Lời mở đầu
Trong hơn thập kỷ qua, nông nghiệp nớc ta đã phát triển với tốc độ
cao, bình quân đạt trên 4,5%/năm. GDP ngành nông nghiệp năm 2000 tăng
5,3 lần so với năm 1990 (giá cố định 1994), trong khi đó GDP của ngành
nông - lâm - thuỷ sản trong tổng GDP chung của toàn quốc đã giảm từ
38,7% (1990) xuống còn 24,1% năm 2003. Giá trị xuất khẩu trên giá trị sản
xuất của ngành nông - lâm - thuỷ sản đã tăng từ 16,2% (1990) lên 27,5%
(1995) và 35,4% (2003). Nông nghiệp đã hình thành nhiều vùng chuyên
canh, sản xuất d thừa nhiều loại nông sản phẩm, đáp ứng đầy đủ nhu cầu
trong nớc về lơng thực, thực phẩm, và tham gia xuất khẩu. Tỷ suất hàng hoá
tăng nhanh tỷ lệ gạo xuất khẩu 20% sản lợng, cà phê 95%, cao su 80%, chè
60%. Năm 2003 có kim ngạch xuất khẩu nông sản trên 3 tỷ USD.
Nông nghiệp của ta đã c bớc tăng trởng, song nông sản hàng hoá chất
lợng cao cha nhiều, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu ở dạng thô, giá trị thấp.
Tính cạnh tranh nông sản hàng hoá của ta trong khu vực và trên thị trờng
thế giới còn yếu, thị trờng nông sản tổ chức cha chặt chẽ, tính ổn định
không cao. Cơ sở thơng mại phục vụ tiêu thụ còn hạn chế, các hệ thống
kênh thị trờng hoạt động còn cha thông suốt, hiệu quả thơng mại cha đợc
cao cũng nh sự mất cân đối trong phân phối hiệu quả, lợi nhuận giữa các
bên tham gia thị trờng trong từng loại nông lâm sản, và từng thị trờng khu
vực, đó là những thách thức lớn trong thời gian tới.
Biến động giá xuất khẩu nông sản hết sức phức tạp, và nớc ta hiện tại
xuất khẩu với giá thấp hơn 30 - 40% giá nông sản thế giới, điều này cho
thấy cần nghĩ tới cải tiến chất lợng thích ứng với thị trờng và hạ chi phí tiêu
thụ sản phẩm
Bên cạnh đó, thị trờng nông nghiệp nội địa mới hình thành, nông
nghiệp xuất khẩu đang gặp sự cạnh tranh khốc liệt trong điều kiện nớc ta sẽ
gia nhập WTO trong năm tới, các chính sách liên quan đến thị trờng nông
lâm nghiệp còn ít, các ban thị trờng cho trong nớc và xuất khẩu cơ cấu và
hoạt động cha tốt, những điều kiện này đòi hỏi phải có sự nhìn tổng thể và
định hớng phát triển chiến lợc cho thị trờng nông lâm sản trong điều kiện
không đáng kể cha đầy 2,2% diện tích cà phê hiện có của niên vụ
2003/2004. Đây là một hạn chế lớn và ảnh hởng nhiều tới giá xuất khẩu
trên thị trờng.
b. Xuất khẩu cà phê
Việt Nam sản xuất cà phê chủ yếu dành cho xuất khẩu, chiếm đến
trên 90% khối lợng sản xuất ra hàng năm, trong đó có tới 90% là cà phê vối
(Robusta). Số lợng cà phê xuất khẩu ngày càng tăng và đạt mức kỷ lục vào
năm 2001 (sản lợng cả nớc đạt gần 900.000 tấn và xuất khẩu 713.735 tấn),
nhng kỷ lục về kim ngạch xuất khẩu cà phê lại là năm 1998 đạt gần 600
triệu USD (đứng thứ 2 sau lúa gạo).
Kết quả xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong thời gian qua đợc phản
ánh qua biểu sau:
Biểu 4. Khối lợng và giá trị kim ngạch xuất khẩu
Năm Số lợng (tấn) Giá trị (1000USD) Giá bình quân (USD/tấn)
1982 4.140 5.000 1.207,7
1995 233.000 349.500 1.500,0
1996 235.000 430.000 1.829,8
1997 391.870 527.704 1.346,6
1998 445.415 569.500 1.293,1
1999 464.356 563.396 1.213,0
2000 705.308 464.342 658,4
2001 713.735 263.000 368,5
2002 718.600 322.300 448,5
2003 749.000 504.800 674,0
Nguồn: Niên giám thống kê.
