Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước toà án trong tố tụng hình sự - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐẶNG THANH NGA

NGUYÊN TẮC
BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRƢỚC TOÀ ÁN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ
MÃ SỐ: 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN:
TS. PHAN THỊ THANH MAI

HÀ NỘI 2011


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN



Tiến hành tố tụng

THTT

Tiến hành tố tụng

TTHS

Tố tụng hình sự

VKS

Viện kiểm sát

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa




1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài


thập hợp pháp do cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ để xác định sự thật của
vụ án...Và trên thực tế, việc nhận thức cũng như thực hiện nghiêm túc nguyên tắc
bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án của các chủ thể TTHS còn nhiều hạn chế
như vi phạm quyền tham gia phiên toà, không xem xét đầy đủ các yêu cầu của các
chủ thể tố tụng, việc tranh luận dân chủ chưa được đảm bảo, còn mang tính hình
thức… Vì vậy để tiến trình cải cách tư pháp với việc mở rộng dân chủ trong hoạt
động tố tụng hình sự có hiệu quả, việc nghiên cứu các nguyên tắc đề cao tính dân
chủ, đảm bảo công bằng đặt ra lại càng cấp thiết. Theo đó phải nghiên cứu để hoàn
thiện những quy định của pháp luật cũng như đề xuất những giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả việc thực hiện nguyên tắc trong tố tụng hình sự.
Trong khoa học luật TTHS cũng đã có nhiều nghiên cứu khoa học về các
nguyên tắc trong TTHS, có đề tài khoa học nghiên cứu mang tính đại cương, khái
quát tất cả các nguyên tắc của TTHS như giáo trình luật TTHS của Trường Đại học
Luật Hà Nội, các cuốn sách Bình luận khoa học BLTTHS, "Những nguyên tắc cơ
bản của luật TTHS Việt Nam" của tác giả Hoàng Thị Sơn và Bùi Kiên Điện; có đề
tài khoa học nghiên cứu cụ thể, trực tiếp một trong các nguyên tắc đó như Luận án
tiến sỹ của tác giả Vũ Gia Lâm về nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS, Luận văn
thạc sỹ của tác giả Từ Thị Hải Đường về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong TTHS... nhưng chưa có đề tài khoa học nào nghiên
cứu trực tiếp, cụ thể về nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án trong TTHS.
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: "Nguyên tắc bảo đảm quyền bình
đẳng trước Toà án trong TTHS " làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án trong TTHS lần đầu tiên
được quy định tại Điều 20 BLTTHS năm 1988 và được sửa đổi bổ sung ghi nhận ở
Điều 19 BLTTHS năm 2003. Nguyên tắc này là biểu hiện nguyên tắc cơ bản của
pháp luật XHCN là mọi công dân bình đẳng trước pháp luật trong TTHS nhằm nâng
cao tính dân chủ trong việc xét xử của Toà án, đảm bảo cho phán quyết của Toà án
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nguyên tắc này đã được đề cập một cách khái

quả thực hiện nguyên tắc trong giải quyết các vụ án hình sự dưới góc độ là một luận
án tiến sĩ hoặc luận văn thạc sĩ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu


4

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng nguyên tắc
bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án trong TTHS, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm
nâng cao hiệu quả của việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án.
Với mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Làm rõ khái niệm, nội dung, ý nghĩa và những điều kiện bảo đảm thực hiện
nguyên tắc
- Phân tích thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà
án trong hoạt động giải quyết án hình sự của Toà án, phân tích nguyên nhân của
những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bình
đẳng trước Toà án
- Kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc bảo đảm
quyền bình đẳng trước Tòa án.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu :
- Những vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án
- Quy định của BLTTHS năm 2003 về nội dung của nguyên tắc bảo đảm
quyền bình đẳng trước Tòa án và một số quy định có liên quan.
- Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án trong
TTHS Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu:
Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án được ghi nhận trong các
văn bản pháp luật về tố tụng như BLTT Dân sự, BLTT Hình sự,… Luận văn chỉ tập
trung làm rõ nguyên tắc dưới góc độ là một nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong

1.1. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án
1.2. Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án theo quy
định của BLTTHS năm 2003
1.3. Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án
1.4. Điều kiện để bảo đảm thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng
trước Tòa án
Chƣơng 2: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước
Toá án và kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc
2.1. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án
2.2. Kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc bảo đảm
quyền bình đẳng trước Toà án.


