lời mở đầu
Thế giới đã và đang diễn ra những biến đổi to lớn và sâu sắc. Các quốc gia
trên thế giới phụ thuộc lẫn nhau trong mối quan hệ kinh tế, không có quốc gia nào
phát triển mà không mở rộng mối quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt là ngoại th-
ơng. Xu hớng khu vực hoá và toàn cầu hoá càng thể hiện một cách rõ nét chẳng
hạn nh sự lớn mạnh của các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới: WTO, EU,
ASEAN, APEC ... Thêm vào đó, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới
diễn ra hết sức sôi động và phát triển nh vũ bão . Sự phát triển của khoa học công
nghệ đã đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới. Chính vì vậy,
ngày nay hợp tác quốc tế đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển đi lên
cửa mỗi quốc gia.
Hoà nhập với xu thế trên, trong công cuộc phát triển kinh tế ,xây dựng đất n-
ớc, đặc biệt là sau khi tiến hành đổi mới kinh tế xã hội, Đảng và Chính phủ Việt
Nam rất coi trọng hoạt động kinh tế đối ngoại. Việc định ra một chiến lợc phát
triển kinh tế, trong đó đặc biệt coi trọng chiến lợc công nghiệp hoá hớng về xuất
khẩu, là một yêu cầu thực sự cấp bách đối với Việt Nam hiện nay. Chiến lợc kinh
tế hớng về xuất khẩu của Việt Nam phải hớng vào không ngừng mở rộng phân
công và hợp tác quốc tế trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, khai
thác tối đa và có hiệu quả lợi thế so sánh của đất nớc để phát triển kinh tế thông
qua con đờng xuất khẩu.
Để thực hiện chiến lợc trên, trong những năm qua Việt Nam đã không ngừng
mở rộng quan hệ kinh tế với các nớc trên thế giới, các tổ chức kinh tế khu vực và
thế giới. Việc gia nhập ASEAN (07/1995) đánh dấu một bớc khởi đầu cho Việt
Nam trong tiến trình hội nhập với các tổ chức kinh tế trên thế giới. Là thành viên
của ASEAN, Việt Nam đã cam kết thực hiện CEPT/AFTA. Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN (AFTA) đặt cho Việt Nam những cơ hội và thách thức mới đối với
hoạt động ngoại thơng. Những cơ hội và thách thức này đỏi hỏi trong tiến trình
thực hiện chiến lợc công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu, Việt Nam cần đặt ra cho
1
mình các chính sách và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu sao cho phát huy đợc những
mặt lợi thế và khắc phục những mặt hạn chế.
Điều này là tất yếu bởi thơng mại quốc tế xuất hiện từ sự đa dạng về điều
kiện tự nhiên sản xuất giữa các quốc gia dẫn tới việc chuyên môn hoá sản xuất
một số mặt hàng có lợi thế để xuất khẩu và nhập khẩu các mặt hàng từ nớc ngoài
mà kém lợi thế khi sản xuất trong nớc.
Tuy nhiên, vì sao một quốc gia hoàn toàn kém lợi thế hơn trong việc sản xuất
các sản phẩm mà vẫn duy trì đọc hoạt động thơng mại quốc tế ? Quy luật lợi thế t-
ơng đối của David Ricardo đã trả lời cho câu hỏi này. Lý thuyết này khẳng định
nếu mỗi quốc gia chuyên môn hoá vào sản xuất các sản phẩm mà nớc đó có lợi thế
3
tơng đối hay có hiệu quả sản xuất so sánh cao nhất thì thơng mại quốc tế đem lại
lợi ích cho tất cả các nớc. Nền tảng của quy luật lợi thế tơng đối là chi phí cơ hội.
Chi phí cơ hội của một sản phẩm là số lợng các sản phẩm khác mà ngời ta
phải từ bỏ để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm đó. Sự chênh lệch giữa các nớc
về chi phí cơ hội trong việc sản xuất ra một mặt hàng là cơ sở quyết định phơng
thức thơng mại quốc tế. Và sau nay phát triển lên thành lý thuyết H-O. Lý thuyết
H-O còn đợc gọi là lý thuyết lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có. Đây
cũng chính là lý thuyết hiện đại giải thích về nguồn gốc thơng mại quốc tế nói
chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. Lý thuyết này đợc các nhà kinh tế nổi
tiếng khác nh T.M Rubczyuski, Wolfgang Stolper, Paul A Samuelson, James
William...tiếp tục mở rộng và phát triển hơn để khẳng định những t tởng khoa học
và giá trị thực tiễn to lớn của định lý H-O, hay còn gọi là quy luật H-O về tỷ lệ cân
đối các yếu tố sản xuất mà trớc đó đã đợc Hecksher và Ohlin đa ra với nội dung là:
một nớc sẽ xuất khẩu hàng hoá mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và
tơng đối sẵn có của đất nớc đó và nhập khẩu hàng hoá mà việc sản xuất nó cần
nhiều yếu tố đắt và tơng đối đắt ở nớc đó.