Thị trờng xuất khẩu cà phê không ngừng đợc mở rộng, năm 1996
xuất khẩu sang 34 nớc, năm 1999 xuất khẩu sang 40 nớc. Hiện nay cà phê
Việt Nam đợc xuất sang gần 60 nớc ở 5 châu lục. Thị trờng chính là các nớc
châu Âu, năm 2003 có hơn 20 nớc nhập khẩu tới 65% lợng xuất khẩu cà
phê Việt Nam, trong đó đứng đầu là Đức (chiếm 16%), tiếp theo là Tây Ban
c. Kênh tiêu thụ cà phê
Nhận xét:
+ Ngời sản xuất chủ yếu vẫn là hộ gia đình nhng đã xuất hiện một số
doanh nghiệp t nhân, liên doanh sản xuất lớn.
+ Thiếu những sàn giao dịch hiện đại để nhà sản xuất, doanh nghiệp
chế biến và công ty kinh doanh (cả xuất khẩu) giao dịch bình đẳng,
công khai, minh bạch những lô hàng lớn, tiêu chuẩn hóa làm cơ sở
kế hoạch hóa sản xuất, kinh doanh.
+ Trình độ kinh doanh quốc tế quá kém, toàn bộ cà phê xuất khẩu
đều bán qua chi nhánh hoặc đại diện các công ty nớc ngoài đóng
tại Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam cha tiếp cận đợc thị trờng
Luân Đôn, New York; cha tiếp cận nhà chế biến, công ty phân
phối của nớc ngoài (gần nh là ủy thác xuất khẩu) cà phê Việt Nam
hoàn toàn không có kinh nghiệm riêng trên thị trờng quốc tế.
1.2. Mặt hàng cao su
a. Tình hình sản xuất
Trong các năm qua, Nhà nớc đã dành sự quan tâm cho đầu t phát triển
ngành cao su. Tổng diện tích cao su năm 2003 đã lên tới 436,5 ngàn ha, đạt
sản lợng khoảng 313,9 ngàn tấn mủ khô, gấp 2 lần về diện tích và 5,42 lần
sản lợng (mủ khô) so với năm 1990.
Cao su Việt Nam tập trung chủ yếu ở 2 vùng: Đông Nam Bộ và Tây
Nguyên. Năm 2003, diện tích cao su của Đông Nam Bộ đạt khoảng 293,5
ngàn ha, sản lợng đạt 264,4 ngàn tấn chiếm 67,2 % về diện tích, 84,2% về
sản lợng cao su toàn quốc. Bình Dơng, Bình Phớc là các tỉnh có sản lợng
cao su lớn nhất nớc ta. Năm 2003, sản lợng cao su Bình Dơng đạt 91,8 ngàn
tấn, chiếm 29,2%, Bình Phớc đạt 76,5 ngàn tấn chiếm 24,3% về sản lợng
cao su toàn quốc. Tây Nguyên năm 2003 đạt 104,6 ngàn ha, sản lợng đạt
41,2 ngàn tấn chiếm 23,9% diện tích, 13,1% về sản lợng cao su toàn quốc.
b. Tình hình xuất khẩu
Cao su Việt Nam sản xuất chủ yếu để xuất khẩu. Cao su là một trong
á chiếm tới 85%, giai đoạn 2000 - 2003 chiếm 69% kim ngạch xuất khẩu.
Châu Âu cũng là thị trờng tiêu thụ cao su khá lớn của Việt Nam và
ngày càng đợc mở rộng. Giai đoạn 1995 - 1999 chiếm trên 10%, giai đoạn
2000 - 2003 chiếm 22,1% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nớc. Các nớc nhập
khẩu cao su của Việt Nam chủ yếu là Đức, Nga; bên cạnh một số quốc gia
khác nhập ít hơn là Anh, Italia, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ. Đối với thị trờng
Liên Bang Nga và các nớc Đông Âu thì thông lệ mua bán lẻ rất phổ biến.
Hiện nay cao su l ngun thu ngoi t ln th 3 ca Vit Nam, sau
go v c phờ.
1.3. Mặt hàng điều
a.Tình hình sản xuất
Điều là cây trồng phát triển tự phát trong giai đoạn đầu sau đó mới
của có quy hoạch của ngành. Nớc ta trồng điều chủ yếu để xuất khẩu, năng
suất vờn điều hiện nay rất thấp là do trớc đây nông dân trồng giống xấu, ít
quả, vờn điều lại không đợc chăm sóc bón phân nh cây cao su và cà phê.
Muốn có năng suất điều cao vấn đề chính hiện nay là tạo ra các giống điều
có năng suất cao, thấp cây trồng thay thế các vờn điều giống cũ năng suất
thấp. Chúng ta đã tạo ra các giống tốt, song hạn chế là số lợng giống mỗi
năm có hạn, diện tích trồng bằng giống mới hàng năm không lớn.
Diện tích trồng điều năm 1995 là 187,6 ngàn ha, sản lợng hạt 50,5
ngàn tấn. Từ năm 2000 đến nay diện tích trồng điều tăng nhanh là do giá
hạt điều xuất khẩu cao, có những giống mới ngắn ngày hơn và cho năng
suất khá cao cho nên diện tích trồng điều tăng nhanh. Năm 2000 diện tích
là 195,5 ngàn ha, sản lợng 135 ngàn tấn, năng suất 8,9 tạ/ha. Năm 2003 sản
lợng đạt 159,3 ngàn tấn tăng 3,1 lần so với năm 1995.
b. Tình hình xuất khẩu
Biểu 5. Tình hình xuất khẩu điều Việt nam
Năm Lợng xuất khẩu
(1000tấn)
Giá trị
nhp khu ht iu ln nht ca Vit Nam vi tng t trng trờn 50%.
