và gây thiệt hại cho nhiều mặt hàng
như ngao, tôm. Trong quý III, ảnh hưởng những con bão lớn số 6 và số 7 khiến nhiều
địa phương bị thiệt hại nặng. Ngoài ra, những bất ổn và rào cản từ thị trường xuất khẩu
như thuế chống bán phá giá áp với mặt hàng cá tra vào Mỹ, thay đổi chính sách nhập
khẩu ngao của Trung quốc… cũng gây khó khăn đáng kể cho hoạt động sản xuất nuôi
trồng thủy sản.
- Năm 2014
Theo Tổng cục Thống kê, ước tính giá trị sản xuất thủy sản năm 2014 (tính theo
giá so sánh 2010) ước đạt gần 188 nghìn tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
TT Chỉ tiêu
So với
Kế hoạch
Ước thực
So
sánh
Đơn vị tính
thực hiện
năm
hiện 2014
2014/2013
kế hoạch
I
1
Tổng sản lượng thủy sản
Sản lượng khai thác
- SL khai thác hải sản
- SL khai thác nội địa
2 Sản lượng nuôi trồng
Sản lượng tôm nước lợ
Trong đó:
Tôm sú
Tôm thẻ
103.0
104.0
95.0
100.6
104.4
103.9
104.2
99.5
104.8
260
400
1.100
104.4
133.3
100.0
97.0
142.9
91.7
590
95
5.5
98
133
106
quản sản phẩm. Ngoài ra, các sản phẩm chế biến còn đơn điệu, chủ yếu là xuất khẩu
nguyên liệu thô. Máy móc, thiết bị chế biến cũ kỹ, lạc hậu cũng là trở ngại cho việc
phát triển ngành chế biến thủy sản. Công tác dự báo thị trường tiêu thụ còn yếu, thiếu
kiến thức thương mại, dẫn tới việc doanh nghiệp không chủ động được thị trường.
Nhìn chung, việc phát triển chế biến thủy sản thời gian qua gặp nhiều khó khăn, chưa
được đầu tư chiều sâu để phát triển công nghệ chế biến sản phẩm giá trị gia tăng; giá
thành sản phẩm cao làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường.
Hiện nay, thủy sản sau thu hoạch thường được bảo quản bằng phương pháp ướp đá với
một trong hai cách truyền thống: dùng đá xay (phủ lần lượt một lớp thủy sản, một lớp
đá); hoặc cho thủy sản vào túi nilon rồi ướp đá. Điểm hạn chế của phương pháp bảo
quản bằng ướp đá chính là: các dụng cụ dùng để bảo quản thường là vật liệu gỗ, nhựa,
xốp rất khó làm vệ sinh. Vì thế, các dụng cụ bảo quản vô tình trở thành môi trường lí
tưởng cho vi sinh vật có hại phát triển, gây thối nguyên liệu. Việc bảo quản nguyên
liệu sau thu hoạch không tốt dẫn tới chất lượng sản phẩm thấp, không thể sử dụng cho
việc chế biến xuất khẩu; Tình trạng thiếu nguyên liệu trầm trọng khiến một số doanh
nghiệp xoay sang nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài, làm tăng chi phí sản xuất,
giảm hiệu quả kinh tế. Đây chính là một vòng luẩn quẩn, gây thiệt hại không nhỏ cho
ngành sản xuất thủy sản của Việt Nam.