Tuy còn có những khiếm khuyết lý luận trớc thực tiễn phát triển phức tạp của
hoạt động thơng mại quốc tế ngay nay. Xong quy luật này vẫn đang là quy luật chi
phối động thái phát triển của thơng mại quốc tế và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn
quan trọng đối với các nớc đang phát triển, đặc biệt đối với nớc cha phát triển. Vì
nó chỉ ra rằng đối với những nớc này, đa số là nớc đông dân, nhiều lao động, nhng
nhất để thoả mãn nhu cầu nhập khẩu những t liệu sản xuất thiết yếu phục vụ cho
công nghiệp hoá và hiện đại háo đất nớc. Bài học kinh nghiệm của một số nớc
trên thế giới tăng trởng chri dựa trên nguòon vốn vay nợ, viện trợ và đầu t nớc
ngoài đã phải trả một giá đắt đã ming chứng cho điều này. Hơn nữa, trong thực tế
xuất khẩu và nhập khẩu có mối quan hệ mật thiết với nhau, vừa là kết quả vừa là
tiền đề của nhau. Đẩy mạnh xuất khẩu là để tăng cờng nhập khẩu để nó mở rộng,
tăng nhanh khả năng xuất khẩu.
5
b, Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế h ớng
ngoại:
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh
mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tấe sang nền kinh tế hớng ngoại trong quá trình công
nghiệp hoá ở nớc ta hiện nay là phù hợp với xu hớng phát triển kinh tế thế giới. Có
hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.
Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vợt
quá nhu cầu nội địa. Trong trờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển
nh ở nớc ta, sản xuất về cơ bản cha đủ để tiêu dùng nếu chỉ thụ động ở sụ d thừa
của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé và chậm chạp. Hơn nữa, nó không góp
phần chuyên môn hoá sản xuất và thuíc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng
có lợi.
Hai là, coi thị trờng và đặc biệt là thị trờng thế giới là hớng quan trọng để tổ
chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể
hiện ở:
Xuất khẩu tạo điều kiện cho ngành liên quan có điều kiện phát triển thuận
lợi. Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho việc
phát triển ngành sản xuất nguyên liệu nh bông hay thuốc nhuộm. Sự phát triển của
công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu (dầu thực vật, chè...) kéo theo sự phát
triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị để sản xuất ra các sản phẩm đó.
nhất để tạo nên nhiều công ăn việc làm và thu đợc nhiều ngoại tệ mà không phải
sử dụng tài nguyên quí hiếm. Dựa vào việc lập hàm hồi qui về mối quan hệ giữa
xuất khẩu và việc làm cho thấy nếu xuất khẩu tăng lên 1% so với năm gốc thì chỗ
việc làm cho ngời lao động sẽ tăng lên ít nhất 0,4% so với năm gốc. Xuất khẩu tạo
công ăn việc làm và làm tăng thu nhập cho ngời lao động không chỉ ở các vùng đô
thị, các khu chế xuất, các xí nghiệp công ty liên doanh đầu t nớc ngoài mà đã lan
7
rộng đến nhiều vùng nông thôn. Do vậy, xuất khẩu đã góp phần cải thiện đời sống
của nhân dân và từng bớc xoá bỏ chênh lệch mức sống thực tế giữa các tầng lớp
dân c ở nhiều khu vực lãnh thổ khác nhau. Hơn nữa, xuất khẩu còn tạo nguồn vốn
nhập khẩu về vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ cho đời sống, và đáp ứng ngày
càng phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
d, Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
của n ớc ta.