Lng nhp khu ca Hoa K nm 2003 tng 28,4%,năm 2004 tăng 30,1%
Trung Quc tng 16,6%, Canada tng 80% so với năm 2002.
c. Kênh tiêu thụ điều
Do tính chất của mặt hàng xuất khẩu nên có một số tác nhân tham
gia vào quá trình sản xuất, chế biến và xuất khẩu nhân điều
Những tác nhân chính trong kênh tiêu thụ điều là nông dân (hay ngời
trồng điều), ngời thu mua điều, ngời chế biến nhỏ, các công ty chế biến và
xuất nhập khẩu điều nhân (t nhân hay doanh nghiệp Nhà nớc). Không giống
nh những mặt hàng nông sản khác nh lúa gạo, rau quả, v.v hạt điều sản
xuất phục vụ thị trờng nhng chủ yếu không phải là tiêu thụ nội bộ (tiêu thụ
gia đình, hộ). Hạt điều thô đợc tiêu thụ qua nhiều kênh khác nhau. Ngời
nông dân (hay ngời trồng điều) có thể bán điều cho những ngời t thơng thu
gom điều, các xởng chế biến nhỏ trên địa bàn hoặc trực tiếp cho các nhà
máy của các công ty chế biến hạt điều và từ đó hạt điều thô đợc chế biến
phục vụ ngời tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu
Tại Việt Nam tất cả các công ty xuất nhập khẩu điều đều có nhà máy
chế biến hạt điều riêng. Mỗi công ty thành lập những đại lý, xởng thu gom
nhằm huy động tốt nguồn nguyên liệu trong nớc đáp ứng nhu cầu về chế
biến. Một số công ty cũng đã phát triển vùng nguyên liệu riêng của mình
thông qua việc đầu t về diện tích khuyến khích nông dân trồng điều bằng
việc hỗ trợ về vốn, giống cây năng suất cao. Tuy nhiên, cuộc chiến về
nguyên liệu điều thô đôi lúc trở lên khốc liệt về giá cả giữa các tác nhân
trong kênh tiêu thụ.
1.4. Mặt hàng tiêu
a. Tình hình sản xuất
Sản lợng tiêu biến động không ổn định. Nếu năm 1991 sản lợng tiêu
đạt: 8.900 tấn sau đó liên tục giảm đến năm 1994 mới tăng lên đạt 8.900
tấn (bằng năm 1991), tiếp đó sản lợng tăng đột biến từ 9.300 tấn năm 1995
lên 27.900 tấn năm 2000. Đến năm 2003, sản lợng tiêu cả nớc đã đạt 70,1
USD (xếp thứ 4 sau gạo, cà phê, cao su) và sản lợng xuất khẩu của Việt
Nam đứng thứ 3 trên thế giới (sau ấn Độ và Inđonêxia). Năm 2002, Việt
Nam xuất khẩu tiêu đứng đầu thế giới (sản lợng xuất khẩu 77 ngàn tấn và
kim ngạch xuất khẩu 108 triệu USD) vợt lên trên Inđônêxia (sản lợng xuất
khẩu 63,2 ngàn tấn và kim ngạch xuất khẩu 89,197 triệu USD). Tính đến
tháng 8 năm 2004, Việt Nam đã xuất khẩu đợc 57,9 ngàn tấn với kim ngạch
80,81 triệu USD.
Việt Nam chủ yếu xuất khẩu tiêu đen, tiêu trắng mới xuất khẩu từ
năm 2003. Lợng tiêu trắng vẫn xuất khẩu rất ít so với tổng lợng xuất khẩu,
năm 2003 đạt 4260 tấn, chiếm gần 6% sản lợng tiêu xuất khẩu.
Thị trờng tiêu đã và đang đợc mở rộng, năm 1999 Việt Nam đã xuất
khẩu sang 34 nớc trong đó đứng đầu là Singapore (chiếm 41%), sau đó là
Brazin (19,6%), Hà Lan (8,9%) sản lợng tiêu xuất khẩu cả nớc.
Hiện nay hồ tiêu Việt Nam đợc xuất khẩu sang khoảng 40 nớc, trong
đó thị trờng châu Âu (33%), châu á (24%), châu Mỹ (16,3%).