2.3.1. Kim ngạch, khối lượng thủy sản xuất khẩu
Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản giai đoạn từ 2010- 2014
Năm
2010
2011
2012
2013
2014
GVHD: Đào Duy Minh
Kim ngạch xuất
-
Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của nước ta là 6.11 tỷ $ tăng 1.08 Tỷ $ so với với
năm 2010 chiếm 21.47%. Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu của nước ta là 6.13 tỷ
$ tăng 0.02 Tỷ $ so với với năm 2011 chiếm 0.33%. Năm 2013, kim ngạch xuất
khẩu của nước ta là 6.7 tỷ $ tăng 0.57 Tỷ $ so với với năm 2012 chiếm 9.3%. Năm
2014, kim ngạch xuất khẩu của nước ta là 7.84 tỷ $ tăng 1.14Tỷ $ so với với năm
2013 chiếm 17.01%. Năm 2011, ngành thủy sản đã trải qua nhiều biến động, trong
đó mặt hàng được dư luận quan tâm nhiều là con tôm. Là mặt hàng xuất khẩu chủ
lực, tôm đã đem về có đóng góp quan trọng trong giá trị xuất khẩu năm 2011. Mặc
dù đối mặt với tình trạng thiếu nguyên liệu kéo dài, tổn thất do dịch bệnh gây ra,
các rào cản thương mại khi các thị trường nhập khẩu tăng cường kiểm soát chất
lượng hay các vấn đề gây tranh cãi về đối tượng nuôi và những mối nguy hại…
xuất khẩu tôm vẫn đạt những thành quả ngoạn mục.
Năm 2012 là một năm “vận hạn” đối với ngành tôm Việt Nam. Cả nuôi trồng, sản
xuất lẫn xuất khẩu đều đối diện với nhiều thách thức. Người nuôi thì lao đao với
dịch bệnh xảy ra tại nhiều vùng nuôi ngay từ đầu năm khiến nguồn tôm nguyên
liệu giảm, giá cả lên xuống thất thường. Còn doanh nghiệp thì đối mặt với thiếu
vốn, thiếu nguyên liệu, hoạt động sản xuất cầm chừng, thậm chí còn đối diện với
nguy cơ phá sản. Không chỉ gặp khó trên sân nhà, xuất khẩu tôm nước ta còn phải
hứng chịu những “cơn sóng giữ” trên thị trường quốc tế, điển hình là rào cản
Ethoxyquin tại thị trường Nhật Bản. Ngay sau khi Nhật Bản áp dụng kiểm tra
100% tôm Việt Nam nhập khẩu vào Nhật Bản đối với Ethoxyquin, xuất khẩu tôm
sang Nhật Bản giảm rõ rệt, từ 1,5% (tháng 7/2012) lên đến 16,6% (tháng
11/2012), tính chung cả năm chỉ tăng 5%. Bên cạnh đó, xuất khẩu tôm Việt Nam
GVHD: Đào Duy Minh
Page 13
khẩu thủy sản của nước ta đạt 7,84 tỷ USD là nhờ sự đóng góp nhiều nhất của mặt
hàng tôm với kim ngạch xuất khẩu trên 4 tỷ USD, tăng 25% so với năm 2013. Các
doanh nghiệp thủy sản vùng ĐBSCL cho biết, đạt được con số kỷ lục nói trên, một
phần là nhờ vào nguồn cung nguyên liệu của nước ta trong năm 2014 được đảm
bảo. Với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 8 tỷ USD, 2014 là năm ngành thủy sản
nước ta có tốc độ tăng trưởng cao nhất và liên tiếp trong vòng 3 năm trở lại đây.
Không chỉ đạt được những con số ấn tượng về kim ngạch xuất khẩu, mà 2014 còn
là năm thắng lợi về mở rộng thị trường xuất khẩu với các doanh nghiệp xuất khẩu.
Đây là tín hiệu lạc quan cho lĩnh vực chế biến và xuất khẩu thủy sản năm 2015.
Điểm sáng dễ thấy nhất về việc mở rộng thị trường xuất khẩu là vào tháng 8/2014,
Nga - một trong những thị trường lớn đã dỡ bỏ lệnh cấm và cho phép nhập khẩu
sản phẩm thủy sản của Việt Nam. Tận dụng được cơ hội này, đã giúp nhiều doanh
nghiệp thủy sản gia tăng được kim ngạch xuất khẩu trong năm 2014. Thống kê từ
Tổng cục Hải quản cho thấy, năm 2014, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
Nga đạt khoảng 1,5 tỷ USD.