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại đã làm cho nền kinh tế nớc
ta gắn chặt với phân công lao động quốc tế. Thông thờng hoạt động xuất khẩu ra
đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nên nó thúc đẩy các quan hệ
này phát triển. Chẳng hạn, xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ
tín dụng đầu t vận tải quốc tế ... Đến lợt nó chính xác các quan hệ kinh tế đối
ngoại lại tạo điều kiện tiền đề mở rộng xuất khẩu. Nh việc ký kết các hiệp định và
tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực lại khuyến khích hoạt động xuất
khẩu.
Nh vậy, nhận thức đợc vai trò của xuất khẩu, đối với nớc ta, một quốc gia
đang chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc thì hoạt động
xuất khẩu đợc đặt ra cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy toàn bộ
nền kinh tế xã hội. Không thể nào xây dựng đợc một nền kinh tế hoàn chỉnh nếu
chỉ dựa trên nguyên tắc"Tự cung tự cấp", vì nó đòi hỏi rất tốn kém về vật chất, thời
gian và cũng rất khó mà đạt đợc hiệu quả nh mong đợi. Vì vậy, cần phải đẩy mạnh
nâng cao hiệu quả của hoạt động mở rộng ngoại thơng, trên cơ sở" Hợp tác bình
đẳng không phân biệt thể chế chính trị và đôi bên cùng có lợi" nh nghị quyết của
văn hoá, tri thức thông tin và mọi phơng thức sinh tồn ngày càng mang tính toàn
cầu. Hơn nữa, sản xuất và dịch vụ có xu thế quốc tế hoá rõ rệt. Cuộc cánh mạng
khoa học và công nghệ đạt tới giai đoạn cao đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ quá
trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá giữa các quốc gia làm cho lực lợng sản xuất
đợc quốc tế hoá cao độ. Thực ra sự xuất hiện rất sớm của các công ty xuyên quốc
gia ở một số nớc phát triển đã khởi động cho sự ra đời hệ thống sản xuất toàn cầu
9
vào nửa đầu thế kỷ XX, phát triển nhanh vào sau chiến tranh thế giới thứ hai và
đến cuối thập niên 70 thì trở thành làn sóng lớn, dần dần loại trừ, thay thế cơ cấu
sản xuất trong nớc. Đến nay chính các công ty xuyên quốc gia cũng luôn phải đổi
mới hàng ngày đểv mở rộng ảnh hởng trực tiếp, thúc đẩy chu chuyển vốn đầu t đi
kèm sát nhập và hợp nhất để lớn mạnh lên nhanh chóng. Thập niên 80 và 90 đợc
ghi nhận bởi hiện tợng nổi trội về đầu t quốc tế vợt quá mức tăng trởng mậu dịch
quốc tế.
Đáng chú ý là thị trờng tài chính quốc tế phát triển hết sức nhanh chóng đã
trở thành một sức mạnh kinh tế xuyên quốc gia. Từ cuối thập niên 70, kỹ thuật tin
học bắt đầu đợc ứng dụng rộng rãi làm cho việc chuyển tải thông tin đợc dễ dàng
và nhanh chóng; giúp cho nghiệp vụ tài chính quốc tế phát triển mạnh mẽ, thu hẹp
dần phạm vi quản chế cứng nhắc thị trờng tiền tệ theo từng quốc gia năng lực
khống chế của ngân hàng trung ơng đối với gía trị đồng bản tệ ngày càng gảim
sút. Thị trờng tài chính thế giới phát triển mạnh cũng thúc đẩy mạnh theo quá trình
quốc tế hoá sản xuất và dịch vụ, bởi lẽ các công ty xuyên quốc gia có thể tập trun
và di chuyển một cách thuận lợi trên thị trờng tài chính thế giới mà khộng bị
khống chế. Các ngân hàng và các công ty giao dịch chứng khoán thờng tổ chức
thành công ty độc quyền dạng Xanh-đi-ca, giúp đỡ nhau và cạnh tranh nhau. Các
ngân hàng lớn đều đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ở các trung tâm tài
chính chủ yếu cuả thế giới.
Cuối cùng, vấn đề môi trờng cũng trở thành nan giải, mang tính toàn cầu do
hậu quả của công nghiệp hoá mang tính toàn cầu phát triển đến mức khó kiểm
soát gây nên tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Tính nghiêm trọng đáng báo động
xứ đợc sản xuất ở bất kỳ nớc thành viên nào. Trong gian đoạn liên kết này, các nớc
tham gia vẫn duy trì hàng rào buôn bán quốc gia riêng đối với nớc thứ ba.