Hạt tiêu đen nớc ta đã khẳng định vị trí trên thị trờng quốc tế cả về
chất và lợng. Chúng ta có thể đáp ứng hoàn toàn các loại tiêu đen theo yêu
cầu khách hàng. Hạt tiêu trắng hiện vẫn còn nhiều tiềm năng, thị trờng đang
rộng mở.
c. Kênh tiêu thụ hồ tiêu
ở mức độ thu gom trực tiếp này, tính cạnh tranh rất cao. Trớc kia,
các cơ sở thu gom chủ yếu nằm ở trung tâm thị trấn, nhng sau một thời gian
cạnh tranh, họ chuyển vào gần nông hộ hơn để mua đợc nhiều hơn. ở trung
tâm chỉ còn lại các đại lý lớn thu gom tiêu từ các cơ sở nhỏ. Một xã có rất
nhiều ngời thu gom đặt cơ sở cách nhau không xa. Nh ở xã Anh Phú, huyện
Bình Long, tỉnh Bình Phớc, có đến 20 cơ sở thu gom nhỏ cố định, cha kể
ngời đi thu gom mua tận nhà của ngời trồng tiêu.
Các cơ sở thu gom nhỏ thờng mua tiêu dựa trên tiêu chuẩn dung
trọng (trọng lợng/lít) đo bằng ống bơ và cân đồng hồ, không đo độ ẩm bằng
máy nh các cơ sở thu gom lớn. Giá mua vào của các cơ sở thu gom nhỏ đợc
lớn đến gom hàng.
Các cơ sở thu gom này cũng cho nông dân vay tiền mua vật t. Lợng
cho vay khoảng1 - 5 triệu đồng/hộ, phụ thuộc vào sản lợng tiêu của hộ. Một
cơ sở cho 4 - 5 hộ vay. Chỉ có khoảng 50% số hộ vay bán lại tiêu cho cơ sở
để trừ tiền. Thờng, các cơ sở không lấy lãi và mua với giá mua thông thờng
để lấy nguồn hàng ổn định. Giá mua là giá khi giao hàng và thoả thuận
không có hợp đồng chính thức, chỉ giao ớc với nhau. Hiện tợng bán cả vờn tiêu
và chạy làng cũng có, nh năm 2003 có 3 trờng hợp/xã.
Các cở thu gom có ít nhất 3 -4 bạn hàng là cơ sở thu gom nhỏ thờng
xuyên cung cấp tiêu. Ngoài ra, họ thu mua đợc tiêu của những ngời bán
không thờng xuyên và cũng mua trực tiếp từ nông dân. Trong mùa tiêu, mỗi
ngày họ thu mua ít nhất 2 tấn tiêu. Họ có xe ô tô và khi gom đủ 1 chuyến
xe khoảng 8 - 9 tấn là có thể bán. Đối tợng khách hàng thờng là đơn vị chế
biến hoặc xuất khẩu. Điểm bán và thời điểm bán của các cơ sở này thờng
không có định, tuỳ theo phán đoán của họ và biến động của thị trờng. Tuy
nhiên, họ không găm tiêu lâu, thờng bán nhanh để quay vòng vốn. Lãi
trung bình của các cơ sở này chỉ khoảng 50đ/kg.
Theo đánh giá của nhóm điều tra khảo sát, mức độ cạnh tranh giữa
các cơ sở thu gom nhỏ và giữa các cơ sở thu gom lớn là rất cao. Quyền lực
thị trờng không tập trung vào một cơ sở nào và lãi xuất từ kinh doanh thu
gom tiêu là nhỏ.
1.5. Mặt hàng chè
a.Tình hình sản xuất chè
Diện tích, năng suất và sản lợng chè Việt Nam trong 10 năm qua
không ngừng gia tăng. Đến năm 2003, diện tích chè cả nớc đạt 116 ngàn
ha, trong đó có 85 ngàn ha cho sản phẩm, năng suất đạt 50 tạ/ha, sản lợng
425 ngàn tấn tăng hơn gấp 10 lần so với năm 1995. Tập trung chủ yếu các
vùng: Trung du Miền núi Phía Bắc: diện tích là 76,3 ngàn ha, sản lợng là
259,3 ngàn tấn (chiếm 65,6% về diện tích, 70% về sản lợng so với cả nớc).
Tây Nguyên: diện tích là 26,7 ngàn ha, sản lợng là 127,2 ngàn tấn (chiếm
Quốc (15 - 20%) nhng thị phần đã giảm mạnh vào đầu những năm 1990.
Đến năm 1996 mức xuất khẩu chè đen của nớc ta đã phục hồi so với
những năm trớc đó, sản phẩm chè của ta đã xuất đi 22 nớc với lợng xuất
khẩu là 20,8 ngàn tấn, kim ngạch xuất khẩu 29 triệu USD. Trong đó Irắc là
thị trờng lớn nhất chiếm 22,7%, sau đó đến Đài Loan 10,4%, HồngKông
8,8%, Singapore 5,3% lợng xuất khẩu chè của Việt Nam.