GVHD: Đào Duy Minh
Page 14
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
Biểu đồ2: So sánh giá trị xuất khẩu thủy sản theo mặt hàng của 15/11/2013 so với
15/11/2014
2.3.2. Cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
Xét trong giai đoạn 5 năm từ 2010-2014 nhìn chung thì giá trị xuất khẩu của các mặt
hàng đều tăng trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất vẫn là 2 mặt hàng thủy sản chủ lực của
Việt Nam từ trước đến nay đó là tôm và cá tra. Ngoài ra thì cũng đánh dấu sự phát
2013
2,8
1.66
0.531
0.448
2014
3.95
1.77
0.484
0.483
0.497
1.021
1.061
1.261
1.153
Nguồn: Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)
2.3.2.1. Cá đông lạnh
a) Cá tra, cá basa:
GVHD: Đào Duy Minh
Page 15
2012
2013
2014
EU
567.4
526
426
385,5
344.3
MỸ
179.6
336.9
359
380.6
336.8
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
lên 379 triệu usd tăng 29%. Xuất khẩu cá ngừ đạt kết quả khả quan nhất trong năm
2012 với kim ngạch đạt 569 triệu USD, tăng 50,1% so với 2011. Tuy nhiên giá trị xuất
khẩu cá ngừ đại dương lại giảm xuống còn 484.2 triệu USD vào năm 2014 giảm 8.1%
so với năm 2013, nguyên nhân được xác định là do việc khai thác cá ngừ tại các tỉnh
trọng điểm đang có xu hướng chạy theo sản lượng, mặt khác cơ quan chưa có giải
pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng nên đa phần cá ngừ sau khi khai thác không đủ
tiêu chuẩn để xuất khẩu giá trị cao dưới dạng tươi nguyên con mà chỉ có thể xuất khẩu
các sản phẩm thông qua khâu chế biến đóng hộp.
Tính đến cuối năm 2014 Việt Nam đã xuất khẩu sản phẩm cá ngừ đại dương qua hơn
100 quốc gia trên thế giới trong đó 4 thị trường nhập khẩu cá ngừ đại dương của Việt
Nam lớn nhất trong 5 năm qua vẫn là những thị trường quen thuộc dó là Mỹ, EU, Nhật
Bản, ASEAN. Ngoài ra còn có các thị trường khác như Canada, Hàn Quốc, Iran,
Mexico,...
Bảng 8: Giá trị xuất khẩu cá ngừ đại dương qua 3 thị trường lớn
Đơn vị: Triệu usd
Chỉ tiêu
2010
2011
2012
2013
2014
MỸ
42.1
22.6
Nguồn: Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)
Giá trị xuất khẩu cá ngừ từ năm 2010- 2014 ở 3 thị trường lớn đang có xu hướng giảm
Năm 2014 giá trị xuất khẩu cá ngừ giảm ở cả 3 thị trường, tuy nhiên Mỹ vẫn tiếp tục
giữ vị trí dẫn đầu về nhập khẩu cá ngừ Việt Nam, chiếm 36,18% tỷ trọng giá trị xuất
khẩu cá ngừ, đạt 175,2 triệu USD, giảm 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Đứng thứ hai
là thị trường EU chiếm 27,92% tỷ trọng với giá trị xuất khẩu đạt 135,2 triệu USD,
giảm 3,9% so với cùng kỳ năm 2013. Tiếp theo là ASEAN và Nhật Bản chiếm 7,22%
và 4,66% tỷ trọng, giá trị xuất khẩu sang hai thị trường này lần lượt là 35 triệu
USD (giảm 1,5%) và 22,6 triệu USD (giảm mạnh 46,3%).
2.3.2.2. Tôm đông lạnh
Tôm là sản phẩn thủy sản có giá trị xuất khẩu lớn nhất với ba dạng sản phẩm chính
bao gồm tôm đông lạnh, tôm đóng hộp và tôm tươi sống.