Nh vậy xu hớng hình thành liên kết kinh tế khu vực của các nớc để ngăn chặn
sự tác động từ bên ngoài, tạo điều kiện ổn định kinh tế khu vực, ổn định thị trờng
để các nớc trong khối kinh tế có thể bổ sung cho nhau những thế mạnh của mình
về kỹ thuật, tài nguyên, lao động bảo đảm hiệu quả kinh tế trong trao đổi. Chính vì
vậy, vai trò của ngoại thơng, đặc biệt là xuất khẩu đều đợc các nớc hết sức quan
11
tâm, do không một quốc gia nào muốn bị gạt ra ngoài lề của dòng chảy phát triển,
nên phải xây dựng cho mình chính sách kinh tế, nhất là kinh tế đối ngoại, tạo lập
môi trờng thông thoáng để khuyến khích đầu t và buôn bán quốc tế. Do đó Việt
Nam không phải là trờng hợp ngoại lệ trong việc hội nhập kinh tế khu vực. Vấn đề
là phải lựa chọn tiến trình hội nhập ra sao để phù hợp với hoàn cảnh đất nớc đồng
thời phù hợp với xu thế toàn cầu hoá và liên kết kinh tế khu vực diễn ra ngày càng
mạnh mẽ trên thế giới.
1.2.2-/ Sự ra đời của AFTA
Lịch sử hình thành tổ chức ASEAN (The Association of South East Asia
Nations, 1967) trớc hết bắt nguồn từ lý do chính trị và an ninh khu vực vào thập kỷ
60. Trong bối cảnh tồn tại của cuộc chiến tranh lạnh và ở khu vực ASEAN đã thực
sự là một thực tế mang tầm cỡ quốc tế khiến thế giới phải quân tâm trên diễn đàn
chính trị thế giới. ở Việt Nam, cuộc chiến tranh đang diễn ra và một số nớc trong
khu vực bớc vào trận. ở Trung Quốccách mạng văn hoá ảnh hởng sâu rộng đến
đời sống tinh thần của cộng đồng ngời Hoa ở Đông Nam á. Trong khi đó, Liên
Xô cũ hình thành hệ thống an ninh tập thể Châu á ...Trớc hàng loạt thách thức
kinh tế chính trị của khu vực đồng thời phải giải quyết những khó khăn về sức ép
từ bên ngoài, nhu cầu liên kết khu nhằm tập trung sức mạnh tiềm lực để đối phó là
cần thiết với các dân tộc Đông Nam á.
Trong bối cảnh đó, ngày 8/8/1967, tuyên bố Băng Cốc đã đợc bộ trởng ngoại
giao của năm nớc: INDONESIA, MALAYSIA, PHILIPIN, SINGAPORE và
THAILAND ký kết. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á chính thức đợc thành lập.
hết, chúng có nhu cầu bức thiết trong việc tìm kiếm và liên kết thị trờng, trớc hết
là các thị trờng láng giềng. Điều này càng đợc thúc đẩy nhanh hơn nhờ sự tác
động tích cực của tăng trởng kinh tế khu vực và các biện pháp tự do hóa thơng
mại. Các chính phủ của từng nớc ASEAN cũng đã thấy rõ sự trở ngại của chủ
nghĩa bảo hộ mậu dịch trong chiến lợc phát triển và đi đến đề xuất về một khu vực
mậu dịch tự do ASEAN nhằm tự do hoá thơng mại giữa các thành viên một cách
hiệu qủa.
