Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1. Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
Phần Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Nhu cầu bảo hộ từ xa tới nay luôn tồn tại trong mỗi quốc gia. Có thể nói nhu cầu này
là thiết yếu, bởi vì mỗi quốc gia dù mạnh hay yếu đều muốn xây dựng các ngành sản
xuất trong nớc vững mạnh và phát triển đồng đều. Bớc sang thế kỷ 21, khi mà tiến
trình toàn cầu hóa và khu vực hóa cũng đã đi đợc một chặng đờng khá dài với sự ra
đời của các tổ chức kinh tế nh WTO, EU, NAFTA, AFTA... với những quy tắc thống
nhất nhằm phát triển thơng mại quốc tế, vấn đề bảo hộ lại mang nhiều màu sắc của
thời kỳ mới.
Trong xu thế đó, Việt Nam đã nỗ lực hết mình để trở thành thành viên của ASEAN
(1995), ASEM (1996), APEC (1998) và hiện nay, chúng ta lại đang cố gắng đứng
vào hàng ngũ 147 nớc thành viên WTO để có thể hội nhập kinh tế một cách toàn
diện. Tuy nhiên, với một nền kinh tế mà sức cạnh tranh còn kém, nếu hội nhập, Việt
Nam hầu nh không thể bảo hộ đợc nhiều ngành sản xuất trong nớc, do phải áp dụng
một biểu thuế quan thống nhất và các quy tắc chung. Tất cả các biện pháp bảo hộ phi
thuế mà Việt Nam đang áp dụng chủ yếu thiên về biện pháp hạn chế số lợng mà hầu
nh sẽ phải xóa bỏ theo yêu cầu của WTO. Trong khi đó, những mặt hàng mà chúng
ta có lợi thế cạnh tranh nh hàng nông, thủy hải sản khi xuất khẩu ra nớc ngoài vẫn
phải chịu sự o ép của các quốc gia khác, với những điều khoản bảo hộ đợc viện dẫn
là phù hợp với các quy định của WTO (nh trờng hợp bị áp thuế chống bán phá giá cá
ba - sa xuất khẩu sang thị trờng Hoa Kỳ, hạn chế nhập khẩu tôm vào thị trờng EU do
vi phạm quy tắc an toàn thực phẩm...).
Trớc thực trạng đó, các biện pháp bảo hộ phi thuế mới, thích hợp trong quá trình đàm
phán gia nhập WTO, để làm sao vừa đạt đợc mục tiêu hội nhập vừa có thể đảm bảo
lợi ích quốc gia phải đợc nghiên cứu. Việc chuẩn bị và xây dựng một khung pháp lý
về các chính sách bảo hộ ngay từ bây giờ cũng không phải là sớm để chuẩn bị cho
một tơng lai xa sắp tới. Đó chính là lý do em chọn vấn đề: Hoàn thiện hệ thống
biện pháp bảo hộ phi thuế của Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO làm đề
tài khoá luận tốt nghiệp.
thống hàng rào phi thuế quan của Việt Nam trong tiến trình vận động và phát triển
của nền kinh tế, cũng nh trong quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách thơng mại của
Việt Nam.
- Phơng pháp thống kê, phân tích tổng hợp và so sánh để nêu bật những u nhợc điểm
của việc sử dụng hàng rào phi thuế quan của Việt Nam cũng nh những kinh nghiệm
áp dụng của một số nớc trong khu vực và thế giới để làm cơ sở cho việc đề xuất các
biện pháp hoàn thiện hệ thống các biện pháp bảo hộ phi thuế quan của Việt Nam
trong tiến trình gia nhập WTO.
5. Cấu trúc của khoá luận
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Tú Anh - K47 Quốc tế học
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1. Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận bao gồm 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế.
Chơng 2: Thực trạng áp dụng các biện pháp bảo hộ phi thuế quan của Việt Nam
trong tiến trình hội nhập.
Chơng 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống các biện pháp bảo hộ phi thuế quan của
Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO.
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Tú Anh - K47 Quốc tế học
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1. Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
Chơng I
Khái quát về hàng rào phi thuế quan
trong thơng mại quốc tế
Khái niệm và sự cần thiết của hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
Chính sách thơng mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, biện pháp và các
công cụ mà các quốc gia sử dụng nhằm điều chỉnh các hoạt động ngoại thơng phù
hợp với các lợi thế quốc gia nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho nớc mình. Khi tham
(PECC) đã nhận xét: Hàng rào phi thuế quan là mọi công cụ phi thuế quan can
thiệp vào thơng mại, bằng cách này làm biến dạng sản xuất trong nớc [ 16, tr 11].