Đến năm 1999 là năm thứ 3 liên tiếp xuất khẩu chè Việt Nam tăng
mạnh, sản phẩm chè đã xuất đi 30 nớc với lợng xuất khẩu là 36,44 ngàn tấn
đạt kim ngạch xuất khẩu 45,15 triệu USD, đã nâng thị phần chè Việt Nam
trên thế giới từ 1,7% những năm 1995 - 1996 lên 3,2 - 3,4% các năm 1997 -
1998 và năm 1999 là 4%. Trong đó thị trờng chính vẫn là Irắc (31,7%) chủ
yếu là chè đen, Đài Loan (25% - chủ yếu chè xanh cao cấp), Vơng Quốc Anh
(5,7% chủ yếu chè đen) lợng xuất khẩu chè Việt Nam.
Năm 2002, xuất khẩu chè Việt Nam đứng thứ 8 trên thế giới về khối
lợng và kim ngạch xuất khẩu. Nhiều doanh nghiệp đã tự chủ động tìm kiếm
và trực tiếp tham gia thị trờng chè thế giới. Cả nớc xuất khẩu đợc 75 ngàn
tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 82,7 triệu USD, tăng 9,6% về lợng và 5,2% về
kim ngạch xuất khẩu so với năm 2001. Các thị trờng nhập khẩu chính chè
của Việt Nam là Irắc (chiếm 28% về kim ngạch), tiếp đến là Đài Loan
(19%), Liên bang Nga (4%), Nhật Bản (4%), Đức (4%)
Năm 2003, cả nớc xuất khẩu 59,8 ngàn tấn, đạt giá trị kim ngạch là
59,8 triệu USD so với năm 2002 bằng 79,7% về lợng và 72,3% về giá trị.
Nguyên nhân chính Việt Nam cũng nh một số nớc xuất khẩu chè khác đang
gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ nội tiêu cũng nh xuất khẩu. Cuộc chiến
Irắc đã ảnh hởng lớn tới xuất khẩu chè của Việt Nam. Ngoài Irắc, xuất khẩu
chè sang các nớc khác cũng giảm nh: Nga, Hồng Kông, Singgapore, Hà
Lan, Oxtraylia, Anh, Hàn Quốc, Hoa Kỳ và đặc biệt là ở thị trờng
Inđonêxia, các tiểu vơng quốc ả Rập thống nhất giảm hơn 50%. Mặc dù
xuất khẩu gặp nhiều khó khăn nhng có định hớng chuyển dịch, đa dạng và
mở rộng thị trờng nên đã chuyển phần lớn khối lợng dự kiến xuất khẩu vào
khoai tây). Trong đó đợc trồng phổ biến nhất ở Việt Nam là rau ăn lá. Rau
đợc trồng nhiều nhất ở ĐBSH chiếm 30,3%. ĐBSCL cũng là nơi trồng rau
quan trọng chiếm khoảng 27% sản lợng năm 2003. Đà Lạt thuộc tỉnh Lâm
Đồng chủ yếu chuyên canh về rau cao cấp phục vụ xuất khẩu và thị trờng
thành phố Hồ Chí Minh.
b. Tình hình xuất khẩu
Biểu 8.
Tình hình xuất khẩu rau quả 1992 - 2003
Năm Lợng xuất khẩu
(1000 tấn)
Kim ngạch xuất khẩu
(triệu USD)
1992 32,30
1993 23,60
1994 20,80
1995 56,10
1996 90,20
1997 71,20
1998 347 53,40
1999 920 104,90
2000 1912 213,56
2001 4771 329,87
2002 201,00
2003 151,5
Nguồn: Số liệu thống kê.
Từ năm 1996 đến nay, kim ngạch xuất khẩu rau quả của nớc ta có
nhiều khởi sắc, đạt tốc độ tăng bình quân 7,6%/năm. Duy nhất, trong thời
gian đó chỉ có năm 1998 đạt giá trị xuất khẩu tơng đối thấp ở mức 53,4
triệu USD là do hiện tợng El Ninno gây nắng kéo dài và hạn, năng suất và
chất lợng của nhiều loại quả giảm mạnh.
dạn: muối, đóng hộp, sấy khô, nớc quả, nghiền Mặc dù các chủng loại rau
quả xuất khẩu dới các dạng tơi và chế biến tuy tơng đối phong phú, nhng
cha hình thành đợc chủng loại rau quả nào có khối lợng xuất khẩu lớn vài
chục ngàn hoặc hàng trăm ngàn tấn/năm.
c. Kênh tiêu thụ rau quả
- Xuất khẩu chiếm 15-20% tổng sản phẩm: (trong đó 85-90% là rau
quả chế biến)
- Tỉ lệ hàng hoá trong tổng thu hoạch của quả là 74%; của rau là 63%.
* Nhận xét:
- Tiêu thụ chủ yếu rau quả tơi, tỉ lệ chế biến thấp, trình độ chế biến
cha cao
- Công nghệ bảo quản, vận chuyển hoa quả tơi cũng lạc hậu, thiếu
thốn (mới có 17% nhà kinh doanh sử dụng xe lạnh vận chuyển sản phẩm.