13
Về các nhân tố bên ngoài, sự kết thúc chiến tranh lạnh và sự chuyển đổi sang
nền kinh tế thị trờng của hàng loạt các nớc nh Trung Quốc, các nớc Đông Âu dẫn
đến các quốc gia ASEAN ngày càng có nhiều các đối thủ cạnh tranh mới về thu
hút đầu t nớc ngoài và thơng mại. Hơn nữa, trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, các
nền kinh t ế ASEAN còn phải đứng trớc những thách thức mới do sự xuất hiện của
những tổ chức hợp tác khu vực hơn hẳn về quy mô, tiềm năng và trình đọ phát
triển nh EU, NAFTA. Nói cách khác, trớc sức ép cảu chủ nghĩa khu vực với sự
xuất hiện của EU, NAFTA và những biến đổi của nền kinh tế thế giới theo hớng
ngày càng cso nhiều dấu hiệu làm mất đi lợi thế cạnh tranh đòi hỏi các nớc
ASEAN phải có sự thống nhất để đi đến những biện pháp thúc đẩy nhanh chóng
buôn bán nội bộ và tự do hoá quan hệ thơng mại giữa khu vực với các khối liên kết
kinh tế khác. Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự cấp thiết thành lập
khu vực mậu dịch tự do ASEAN. Sự hình thành AFTA nhằm giải quyết hai mục
tiêu cơ bản: Thứ nhất, liên kết thị trờng khu vực với t cách là một trung tâm sản
xuất và thơng mại quốc tế nhằm cải thiện lợi thế cạnh tranh của ASEAN trong
việc thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài - một nhân tố đợc coi là động lực tăng tr-
ởng và tạo ra sự năng động của châu á trong những năm gần đây. Thứ hai, thôgn
qua AFTA, sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các nớc thành viên tự do hoá thơng mại nội
bộ khu vực, xoá bỏ các rào chắn thơng mại, kể cả các biện pháp bảo hộ mậu dịch
tiêu cực nhằm rut ngắn quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.
Tóm lại, xuất phát từ tổng thể các nhân tố bên trong và bên ngoài tác động,
AFTA ra đời đã trở thành một bộ phận hợp thành của xu thế tự do hoá thơng mại
Do đó, muốn tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới thì trớc hết Việt Nam
đã phải tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực, hội nhập với khu vực tạo tiền đề
cũng nh tạo cho Việt Nam trở thành khu vực hấp dẫn hơn để có điều kiện tham gia
ngày càng rộng hơn vào thị trờng khu vực và toàn cầu.
Nên việc hội nhập vào ASEAN, thực hiện AFTA thể hiện thiện chí trong việc
gia nhập vào khối kinh tế kyhu vực của Viện nam đồng thời đáp ứng đợc yêu cầu
của nền kinh tế trong nớc và nớc ngoài. Vì đây là lần đầu tiên các nớc ASEAN đã
có sự nhất trí cao về tiến trình tự do hoá thơng mại khu vực. Điều này không chỉ
15
thể hiện ở những điều khoản trong Hiệp định u đãi thuế quan có hiệu lực chung
(CEPT) mà còn cho thấy nhận thức sâu sắc của từng thành viên về tính cần thiết
của liên kết kinh tế khu vực. Trong điều kiện của xu hớng toàn cầu hoá, khu vực
hoá đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, vấn đề đặt ra là kinh tế Việt Nam không thể
tách rời hệ thống kinh tế khu vực và toàn cầu. Muốn vậy, Việt Nam hội nhập vào
kinh tế khu vực đồng nghĩa với việc thực hiện chính sách mở cửa, thực hiện tự do
hoá thơng mại theo hớng xuất khẩu nhằm thích ứng với nhu cầu phát triển của các
nớc trong khu vực và xu hớng phát triển chung của thế giới.
Thông qua tự do hoá thơng mại sẽ kích thích khả năng cạnh tranh trong các
thành phần kinh tế ở Việt Nam. Cạnh tranh là động lực của tăng trởng đòi hỏi Việt
Nam phải cố gắng dàn xếp những khiếm khuyết và nhanh chóng cải tổ cơ cấu kinh
tế, giảm dần khoảng cách tụt hậu nhằm đa chất lợng sản phẩm đạt bằng các tiêu
chuẩn quốc tế quy định. Nhờ thế hàng xuất khẩu của nớc ta mới có khả năng tiêu
thụ và cạnh tranh với các sản phẩm của các nớc trong khu vực và quốc tế.
Hơn nữa, tham gia vào khu vực sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam có khả năng
tận dụng các lợi thế sẵn cso về tài nguyên thiên nhiên, nhân công, thị trờng đồng
thời cũng tạo điều kiện cho Việt Nam tạo ra những động lực hấp dẫn mới trên cơ
sở hiện đại hoá nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu các phơng pháp quản lý
và tiếp thị trớc các đối thủ khác có điều hấp dẫn hơn, nh các nớc ASEAN, SNG,
Đông Âu...
1.3-/ Chiến lợc phát triển kinh tế hớng mạnh vào xuất khẩu và
+ Thứ ba, thúc đẩy tốc đọ cạnh tranh buộc các xí nghiệp phải cải tiến quản
lý, không ngừng nâng cao trình độ cán bộ, luôn đổi mới công nghệ để thích nghi
với những đòi hởi gay gắt của thị trờng quốc tế.