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OEDC) năm 1997 cũng đa ra một định
nghĩa khác: Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp biên giới nằm ngoài phạm
vi thuế quan có thể đợc các quốc gia sử dụng, thông thờng dựa trên cơ sở lựa chọn,
nhằm hạn chế nhập khẩu [ 16, tr 11].
ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu, các nhà kinh tế thờng sử dụng khái
niệm về hàng rào phi thuế quan của Bộ Thơng Mại: Ngoài thuế quan ra, tất cả các
biện pháp khác, dù là theo quy định pháp lý hay tồn tại trên thực tế, ảnh hởng đến
mức độ và phơng hớng nhập khẩu đợc gọi là các hàng rào phi thuế quan [4,tr 293]
Tóm lại, khái niệm hàng rào phi thuế quan rất phong phú, tuỳ thuộc vào góc độ
nghiên cứu hay mục đích áp dụng mà ngời ta sử dụng khái niệm cho phù hợp.
b. Phân loại
Có nhiều cách phân loại hàng rào phi thuế quan. Chẳng hạn, trong cuốn Cạnh
tranh trong thơng mại quốc tế của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, toàn bộ hệ
thống hàng rào phi thuế quan trên thế giới nhìn chung có thể chia thành 5 nhóm sau:
Nhóm1: Những việc Chính phủ thờng tham gia để hạn chế thơng mại.
Nhóm 2: Các biện pháp hạn chế nhập khẩu có tính chất hành chính và do hải
quan thực hiện.
Nhóm 3: Hàng rào có tính chất kỹ thuật đối với thơng mại.
Nhóm 4: Hạn chế đặc thù, nh hạn chế cấp phép nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu,
quy chế về giá trong nớc.
Nhóm 5: Lệ phí nhập khẩu, nh tiền ký quỹ, thuế điều tiết nhập khẩu, hạn chế
cho vay có tính chất phân biệt đối xử....
Hoặc trong cuốn sách Thơng mại quốc tế và an ninh lơng thực của Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia năm 2001, hàng rào phi thuế quan đợc phân loại nh sau:
- Hạn ngạch (quota) tức hạn chế số lợng một mặt hàng nhất định có thể cho
phép nhập (có khi chỉ quy định đối với một nớc nào đó, chẳng hạn xe ô tô của Nhật
bán sang Mỹ).
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Tú Anh - K47 Quốc tế học
chế nhập khẩu. Trong suốt những thế kỷ qua, bên cạnh việc áp dụng các biện pháp
thuế quan tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nớc, các quốc gia cũng áp dụng nhiều
biện pháp bảo hộ phi thuế nh hạn chế nhập khẩu, quản lý ngoại hối để bảo vệ sản
xuất trong nớc.
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Tú Anh - K47 Quốc tế học
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1. Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
Bắt đầu từ giữa thế kỷ 20, xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa lan nhanh, các quốc
gia đều thấy đợc lợi ích và tầm quan trọng của xu thế này và hầu nh đều chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế. Hàng loạt các tổ chức kinh tế quốc tế ra đời nh Cộng đồng
kinh tế chung Châu Âu (EU), Tổ chức thơng mại thế giới (WTO), Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN. Trong đó, WTO là tổ chức có quy mô lớn nhất, có tầm ảnh hởng rộng
nhất. WTO khuyến khích tự do hóa thơng mại quốc tế và yêu cầu dỡ bỏ các hàng rào
phi thuế quan. Về căn bản, so với giai đoạn trớc, các biện pháp bảo hộ phi thuế quan
đã đợc cắt giảm rất nhiều, nhng do những ích lợi và hiệu quả của biện pháp này mà
hiện nay nó vẫn đợc tất cả các quốc gia trên thế giới áp dụng dới hình thức này hay
hình thức khác.
Do trình độ phát triển giữa các quốc gia trên thế giới không đồng đều, chất lợng
hàng hóa, dịch vụ và giá cả giữa nớc này với nớc khác có sự khác biệt lớn. Vì vậy,
các nớc thờng có xu hớng phân công lao động để tập trung nguồn lực sản xuất những
mặt hàng mà mình có lợi thế hơn. Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng dễ dàng
chấp nhận từ bỏ một mặt hàng đang có u thế hoặc có tiềm năng phát triển để chuyển
sang sản xuất một mặt hàng khác, chính điều này làm phát sinh nhu cầu bảo hộ. Ví
dụ: Trung Quốc duy trì mức bảo hộ rất cao cho ngành công nghiệp ô tô, mặc dù họ
không có lợi thế để sản xuất mặt hàng này nh Hoa Kỳ và Nhật Bản, ngợc lại Nhật
Bản lại duy trì bảo hộ cao với ngành nông nghiệp. Thực tế này có thể do nhiều
nguyên nhân:
Thứ nhất, có thị trờng quốc tế tức là có sự trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia.