6

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC
BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRƢỚC TOÀ ÁN
1.1. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trƣớc Toà án
Trong khoa học pháp lý hiện nay vẫn còn có những quan điểm không thống
nhất về các nguyên tắc cơ bản được quy định trong Chương II BLTTHS năm 2003,
ngay cả trong cách sử dụng thuật ngữ. Có quan điểm gọi đó là nguyên tắc cơ bản
của luật TTHS [12], có quan điểm gọi đó là nguyên tắc cơ bản của TTHS [26]. Tuy
nhiên, nguyên tắc là "những quy định, phép tắc, tiêu chuẩn làm cơ sở, chỗ dựa để
xem xét, làm việc" [14, tr.1217]. Từ đó có thể thấy rằng, nguyên tắc không thể thiếu
trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, đảm bảo cho hoạt
động đó đi đúng hướng và có hiệu quả. Khi nói đến nguyên tắc là đề cập đến quy
định có tính định hướng đối với hoạt động nào đó chứ không thể định hướng cho
quy định nào đó vì chỉ hoạt động mới có tính động, diễn biến theo thời gian còn quy
định có tính tĩnh, là kết quả của hoạt động nên không thể nói "nguyên tắc cơ bản

nước được BLTTHS ghi nhận điều chỉnh hoạt động tố tụng của Toà án khi xét xử vụ
án hình sự phải bảo đảm cho kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự thực hiện
quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và
tranh luận dân chủ trước Toà án nhằm xác định sự thật của vụ án và nâng cao tính
dân chủ, công bằng trong TTHS .
1.2. Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trƣớc Toà án theo
quy định của BLTTHS năm 2003
Điều 19 BLTTHS năm 2003 quy định: "Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa,
người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương
sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu
cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án. Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ
thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án". Như vậy có thể
xác định nguyên tắc này có những nội dung sau: chủ thể có quyền bình đẳng trước
Toà án, nội dung của quyền bình đẳng trước Toà án, chủ thể có trách nhiệm bảo
đảm quyền bình đẳng trước Toà án, cách thức thực hiện quyền bình đẳng trước Toà
án và thực hiện trách nhiệm bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án.
1.2.1. Chủ thể có quyền bình đẳng trƣớc Toà án
Chủ thể có quyền bình đẳng trước Toà án là : kiểm sát viên, bị cáo,người
bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự
- Kiểm sát viên:


9

Điều 1 Pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002 quy định: "Kiểm sát viên là người
được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công



11

thành biên bản theo quy định tại điều 95 BLTTHS; giúp bị cáo về mặt pháp lý nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; không được từ chối bào chữa cho bị cáo
mà mình đảm nhận nếu không có lý do chính đáng; có mặt theo giấy triệu tập của
Toà án. Như vậy, việc đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ
của người bào chữa theo nghĩa vụ bào chữa của họ. Theo quy định tại Điều 190,
khoản 2 Điều 217 BLTTHS năm 2003 thì việc tham gia phiên toà, trình bày lời bào
chữa là quyền đồng thời là nghĩa vụ của người bào chữa.
- Người bị hại:
Khoản 1 Điều 51 BLTTHS năm 2003 quy định: "Người bị hại là người bị thiệt
hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra". Mọi phán quyết của Toà án về
tội phạm đều ảnh hưởng đến lợi ích của họ. Vì vậy họ có quyền bình đẳng trong
việc đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án để bảo vệ
quyền lợi của mình
Quyền và nghĩa cụ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLTTHS năm 2003. Theo
đó, quyền của người bị hại trong giai đoạn xét xử vụ án là: đưa ra tài liệu, đồ vật,
yêu cầu, đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch theo quy định của BLTTHS, đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo
đảm mức bồi thường; tham gia phiên toà, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; trong trường hợp vụ án được khởi
tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại điều 105 BLTTHS thì người bị hại
trình bày lời buộc tội tại phiên toà. Nghĩa vụ của người bị hại: phải có mặt theo giấy
triệu tập của Toà án và có nghĩa vụ khai báo, cung cấp những thông tin cần thiết
giúp cho việc làm sáng tỏ sự thật của vụ án, nếu từ chối khai báo mà không có lý do
chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của BLHS. Như
vậy việc đưa ra tài liệu, đồ vật, cung cấp thông tin không chỉ là quyền mà còn là
nghĩa vụ của người bị hại. Người bị hại là người bị thiệt hại do tội phạm gây ra,