- Tại các đô thị lớn việc buôn bán rau quả tơi thờng tập trung tại chợ
đầu mối, trong chợ các chủ vựa nắm quyền phân phối sản phẩm cho hệ
thống bán lẻ.
- Rau quả chủ yếu tiêu dùng tơi sống, sản phẩm lại có thời vụ nên
giá rau quả biến động lớn và thờng xuyên gặp cảnh đợc mùa mất giá
hoặc ngợc lại đợc giá mất mùa
- Sản xuất phân tán, manh mún, sản phẩm kém chất lợng lại không
đồng đều, đồng loại. Thông tin thị trờng trong, ngoài nớc rất thiếu. Kinh
doanh theo kiểu thu gom hàng có sẵn không có kế hoạch hợp đồng đặt
hàng với số lợng lớn.
- Quan hệ giữa sản xuất và chế biến rất khập khễnh, tình trạng ăn tơi
thì thừa, nhng nhà máy chế biến lại thiếu nguyên liệu.
- Điểm yếu rõ nhất của ngành rau quả VN là công nghệ sau thu
hoạch cha phát triển, mức độ liên kết giữa các khâu sản xuất, các ngành,
các cấp, các địa phơng và các doanh nghiệp còn yếu. Đó là cha kể tới các
yếu tố nh kế hoạch và chuyên môn hóa cha cao, chất lợng sản phẩm và việc
kiểm tra chất lợng cha đồng đều. Cuối cũng là yếu tố thị trờng, kỹ thuật
chi tiêu ăn uống trong chi tiêu cho đời sống ở thành thị là 52%, trong khi ở
nông thôn là 60%, của nhóm hộ giàu nhất là 50% trong khi nhóm hộ nghèo
nhất là 70%.
Mức chi cho lơng thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng trên 40% chi tiêu
cho đời sống; năm 1997 - 1998 là 40,23%, năm 2001 - 2002 là 43,21%
(trong đó, ở vùng thành thị là 34,89%, ở vùng nông thôn là 48,71%).
Theo kết quả khảo sát Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp,
hiện nay gần 22% bình quân chi tiêu cho ăn uống của các hộ gia đình là tự
túc, còn lại là mua, đổi, tỷ lệ này thay đổi theo từng vùng, những vùng có
tỷ lệ tự túc cao là vùng Tây Bắc (51,6%), Đông Bắc (43,1%), Bắc Trung Bộ
(34,7%), một số vùng tiêu dùng chủ yếu thông qua thị trờng nên tỷ lệ này
thấp hơn nh vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ (17,8%), ĐBSCL (16,3%),
Đông Nam Bộ (4,7%). Nh vậy, lợng cầu về lơng thực, thực phẩm giao dịch
trên thị trờng bình quân trên cả nớc chỉ chiếm cha đến 80% và có sự khác
nhau giữa các vùng, tuy nhiên tỷ lệ này đã tăng so với mức 75% năm 1997
- 1998. Điều đó chứng tỏ rằng thị trờng các mặt hàng nông sản trong nớc
đã và đang đợc mở rộng.
Mức tiêu thụ nông sản trong nớc phát triển theo hớng cơ cấu bữa ăn
hợp lý, cải thiện chất lợng nh: giảm dần số lợng tiêu thụ lơng thực, tăng dần
mức tiêu dùng các mặt hàng có giá trị dinh dỡng cao. Cũng theo số liệu
điều tra của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp theo các vùng, trung
bình mức tiêu dùng gạo bình quân đầu ngời 1 tháng giảm từ 12,5 kg năm
1997 - 1998 xuống còn 12 kg năm 2003, trong đó khu vực thành thị giảm
từ 10kg xuống còn 9,6 kg, khu vực nông thôn từ 13,2 kg xuống 12,8 kg.
Trong khi đó, lợng tiêu thụ bình quân đầu ngời 1 tháng các mặt hàng thịt,
đờng, sữa, tăng lên với mức tiêu thụ nh sau: 1,28 kg thịt các loại; 0,41 kg
đờng sữa
Nhờ có các chính sách lu thông thông thoáng, giảm bớt các thủ tục
phiền hà trong kinh doanh, khuyến khích sự tham gia của mọi thành phần
kinh tế, việc tiêu thụ nông sản trong nớc ngày càng đợc cải thiện. Giá cả
bình quân đầu ngời tính theo tháng năm 1993, 1999 và 2001 - 2002 ở khu
vực thành thị tơng ứng gấp 2,34; 2,30 và 2,26 lần khu vực nông thôn. Theo
Tổng Cục Thống Kê, mức chi tiêu bình quân đầu ngời ở thành phố năm
1997 - 1998 là 434,2 ngàn đồng/ngời/tháng, gấp 3,26 lần so với mức chi
tiêu của ngời nông dân nông thôn (192,1 ngàn đồng/ngời/tháng); năm
2002, mức chi tiêu ở khu vực nông thôn bình quân đạt 211 ngàn đồng/ng-
ời/tháng (tăng 9,8% so với năm 1997 - 1998) trong khu khu vực thành thị
đạt 461 ngàn đồng/ngời/tháng (tăng 6,2% so với năm 1997 - 1998 và gấp
2,2 lần khu vực nông thôn). Hơn nữa, so với vùng nông thôn, hệ thống kinh
doanh trên thị trờng các thành phố với số lợng các trung tâm thơng mại,
siêu thị, cửa hàng tự chọn ngày càng tăng, lợng hàng hoá phong phú, ph-
ơng thức phục vụ ngày càng văn minh có nhiều u việt hơn cũng là
nguyên nhân làm tăng mức tiêu thụ hàng hoá, trong đó có hàng nông sản.