Giả sử một quốc gia không có lợi thế để sản xuất một mặt hàng nào đó, nếu để nó
do hóa thơng mại luôn song hành cùng với nhu cầu bảo hộ trong những điều kiện
nhất định. Tự do hóa không phải là một khái niệm mang tính tuyệt đối. Do mỗi
quốc gia có trình độ phát triển khác nhau, xuất phát điểm với quá trình hội nhập khác
nhau, mục tiêu kinh tế, chính trị không đồng nhất nên việc áp dụng các chính sách
thơng mại với nội dung bảo hộ hay tự do hóa là khác nhau. Nhu cầu bảo hộ không
chỉ với những nớc đang phát triển mà ngay cả đối với những nớc phát triển.
Bảo hộ phi thuế là cần thiết xét trên yếu tố cạnh tranh quốc gia và phân
phối nguồn lực
Do vị thế của các quốc gia trên thế giới là không giống nhau và lợi thế so sánh
cũng khác nhau, nên trong quá trình tự do hóa thơng mại, các quốc gia thờng nảy
sinh mâu thuẫn về lợi ích. Điều này làm cho các chính sách tự do hóa thơng mại bị
cản trở, chủ yếu xuất phát từ sự kém hiệu quả trong phân phối nguồn lực và thất bại
của thị trờng trong nớc. Giả sử dới tác động của tự do hóa thơng mại, khu vực sản
xuất có hiệu quả nh ngành điện tử có cơ hội mở rộng quy mô sản xuất; nhng đồng
thời, các doanh nghiệp kém hiệu quả sẽ giảm dần quy mô nh ngành mía đờng. Tuy
nhiên, nhà đầu t không thể chuyển hớng kinh doanh từ ngành mía đờng sang các
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Tú Anh - K47 Quốc tế học
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1. Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
ngành khác (ví dụ điện tử) và ngời lao động trong ngành mía không thể sang làm
trong ngành điện tử, nên sự chuyển đổi vốn đầu t và lao động không thể diễn ra một
cách bình thờng mà ngợc lại đã làm tăng đội ngũ thất nghiệp, bán thất nghiệp và gây
đình trệ sản xuất, kinh doanh.
Lợi ích của tự do thơng mại là rõ ràng; tuy nhiên, thực tế quá trình chuyển đổi
sản xuất và phân phối lại nguồn lực nhằm đáp ứng quá trình chuyên môn hóa ở các
quốc gia lại không xảy ra dễ dàng. Điều này làm phát sinh nhu cầu bảo hộ sản xuất
trong nớc của các quốc gia trớc sức ép của tự do hóa thơng mại.
1.1.3. Mục đích của bảo hộ phí thuế quan
Mục đích của bảo hộ phi thuế quan trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế đối
Một là, hàng rào phi thuế quan rất phong phú về hình thức: nhiều biện pháp phi
thuế khác nhau có thể đáp ứng cùng một mục tiêu, áp dụng cho cùng một mặt hàng.
Các biện pháp phi thuế trong thực tế rất phong phú về hình thức nên tác động,
khả năng và mức độ đáp ứng mục tiêu của chúng cũng rất đa dạng. Do đó, nếu sử
dụng biện pháp phi thuế để phục vụ một mục tiêu đề ra thì có thể có nhiều sự lựa
chọn, kết hợp nhiều biện pháp hơn mà không bị gò bó trong khuôn khổ một công cụ
duy nhất nh thuế quan. Ví dụ: để nhằm hạn chế nhập khẩu phân bón, có thể đồng
thời áp dụng các biện pháp hạn ngạch nhập khẩu, cấp giấy phép nhập khẩu không tự
động, đầu mối nhập khẩu, phụ thu nhập khẩu.
Hai là, hàng rào phi thuế quan đáp ứng nhiều mục tiêu
Mỗi quốc gia thờng theo đuổi nhiều mục tiêu trong chính sách kinh tế, thơng
mại của mình. Các mục tiêu đó có thể là: 1) Bảo hộ sản xuất trong nớc, khuyến khích
phát triển một số ngành nghề; 2) Bảo vệ an toàn sức khỏe con ngời, động thực vật,
môi trờng; 3) Hạn chế tiêu dùng; 4) Đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán; 5) Bảo
đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, v.v...