1.3.2-/ Kinh nghiệm phát triển của các nớc ASEAN
17
Để thấy rõ hơn sự lựa chọn chiến lợc, ta xét tới quá trình lựa chọn chiến lợc
phát triển của một số nớc Đông Nam á - ASEAN. Từ đó, khẳng định vững chắc
quan điểm công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu mở rộng giao lu kinh tế với tất cả
các nớc trong khu vực cũng nh trên thế giới.
Xuất phát của các nớc ASEAN đều giống nhau đó là sự phát triển từ kinh tế
nông nghiệp, xuất khẩu chủ yếu là nông sản và nguyên liệu thô. Các nớc ASEAN
đã sớm nhận ra giới hạn của thị trờng này do tính chất không ổn định và đặc điểm
kém co giãn theo thu nhập củn phẩm nông nghiệp, nên các nớc này đã chủ trơng
phát triển công nghiệp nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, tạo thế cân bằng mới đồng
thời tạo điệu kiện để cho nông nghiệp phát triển, giải quyết việc làm cho lực lợng
lao động sẵn có.
Để thực hiện điều này, từ những năm 1960, chính phủ các nớc này đã tiến
hành quá trình công nghiệp hoá và mục tiêu ban đầu chỉ nhằm vào thị trờng trong
nớc, đó là chiến lợc hoá thay thế nhập khẩu. Đặc trng của chiến lợc này là tìm
cách sản xuất để thay thế dần những sản phẩm tiêu dùng phải nhập khẩu, đi đến
chỗ hoàn toàn tự cung tự cấp. Sở dĩ các nớc ASEAN lựa chọn hớng đi này là vì
mong muốn đợc độc lập về kinh tế.
Tuy nhiên sau một thời gian thực hiện mô hình thay thế nhập khẩu đã bọc lộ
những nhợc điểm nh sự thiếu hiệu quả, kém năng động, hạn chế sự hợp tác trong
khu vực và trên thế giới.
Bớc vào thập kỷ 70, do làn sóng mở cửa và tự do hoá trên thế giới tràn tới,
cùng với sự thành công của các nớc NICs đã áp dụng thành công mô hình hớng
ngoại, các nớc ASEAN đã mạnh dạn thay đổi mô hình thay thế nhập khẩu sang
mô hình hớng về xuất khẩu để tận dụng nguồn vốn của nớc ngoài có tính đến kinh
nghiêm của các nớc đi trớc. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể cảu mỗi nớc mà quá
Với tốc độ đầu t cao và sự can thiệp sâu của chính phủ, Singapo đã sớm lựa
chọn một cơ cấu hàng xuất khẩu hợp lý. Quá trình chuyển dịch diễn ra theo hai
giai đoạn:
Giai đoạn 1: từ 1960-1985: tập trung phát triển một số ngành u tiên nh: lọc
dầu, sản xuất giàn khoan, đóng sửa dàn, chế tạo phụ tùng , lắp ráp xe hơi, máy
kéo...
19
Giai đoạn 2: từ 1980 đến nay: Singapo chuyển sang đầu t mạnh vào các
ngành kỹ thuật cao nh thiết bị điện tử cao cấp, máy chính xác, hoá chất, công nghệ
sinh học...
ở Thái Lan, thời kỳ đầu chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô và sản phẩm
nông nghiệp và sau đó chuyển sang sản xuất các mặt hàng chế biến mà theo chính
phủ Thái Lan xác định là trong tâm phát triển . Do đó trong thập niên 80, vốn đợc
tập trung dành cho ngành công nghiệp chế biến thục phẩm. Ngoài ra những nỗ lực
trong sản xuất ngành tiêu dùng thông thờng không yêu cầu kỹ thuật cao cũng đem
lại cho Thái Lan những thành công đáng kể.
Indonexia, trớc những năm 80, chủ yếu là sản xuất dầu mỏ, khí đốt và lâm
sản. Sau đó, do có sự giảm giá mạnh các mặt hàng này trên thị trờng thế giới đã
buộc chính phủ nớc này phải chú ý đến những mặt hàng xuất khẩu khác nh hàng
dệt quần áo, nông sản chế biến... Nếu năm 1981 những mặt hàng này chỉ chiếm
17,7% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu của Indonexia thì đến năm 1994, con số
này đã lên tới 63%.