Ngời dân thành thị chủ yếu mua hàng hoá trên thị trờng, tỷ trọng mức mua,
đổi trong tổng chi tiêu ăn uống ở vùng thành thị khoảng 96% trong khi tỷ
trọng này chỉ trên 68% ở vùng nông thôn.
Các thành phố lớn thờng có mức thu nhập bình quân đầu ngời cao:
TP Hồ Chí Minh (904,13 ngàn đồng/ngời/tháng), Hà Nội (620,98 ngàn
đồng/ngời/tháng), Đà Nẵng (462,58 ngàn đồng/ngời/tháng), Hải Phòng
(410,16 ngàn đồng/ngời/tháng), nên mức tiêu dùng cao hơn hẳn so với
khu vực nông thôn. Mức chi tiêu cho đời sống bình quân đầu ngời 1 tháng
tơng ứng với từng thành phố là: 665,98 ngàn đồng, 518,03 ngàn đồng,
422,81 ngàn đồng, 319,75 ngàn đồng (Theo Kết quả điều tra năm 2002
của TCTK).
Nhu cầu và cơ cấu lơng thực thực phẩm cho thị trờng thành phố đòi
hỏi ngày càng cao về chất lợng, chủng loại, tính đa dạng, tính sẵn có và
tính thuận tiện phù hợp với lối sống công nghiệp. Theo kết quả cuộc điều
tra nói trên, có thể thấy sự khác biệt khá rõ về mức tiêu thụ bình quân đầu
ngời đối với một số mặt hàng lơng thực, thực phẩm giữa hai vùng thành thị
và nông thôn:
2002 thu nhập của 1 ngời dân nông thôn là 3.300 ngàn đồng/năm, tăng
22,3% so với năm 1999, tốc độ tăng nhanh hơn khu vực thành thị.
Đồng thời với việc tăng thu nhập, mức chi tiêu cho đời sống cũng
tăng lên. Mức chi tiêu bình quân đầu ngời dân nông thôn là 211 ngàn
đồng/ngời/tháng (2.532 ngàn đồng/năm), chiếm 76,7% thu nhập.
Ngời dân nông thôn chủ yếu có tập quán tiêu dùng nông lâm sản tơi,
cha qua chế biến, yêu cầu chất lợng không quá khắt khe. Do thu nhập thấp,
họ thờng theo hớng "ăn chắc, mặc bền", tiêu thụ lơng thực là chính, do đó
mức tiêu thụ phần lớn các mặt hàng (trừ gạo) của dân nông thôn thờng thấp
hơn so với ngời dân thành thị. Trừ những ngời sản xuất phi nông nghiệp
(công nghiệp chế biến, làng nghề, ) còn hầu hết những ngời nông dân th-
ờng tự sản tự tiêu, chỉ mua một số ít hàng hoá thiết yếu.
Với chủ trơng và chính sách của Đảng và Chính phủ phát triển kinh
tế hộ gia đình và kinh tế trang trại, ngời nông dân từng bớc làm quen với
sản xuất hàng hoá và cơ chế thị trờng. Nông thôn ngày càng có nhiều đổi
mới, song so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc thì kinh tế nông nghiệp, nông thôn vẫn còn nhiều yếu kém và thách
thức, đặc biệt đối với vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hoá.
Nhìn chung, thị trờng nông thôn còn kém phát triển, hoạt động thơng
mại kém năng động, nguồn cung không ổn định nên giá cả nông sản thờng
biến động mạnh (khi vào vụ thu hoạch giá thờng giảm mạnh, khi giáp hạt
lại tăng cao), ảnh hởng đến thu nhập và gây tâm lý bất an cho ngời nông
dân.