Bằng một biện pháp phi thuế có thể đồng thời đáp ứng nhiều mục tiêu mà đem
lại hiệu quả cao. Ví dụ: quy định về vệ sinh kiểm dịch đối với nông sản nhập khẩu
vừa đảm bảo an toàn sức khỏe con ngời, động thực vật lại vừa gián tiếp bảo hộ sản
xuất nông nghiệp trong nớc một cách hợp pháp. Hay cấp phép không tự động đối với
dợc phẩm nhập khẩu vừa giúp bảo hộ ngành dợc nội địa, dành đặc quyền cho một số
đầu mối nhập khẩu nhất định, quản lý chuyên ngành một mặt hàng quan trọng đối
với sức khỏe con ngời.
Ba là, việc bảo hộ sản xuất trong nớc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
bằng hàng rào phi thuế quan tơng đối thuận lợi vì nhiều biện pháp phi thuế quan cha
bị cam kết ràng buộc cắt giảm hay loại bỏ. Hiện nay, các hiệp định của WTO chỉ
mới điều chỉnh việc sử dụng một số biện pháp phi thuế nhất định. Trong đó, tất cả
các biện pháp phi thuế hạn chế định lợng
1
đều không đợc phép áp dụng, trừ trờng
1
doanh hiệu quả trong trung hạn và dài hạn của ngời sản xuất bị hạn chế.
Hiệu quả mà các biện pháp phi thuế quan đem lại thờng rất lớn nhng lại khó
có thể đợc lợng hoá rõ ràng nh tác động của thuế quan. Nếu mức bảo hộ thông qua
thuế quan đối với một sản phẩm có thể xác định đợc một cách dễ dàng thông qua
mức thuế suất đánh lên sản phẩm đó thì mức độ bảo hộ thông qua biện pháp phi thuế
quan là tổng mức bảo hộ của các biện pháp phi thuế quan riêng rẽ áp dụng cho cùng
tự động v.v... gây cản trở, bóp méo thơng mại và thờng bị coi là các Hàng rào phi thuế (NTBs).
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Tú Anh - K47 Quốc tế học
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1. Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
một sản phẩm. Bản thân mức độ bảo hộ của mỗi biện pháp phi thuế quan cũng chỉ
có thể đợc ớc lợng một cách tơng đối chứ không thể lợng hoá rõ ràng nh biện pháp
thuế quan. Cũng vì mức độ bảo hộ của các biện pháp phi thuế không dễ xác định nên
rất khó xây dựng một lộ trình tự do hoá thơng mại nh với bảo hộ chỉ bằng thuế quan.
Thứ hai là hàng rào phi thuế quan gây khó khăn và tốn kém trong quản lý. Vì
khó dự đoán nên khi sử dụng các hàng rào phi thuế, nhà nớc thờng tiêu tốn nhân lực
và phải trả một khoản chi phí khá cao để duy trì hệ thống điều hành, kiểm soát.
Không chỉ có vậy, một số NTBs lại thuộc thẩm quyền và phạm vi quản lý của nhiều
cơ quan với những mục tiêu khác nhau, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, nên có thể gây
ra khó khăn cho các nhà hoạch định chính sách. Một khó khăn khác trong việc quản
lý các NTB đó là sự xuất hiện của những NTB bị động. Những NTB bị động đó chính
là sự quan liêu trong bộ máy quản lý thơng mại, năng lực thấp của các nhân viên hải
quan, các văn bản pháp lý không đợc công bố công khai,v.v Vẫn biết rằng những
NTB này là do sự chủ quan của con ngời nhng đó lại đang là một thực tế mà các nhà
hoạch định chính sách phải đối mặt và tìm cách khắc phục. Tuy nhiên, để khắc phục
đợc tình trạng này đòi hỏi phải có sự phối hợp thực hiện đồng bộ của các cấp, bộ
ngành có liên quan.
Thứ ba, việc sử dụng hàng rào phi thuế quan nhằm hạn chế nhập khẩu, bảo hộ
sản xuất trong nớc không đem lại nguồn thu tài chính trực tiếp nào cho nhà nớc mà
quốc tế và mới có điều kiện để ổn định xây dựng sản xuất trong nớc hớng theo mô
hình toàn cầu hóa, chuyên môn hóa. Gia nhập vào WTO tức là khẳng định tinh thần
hợp tác, cởi mở, mong muốn tham gia vào xu thế hội nhập chung. Ngoài ra, chúng ta
còn có căn cứ để bảo vệ lợi ích và quyền lợi của mình, tránh đợc sự o ép của các
quốc gia mạnh hơn. Bởi vậy, mục tiêu gia nhập vào WTO là một chủ trơng đúng đắn
của Đảng và Nhà nớc nhằm đa kinh tế đất nớc tiến lên.