Giai đoạn 5 năm từ năm 2010- 2014 do các yếu tố khách quan từ các chính sách
thương mại đến môi trường nuôi trồng khai thác tôm cùng với những biến động của
thị trường thủy sản thế giới theo hướng trái chiều mà giá trị xuất khẩu của mặt hàng
tôm giảm từ 2,4 tỷ USD ( năm 2010) còn 2,24 tỷ ( năm 2012) giảm 8,2%. Xuất khẩu
tôm năm 2012 đạt 2,24 tỷ USD, giảm 6,6% so với cùng kỳ năm 2011. Năm 2013 cùng
GVHD: Đào Duy Minh
Page 17
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
với những khắc phục về chính sách xuất khẩu của chính phủ và những biến động lớn
của thị trường thế giới như hội chứng tôm chết sớm (EMS) tiếp tục ảnh hưởng đến
570.39
454.6
828.12
1060
EU
275,6
412,85
311,7
409.54
682.7
Nhật bản
504
607,37
617,7
708.67
xuất khẩu chủ yếu sang thị trường này là: dệt may, gỗ và sản phẩm gỗ, giày
dép, thủy sản. Giá trị xuất khẩu thủy sản tăng 20,7% so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), giá tôm của
Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ được giá cao nhất trong các thị trường xuất khẩu.
Theo thống kê, giá tôm xuất khẩu trung bình vào Mỹ có thời điểm đạt gần 12
USD/kg cao hơn 20 đến 30% so với cùng kỳ năm 2009.
- Năm 2011: Các sản phẩm xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn đều tăng mạnh
về giá trị, điển hình là Mỹ - thị trường lớn nhất của thủy sản Việt Nam tăng
23,5%. Đặc biệt, xuất khẩu cá tra sang Mỹ hiện đang ở mức cao so với 130
quốc gia và vùng lãnh thổ nhập khẩu cá tra của Việt Nam. Tại thị trường Mỹ,
kim ngạch xuất khẩu cá tra tính đến 15/11/2011 cũng đạt trên 274 triệu USD,
tăng gần 100% so với cùng kỳ và sẽ tiếp tục tăng trong những tháng cuối năm.
Thị trường ASEAN cũng đạt hơn 96,886 triệu USD, tăng 44,8% so với cùng
kỳ.
- Năm 2012: Trong nhiều năm qua, hàng thủy sản luôn là một trong những mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam ra thị trường thế giới. Trong năm 2012,
xuất khẩu ngành hàng này chiếm tỷ trọng 5,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
tất cả các mặt hàng của cả nước.
Bảng 10: Kim ngạch và tỷ trọng của 10 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
trong năm 2012
Kim
Tên hàng
Thứ hạng ngạch
(Tỷ Tỷ trọng* (%)
USD)
Hàng dệt may
1
13,2
15,09
Điện thoại các loại & linh kiện
GVHD: Đào Duy Minh
Page 19
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
Phương tiện vận tải & phụ tùng
Gạo
9
4,58
10
3,67
Nguồn: Tổng cục Hải quan
4,0
3,2
Biểu đồ 3: Kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang EU và Hoa Kỳ năm
2006-2012
Nguồn Tổng cục Hải quan
Năm 2012, trong số các nhóm hàng của Việt Nam xuất sang thị trường Hoa Kỳ
thì hàng thủy sản đứng thứ 4 với tỷ trọng chiếm 5,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của cả nước sang thị trường Hoa Kỳ (sau hàng dệt may, giày dép và sản phẩm từ gỗ
với tỷ trọng lần lượt là 37,9%, 11,4% và 9%).
Bảng 11: Số liệu xuất khẩu hàng thủy sản sang thị trường Hoa Kỳ năm 2011-2012
Chỉ tiêu
Năm 2011 Năm 2012
Kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản sang Hoa
hàng cá đông lạnh (mã HS 03.03); phi lê cá & các loại thịt cá khác (HS 03.04); tôm đã
và chưa chế biến (HS 16.05 và HS 03.06); mực, bạch tuộc... (HS 06.07); và cá ngừ đã
được chế biến (HS 16.04).
Bảng 12: Cơ cấu xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam năm 2012 theo mã HS
trong danh mục biểu thuế
Stt
Mã HS
Trị giá (Triệu USD)
Tỷ trọng (%)
1
03.03
201
3,3
2
03.04
2.416
39,7
3
03.06
1.593
26,2
4
03.07
462
7,6
5
16.04
373
6,1
6
Cá ngừ: Thị trường Hoa Kỳ là thị trường cá ngừ lớn nhất của Việt Nam
và chiếm khoảng 35-36% % thị phần. Kim ngạch năm 2013 đạt 187,416
GVHD: Đào Duy Minh
Page 21