Malaysia, từ các mặt hàng xuất khẩu quen thuộc là thiếc, cao su (chiếm 70%
tổng thu nhờ xuất khẩu vào năm 1970), họ đã chuyển sang xuất khẩu các sản phẩm
cần nhiều lao động nh hàng dệt, quần áo, dày dép... Do lợi thế về giá nhân công rẻ
đang mất dần hơn nữa khi đã cso một nguồn vốn tích luỹ đợc suốt hai mơi năm qua,
chính phủ nớc này đã cho đầu t phát triển ngành xuất khẩu kỹ thuật cao nh sản xuất
các linh kiện và thiết bị điện tử, phụ kiện viễn thông.
Philippin, mặc dù đã lựa chọn mô hình hớng ngoại tơng đối sớm nhng họ lại
thực hiện chuyển đổi cơ cấu chậm do những hạn chế về điều kiện khí hậu bất th-
nhanh lắm. Nhìn chung, trong ba mơi năm qua, đầu t nớc ngoài vào ASEAN vẫn
giữ đợc tốc độ tăng trởng liên tục.
Nhờ những chính sách nh trên mà các nớc ASEAN đã đạt đợc những thành
tựu nhất định trong hoạt động xuất khẩu. Một số mặt hàng xuất khẩu tăng cả về số
lợng lẫn chất lợng, thị trờng, bạn hàng đợc mở rộng, lợng ngoại tệ thu về ngày
21
càng nhiều. Rõ ràng sau khi thay đổi hớng phát triển kinh tế các nớc ASEAN đã
đạt đợc những thành tựu đáng kể. Việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nớc đi tr-
ớc, đặc biệt là các nớc ASEAN - những nớc có nhiều nét tơng đồng và có mối
quan hệ chặt chẽ với talà hết sức cần thiết trong việc định ra một hớng đi phù hợp
với tiềm lực, khả năng của Việt Nam để nhanh chóng xây dựng đợc hoạt động
xuất khẩu vững mạnh trong xu thế hội nhập vào khu vực.
22
Chơng 2
Phân tích thực trạng xuất khẩu của Việt Nam
trong quá trình hội nhập vào AFTA
2.1-/ Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam qua các thời kỳ.
2.1.1-/ Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam trớc năm 1986.
Những năm trớc thời kỳ đổi mới, trên t duy kinh tế , chính trị của ta đã nhận
thức đợc tầm quan trọng của việc phát triển mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại
trong đó có việc thực hiện một chiến lợc ngoại thơng đúng đắn, năng động, phù
hợp với thực tiễn đất nớc và bối cảnh quốc tế sẽ luôn luôn là động lực trực tiếp cho
nền kinh tế tăng trởng nhanh chóng. Xong do nhiều nguyên nhân lịch sử ( trong n-
ớc và trên thế giới) cộng với sự nóng vội mong đốt cháy giai đoạn để đi nhanh đến
chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã nhận thức và hành động sai lầm về con đờng phát
triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế đối ngoại và ngoại thơng nói riêng. Đó
là xây dựng quan điểm duy ý chí, tự lực cách sinh, biệt lập khép kín cùng với việc
duy trì cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp. Điều này
trở thành vật cản, làm triệt tiêu các động lực, kìm hãm tốc độ phát triển kinh tế.
Riêng trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, mặc dù ngay từ năm 1960 đã có hơn bốn
khẩu sang các nớc khu vực II thì tốc độ tăng ở khu vực I lại thấp hơn ở khu vực II
(khu vực II tăng 3,3 lần trong khi khu vực II tăng 4,2 lần).
24
Bảng 2 - Xuất khẩu theo hai khu vực thời kỳ 1976-1986.
Năm
Khu vực I Khu vực II Tổng kim ngạch XK
Giá trị
(tiền Rúp)
Tốc độ
tăng %
Giá trị
(tiền Rúp)
Tốc độ
tăng %
Giá trị
(tiền Rúp)
Tốc độ
tăng %
1976
1977
1978
1979
1980
1981
1982
1983
1984
1985
1986
132,9
384,1
12,8
-20,9
6,7
31,8
46,9
14,4
24,1
2,8
12,8
40,8
222,7
322,4
326,8
320,5
337,7
400,6
526,6
616,5
640,6
698,5
823
44,7
1,4
-1,9
5,4
18,6
31,4
17,1
5,4