Tuy nhiên, các quy tắc của WTO tơng đối khắt khe và không phải quốc gia nào
cũng áp dụng dễ dàng, nhất là với những nền kinh tế mà năng lực cạnh tranh còn
thấp nh Việt Nam. Để đạt mục tiêu gia nhập tổ chức này, chúng ta không còn cách
nào khác là phải xây dựng ngay hệ thống pháp lý điều chỉnh các hành vi thơng mại
quốc tế phù hợp với các quy định của WTO. Các biện pháp bảo hộ sản xuất trớc kia
không còn phù hợp phải loại bỏ và thay vào đó là sử dụng các biện pháp khác phù
hợp với các quy định và chuẩn mực của WTO.
Vấn đề này đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ về những bất cập trong mối quan hệ giữa
bảo hộ và hội nhập; kinh nghiệm xử lý của các quốc gia; cũng nh hệ thống pháp lý
điều chỉnh các nội dung này của WTO.
1.2.2. Quy định về sử dụng Hạn ngạch
Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của Nhà nớc về số lợng hoặc giá trị của một
mặt hàng nào đó đợc nhập khẩu từ một thị trờng nào đó trong một thời gian nhất
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Tú Anh - K47 Quốc tế học
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1. Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
định (thờng là 1 năm). Hạn ngạch nhập khẩu là một loại rào cản thơng mại ở mức độ
thấp. Tác động của nó không đợc minh bạch, thu nhập hay lợi tô sẽ rơi vào tay những
ngời nắm giữ hạn ngạch u đãi, mức độ bảo hộ không rõ ràng và sự cách ly khỏi thị
trờng có thể ở mức tuyệt đối. Tuy nhiên, với đặc điểm riêng của mình, hạn ngạch
nhập khẩu khi đợc áp dụng sẽ có vai trò nhất định trong chính sách bảo hộ thông qua
quản lý nhập khẩu của một quốc gia.
Hạn ngạch nhập khẩu làm cho số lợng nhập khẩu của hàng hoá chịu sự quản lý
sự đe doạ sắp xảy ra hay để chặn lại sự thiếu hụt nghiêm trọng dự trữ tiền tệ, hoặc
trong trờng hợp một nớc thành viên có dự trữ tiền tệ rất thấp, để nâng dự trữ tiền tệ
lên một mức hợp lý.[10, tr 97]
Điều đó có nghĩa là, các nớc thành viên có thể hạn chế số lợng hoặc giá trị
hàng hoá nhập khẩu, nhng mức độ hạn chế không đợc vợt quá mức cần thiết để đề
phòng hoặc ngăn chặn nguy cơ dự trữ tiền tệ giảm mạnh. Đối với những nớc có dự
trữ tiền quá mỏng thì mức độ hạn chế không đợc vợt quá mức cần thiết để tăng dự trữ
một cách hợp lý. Đồng thời, WTO cũng yêu cầu các quốc gia thành viên khi thi hành
chính sách trong nớc phải có nghĩa vụ cân đối thu chi quốc tế lâu dài, tránh sử dụng
tài nguyên một cách phi kinh tế, phải tận dụng mọi khả năng để mở rộng thơng mại
quốc tế.
Các nớc đang phát triển có thể áp dụng các biện pháp hạn chế số lợng trong ch-
ơng trình trợ giúp của Chính phủ để thúc đẩy kinh tế phát triển, hạn chế để bảo vệ thị
trờng và một số ngành công nghiệp cụ thể. Sự hỗ trợ của chính phủ, đặc biệt là chính phủ các
nớc có mức sống thấp, mức tăng trởng thấp, sẽ giúp ích cho việc thực hiện các tôn chỉ của
WTO. Vì vậy, WTO cho phép các nớc này đợc áp dụng các biện pháp hạn chế số lợng hoặc
giá trị hàng nhập khẩu để kiểm soát mức nhập khẩu, nhằm thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế của nớc mình.