Hơn nữa, cơ cấu đầu t vào khu vực nông thôn chỉ mới nặng vào đầu
t sản xuất, cha chú trọng đến đầu t cơ sở hạ tầng thơng mại, dịch vụ. Cơ sở
hạ tầng thơng mại hàng nông sản nh chợ, cửa hàng hợp tác xã, kho tàng,
bến bãi, đờng giao thông, phơng tiện vận chuyển còn thiếu nhiều. Trừ
một số trung tâm thơng mại và chợ ở các thị trấn, thị tứ, hầu hết các chợ ở
nông thôn đều tạm bợ, quy mô nhỏ, cơ sở vật chất nghèo nàn; cha hình
thành đợc mạng lới liên kết, đồng bộ trong tiêu thụ hàng nông sản giữa các
trao đổi hàng hoá vừa là nơi giao lu văn hoá. Chính phủ đã và đang có
những chính sách nh: chơng trình 135; chính sách trợ giá, trợ cớc vận
chuyển một số mặt hàng thiết yếu; chính sách phát triển thơng mại miền
núi, giao cho các tỉnh quy hoạch phát triển hợp lý các chợ ở trung tâm cụm
xã thuộc khu vực miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc để cải thiện
đời sống đồng bào dân tộc miền núi, vùng sâu vùng xa. Tuy nhiên, dịch vụ
thơng mại trên địa bàn miền núi vẫn còn rất nghèo nàn, lạc hậu, cha thực sự
đáp ứng nhu cầu sinh sống của dân c.
II. Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ tiêu thụ nông sản
Biểu 11. Hệ thống chợ, siêu thị, trung tâm thơng mại
kinh doanh nông sản năm 2004
ĐVT: cái
Khu vực Chợ bán lẻ, bán buôn
(nhỏ hoặc hỗn hợp)
Chợ
đầu mối
Siêu thị, trung tâm thơng mại
ĐBSH 1.820 4 66
Đông Bắc 1.730 1 3
Tây Bắc 470
Bắc Trung Bộ 1.510 1 2
DHNTB 620 2
Tây Nguyên 450 1 1
ĐNB 530 11 74
ĐBSCL 1.140 2 2
TÔNG CÔNG 8.270 20 150
Nguồn: Viện Nghiên cứu Thơng Mại - Bộ Thơng Mại.
1. Hệ thống chợ
1.1. Chợ bán lẻ, bán buôn loại nhỏ hoặc hỗn hợp bán lẻ, bán buôn
- Số lợng: Năm 1995 cả nớc mới chỉ có hơn 4.000 chợ, đến năm 2004
Cả hai chợ đầu mối nông sản thực phẩm Thủ Đức và Hóc Môn đều đi
vào hoạt động từ cuối năm 2003 nhng doanh thu lại có sự khác nhau do cơ
cấu tổ chức và quy mô hoạt động khác nhau.
Riêng chợ đầu mối nông sản thực phẩm lớn nhất nớc là chợ Bình
Điền (quận 8) - do Tổng Công ty Thơng Mại Sài Gòn là chủ đầu t với diện
tích 65 ha, tổng vốn đầu t khoảng 1000 tỷ đồng đón nguồn hàng nông sản
thực phẩm từ các tỉnh miền Tây đang còn ở giai đoạn triển khai thi công.
Khi đi vào hoạt động, khu vực này sẽ tiếp nhận tiểu thơng từ 8 chợ đầu mối
nông sản thực phẩm còn lại trong nội thành di dời ra.
- Tại Hà Nội:Gần 3 năm kể từ khi khai trơng, chợ đầu mối nông sản
- thực phẩm Xuân Đỉnh (huyện Từ Liêm, Hà Nội) vẫn trong cảnh vắng
lặng. Các hộ kinh doanh chỉ trụ vài ngày rồi bỏ đi vì không buôn bán đợc.
Các chợ đầu mối Đền Lừ, Bắc Thăng Long, chợ Sóc Sơn hiện nay cũng
trong tình trạng vắng vẻ. Các chợ đầu mối ở Hà Nội đang gặp khó khăn bởi
quy hoạch có nhiều bất cập. Phần lớn chợ xây dựng từ năm 2000, không
phù hợp với tình hình phát triển kinh tế hiện nay.
Theo Sở Thơng Mại, hớng giải quyết thời gian tới là đa các chợ đầu
mối đủ điều kiện trở thành trung tâm thơng mại nh chợ Đền Lừ, chợ Xuân
Đỉnh và thành trung tâm bán buôn nhu chợ Bắc Thăng Long. Ngoài ra, Sở
sẽ khai thác chợ và tổ chức cho hộ kinh doanh tiếp xúc với UBND quận,
huyện chủ quản để đa ra phơng án tổ chức kinh doanh.
- Khu vực Bắc Miền Trung:
Bộ Thơng Mại, Bộ Kế hoạch và Đầu t đã phối hợp với Sở Thơng Mại
Nghệ An vừa khởi công xây dựng chợ đầu mối nông sản khu vực Bắc Miền
Trung, với tổng mức đầu t dự án giai đoạn I là 32 tỷ 173 triệu đồng. Dự kiến
tháng 4/2005 công trình này sẽ đi vào hoạt động.
Dự án do Sở Thơng Mại Nghệ An là chủ đầu t, có diện tích 7 ha tại xã
Nghi Long, huyện Nghi Lộc (Nghệ An) nằm phía Bắc thị trấn Quán Hành.
Chợ đầu mối nông sản Bắc Trung Bộ hoàn thành sẽ là loại hình chợ
hiện đại bán buôn với phơng thức sàn giao dịch trực tiếp cho ngời sản xuất