Ngoài ra, WTO còn quy định các ngoại lệ chung đợc áp dụng cho việc hạn chế
số lợng hàng hoá xuất nhập khẩu, khi chính phủ thấy cần thiết để bảo vệ: đạo đức xã
hội, con ngời và động thực vật; tài sản quốc gia về nghệ thuật, lịch sử hay khảo cổ;
tài nguyên thiên nhiên khan hiếm và liên quan đến xuất nhập khẩu vàng và bạc, với
điều kiện là các biện pháp này phải thực hiện kèm theo việc hạn chế sản xuất hay
tiêu dùng nội địa liên quan đến chúng.
Tuy nhiên, WTO cũng yêu cầu các quốc gia thành viên khi áp dụng biện pháp
hạn ngạch để hạn chế nhập khẩu phải cam kết tránh gây ra tổn thất không cần thiết
cho quyền lợi kinh tế và thơng mại của các nớc thành viên khác. Khi tình hình kinh
tế trong nớc đã đợc cải thiện, WTO yêu cầu các quốc gia thành viên phải dần dần nới
lỏng các hạn chế, chỉ duy trì các hạn chế đó ở mức độ cần thiết, còn khi tình hình
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Tú Anh - K47 Quốc tế học
hay thay đổi các thủ tục hiện tại, các thành viên phải thông báo theo những quy định
cụ thể cho WTO. Việc xét đơn nhập khẩu cũng phải tuân thủ các quy định chặt chẽ.
Điều 1, Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu quy định chi tiết nh sau:
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Tú Anh - K47 Quốc tế học
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1. Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
Cấp phép nhập khẩu đợc hiểu là các thủ tục hành chính đợc sử dụng để thực
hiện chế độ cấp phép nhập khẩu, yêu cầu phải nộp đơn xin nhập khẩu hoặc các loại
giấy tờ khác (không liên quan đến mục đích Hải quan) cho các cơ quan hành chính
thích hợp nh là điều kiện tiên quyết để đợc phép nhập khẩu. [10, tr 106]
Các thành viên của WTO phải đảm bảo rằng những thủ tục hành chính để thực
hiện chế độ cấp phép nhận khẩu không đợc bóp méo thơng mại do việc sử dụng không
thích hợp các thủ tục đó. Các quy định đối với thủ tục cấp phép nhập khẩu phải đợc áp
dụng trung lập và đợc quản lý theo một cách thức công bằng và hợp lý. WTO cũng quy
định rằng mọi thông tin và quy định liên quan đến thủ tục nộp đơn xin giấy phép nhập khẩu
nh tiêu chuẩn của nhà nhập khẩu, cơ quan tiếp nhận, danh mục hàng hóa phải đợc công bố
sao cho Chính phủ các nớc và các nhà kinh doanh có thể nắm bắt đợc. Nếu điều kiện cho
phép, các thành viên phải thông báo công khai các thông tin trên trong thời hạn 21 ngày tr-
ớc khi các quy định và yêu cầu có hiệu lực, tuy nhiên trong mọi trờng hợp không đợc muộn
hơn ngày có hiệu lực. Tất cả các trờng hợp ngoại lệ hoặc thay đổi quy định liên quan đến
thủ tục cấp phép nhập khẩu hay danh mục các mặt hàng phải đợc công bố theo cách thức
và trong cùng thời hạn nói trên.
Ngoài ra, WTO cũng quy định rằng ngời có giấy phép có quyền tiếp cận nguồn
ngoại hối cần thiết để thanh toán hàng nhập khẩu cần giấy phép theo cùng điều kiện
đối với các nhà nhập khẩu hàng không cần giấy phép.
b. Các trờng hợp cấp phép nhập khẩu trong WTO
Theo WTO, thủ tục cấp phép nhập khẩu đợc chia thành 2 trờng hợp:
- Thủ tục cấp phép nhập khẩu tự động: WTO quy định tất cả những ngời, cơ
quan hoặc tổ chức đáp ứng đầy đủ yêu cầu pháp lý của thành viên nhập khẩu về việc
thành lập Uỷ ban về cấp phép nhập khẩu. Uỷ ban này tạo các cơ hội thơng lợng để
thúc đẩy việc thực hiện các quy định này của các nớc thành viên. Khi ban hành hoặc
thay đổi thủ tục cấp phép nhập khẩu, các thành viên phải thông báo cho Uỷ ban
trong vòng 60 ngày kể từ ngày công bố việc ban hành hay thay đổi đó.
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Tú Anh - K47 Quốc tế học
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1. Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
1.2.4. Quy định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng
a. Những quy định chung
Trong thơng mại thế giới, buôn bán công bằng và ngay thẳng là điều kiện quan
trọng để thúc đẩy tự do hoá thơng mại, góp phần bảo đảm sự ổn định và minh bạch
trong thơng mại. Thoả thuận về trợ cấp và chống trợ cấp đã đạt đợc trong thời kỳ
GATT, sau đó Hiệp định này đã tiếp tục đợc sửa đổi, hoàn thiện và cấu thành nên hệ
thống pháp lý của WTO ngày nay. Không giống nh Hiệp định tiền nhiệm, Hiệp định
mới về trợ cấp của WTO chứa đựng định nghĩa về trợ cấp và đa ra khái niệm về trợ
cấp đặc thù hay còn gọi là trợ cấp riêng. Chỉ các trợ cấp đặc thù hay trợ cấp riêng
mới chịu sự điều chỉnh bởi các nguyên tắc đợc quy định trong hiệp định này.
Trợ cấp xảy ra khi một số lợi ích đợc chuyển giao nhờ có sự hỗ trợ của chính
phủ về giá hay thu nhập, hay có sự đóng góp tài chính của chính phủ cũng nh các tổ
chức công cộng, chẳng hạn nh chuyển giao trực tiếp các khoản tiền hay bảo lãnh tín
dụng; hoặc bỏ qua các khoản tiền lẽ ra phải thu cho ngân sách nhà nớc, chẳng hạn
nh các u đãi về thuế (trừ thuế gián thu); hoặc chính phủ cung cấp hàng hoá và dịch
vụ không thuộc nhóm cơ sở hạ tầng, hay thông qua việc mua hàng hoá.
Hiệp định cũng quy định trợ cấp riêng là loại trợ cấp chỉ dành cho một ngành
hoặc một số ngành, một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp nhất định, và các
cơ quan có thẩm quyền hay các văn bản pháp luật không chỉ ra một cách rõ ràng,
công khai các tiêu chuẩn khách quan để đạt đợc trợ cấp.
Trợ cấp áp dụng giới hạn cho các doanh nghiệp nhất định nằm trong một vùng
địa lý xác định thuộc phạm vi thẩm quyền của nhà chức trách cấp trợ cấp thì cũng
- Trợ cấp để bù cho các hoạt động kinh doanh thua lỗ của một doanh nghiệp,
trừ khi đó là một biện pháp nhất thời mang tính chất một lần và không lặp lại với
doanh nghiệp đó và đợc cấp chỉ thuần tuý để cho phép có thời gian tìm kiếm một giải
pháp lâu dài và tránh phát sinh một vấn đề xã hội gay gắt.
- Trực tiếp xoá nợ cho doanh nghiệp, ví dụ nh xoá một khoản nợ Nhà nớc hay
cấp kinh phí để thanh toán nợ.
Các nớc thành viên của WTO sẽ không đợc áp dụng một trong các loại trợ cấp
đã nêu ở trên. Nếu một thành viên của WTO chứng minh đợc rằng một nớc thành
viên khác đang áp dụng hay duy trì một khoản trợ cấp dẫn đến thiệt hại, làm vô hiệu
hoá, suy giảm hay gây phơng hại nghiêm trọng một ngành sản xuất của mình thì
thành viên này có quyền khiếu nại lên cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO. Nếu
cơ quan này xác định điều khiếu nại trên là đúng thì thành viên đang thực hành hay
duy trì trợ cấp phải rút bỏ ngay trợ cấp đó hoặc phải có những biện pháp thích hợp để
loại bỏ tác động có hại từ việc trợ cấp đó gây ra cho các thành viên khác. Nếu không,
cơ quan giải quyết tranh chấp cho phép bên khiếu nại có quyền thực hiện biện pháp
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Tú Anh - K47 Quốc tế học
26
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1. Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
đối kháng. Thuế đối kháng phải đợc đánh với mức thuế phù hợp với từng trờng hợp
và trên cơ sở không phân biệt đối xử.
Trợ cấp không thể đối kháng (trợ cấp có thể chấp nhận đợc): Đây là loại trợ cấp
không phải là trợ cấp riêng (quy định ở phần trên) hoặc cũng có thể là trợ cấp riêng
nhng liên quan tới các vấn đề sau:
- Hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu nh: chi phí nhân sự, chi phí công cụ,
thiết bị, đất đai nhà cửa sử dụng cho hoạt động nghiên cứu; chi phí t vấn và dịch vụ
hoàn toàn cho hoạt động nghiên cứu; chi phí bổ sung phụ trội phát sinh trực tiếp từ
hoạt động nghiên cứu; các chi phí điều hành khác phát sinh trực tiếp từ hoạt động
nghiên cứu.
- Trợ giúp cho các vùng khó khăn trên lãnh thổ của một nớc thành viên. Vùng
tắc này khi xảy ra hiên tợng bán phá giá.
a. Chống bán phá giá
Bán phá giá xảy ra khi một công ty xuất khẩu một sản phẩm với giá thấp hơn
giá thông thờng tại nớc sản xuất. Không phải khi nào bán phá giá cũng tạo ra cạnh
tranh không công bằng. Khi hành động bán phá giá gây thiệt hại nghiêm trọng cho
một ngành sản xuất của một thành viên, WTO cho phép thành viên đó đặt ra thuế
chống bán phá giá để khắc phục những thiệt hại do việc này gây ra. Tuy nhiên việc
áp dụng thuế chống bán phá giá phải tuân theo những thủ tục chặt chẽ và thờng rất
phức tạp.
b. Các biện pháp tự vệ
Khi một mặt hàng nhập khẩu nào đó tăng lên đột biến gây ra thiệt hại nghiêm
trọng cho một ngành sản xuất, WTO cho phép các thành viên bị thiệt hại có thể sử
dụng các biện pháp tự vệ tạm thời kể cả hạn chế định lợng để khắc phục thiệt hại do
nhập khẩu gây ra.
WTO quy định, một nớc chỉ có thể áp dụng các biện pháp tự vệ sau khi đã có
sự điều tra để xác định tổn hại nghiêm trọng của các nhà chức trách có thẩm quyền.
Hiệp định về các biện pháp tự vệ cũng chỉ rõ:
Tổn hại nghiêm trọng đợc hiểu là sự suy giảm toàn diện đáng kể tới vị trí
của ngành công nghiệp nội địa.
Đe doạ gây ra tổn hại nghiêm trọng đợc hiểu là tổn hại nghiêm trọng rõ
ràng sẽ xảy ra.
Trong quá trình điều tra, việc xác định liệu một hàng hoá nhập khẩu có gây ra
hoặc đe doạ gây ra tổn hại nghiêm trọng cho sản xuất nội địa phải dựa trên cơ sở
thực tế (chứ không chỉ là sự phỏng đoán, viện dẫn hay khả năng xa).
Việc áp dụng biện pháp tự vệ: WTO cho phép các nớc thành viên đợc áp dụng
các biện pháp tự vệ chỉ ở mức độ cần thiết để ngăn chặn hoặc khắc phục những tổn
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Tú Anh - K47 Quốc tế học
28
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1. Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
b. Rào cản kỹ thuật trong thơng mại
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Tú Anh - K47 Quốc tế học
29
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1. Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
Theo Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thơng mại, các nớc thành viên WTO
phải tuân thủ các yêu cầu sau:
- Các tiêu chuẩn hớng dẫn và khái niệm của các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế nh
ISO, CODEX, IEC... phải đợc dùng làm căn cứ để thực hiện ở các quốc gia trừ khi
các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan hoặc một phần nào đó của các tiêu chuẩn này là
các cách thức không có hiệu quả hoặc không phù hợp cho việc thực hiện các mục
tiêu hợp pháp đang đeo đuổi, ví dụ nh các yếu tố căn bản về khí hậu hoặc địa lý hoặc
các vấn đề cơ bản về công nghệ.
- Quá trình xây dựng và ban hành phải theo hình thức mà các tổ chức quốc tế
đã hớng dẫn.
- Các thành viên sẽ tích cực xem xét để chấp nhận các quy định kỹ thuật tơng
ứng của các thành viên khác nếu nh các thành viên đó thấy rằng các quy định này
đáp ứng đầy đủ mục tiêu đặt ra các quy định của chính mình.
- Việc xây dựng các quy định mới có khả năng cản trở thơng mại phải đợc
thông báo kịp thời cho các nớc thành viên WTO.
c. Kiểm dịch động thực vật
Theo WTO, các nớc thành viên có quyền sử dụng các biện pháp kiểm dịch động -
thực vật cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con ngời nhng chỉ đợc áp dụng ở
mức độ cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ con ngời, động vật và thực vật và dựa
trên các nguyên tắc khoa học và không đợc duy trì nếu thiếu căn cứ khoa học xác
đáng.
d. Các doanh nghiệp thơng mại nhà nớc
Trong WTO, các doanh nghiệp đợc ban các đặc quyền thơng mại gọi là các
doanh nghiệp thơng mại nhà nớc dù cho chúng thuộc sở hữu nhà nớc hay sở hữu t
nhân. Ví dụ về các doanh nghiệp này là những doanh nghiệp thuộc loại đầu mối