vậy lợi ích của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án có thể bị ảnh hưởng bởi phán quyết của Toà án nên họ có quyền
bình đẳng trong việc đưa ra thông tin, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận
dân chủ tại phiên toà để bảo vệ lợi ích của mình.
Nguyên đơn dân sự có quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 52
BLTTHS năm 2003, bị đơn dân sự có quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 53


13

BLTTHS năm 2003, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có các
quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 54 BLTTHS năm 2003. Theo đó: họ có quyền
đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự còn có
quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng. Nghĩa vụ của nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là: phải có mặt theo
giấy triệu tập của Toà án và trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến quyền
lợi, nghĩa vụ của mình. Việc đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu cũng như tranh luận là
quyền của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
đến vụ án.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
BLTTHS năm 2003 không quy định khái niệm về người đại diện hợp pháp của
bị cáo. Theo quy định tại Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 2/10/2004 của
Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định
trong phần thứ nhất " Một số quy định chung" của BLTTHS năm 2003 nêu: ''trong
trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên thì có người đại diện hợp pháp''
và "Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm
thần hoặc thể chất, thì họ và người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền được lựa
chọn người bào chữa". Như vậy đối với vụ án có bị cáo là người chưa thành niên,
người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì có người đại diện hợp pháp của

tại Điều 202 BLTTHS năm 2003, mặc dù sử dụng thuật ngữ "đề nghị thay đổi Thẩm
phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án,.." như các điều luật quy định tại
Chương IV BLTTHS năm 2003 nhưng trong phần nội dung nêu "Nếu có người yêu
cầu thì HĐXX xem xét…" nên có thể xác định những chủ thể có quyền bình đẳng
còn có quyền yêu cầu (đề nghị) thay đổi người tiến hành tố tụng. Tất cả các chủ thể
này khi bắt đầu phiên toà hay khi kết thúc xét hỏi (đối với yêu cầu xét hỏi thêm) đều
được HĐXX hỏi xem họ có yêu cầu nào trong các yêu cầu trên không và các chủ
thể được hỏi có quyền đưa ra yêu cầu, HĐXX phải có trách nhiệm tạo điều kiện cho
họ thể hiện yêu cầu đó và xem xét, quyết định tất cả những yêu cầu đưa ra, không
phân biệt yêu cầu của ai, yêu cầu về vấn đề gì. Tuy nhiên, theo quy định tại các
chương IV BLTTHS năm 2003 thì các chủ thể tham gia phiên toà không phải có các
quyền yêu cầu về những vấn đề như nhau. Tại Điều 54 BLTTHS năm 2003 quy
định thì người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có quyền yêu cầu thay đổi
người tiến hành tố tụng. Và các quy định trong BLTTHS cũng chưa quy định đầy
đủ về quyền yêu cầu hoãn phiên tòa như tại các điều quy định về người tham gia tố
tụng trong chương IV BLTTHS năm 2003 đều không quy định quyền yêu cầu hoãn
phiên toà của những người này.
* Bình đẳng trong việc tranh luận
Thể chế hoá đường lối của Đảng, quy định "tranh luận dân chủ" được bổ sung
vào nội dung của quyền bình đẳng trước Toà án tại Điều 19 BLTTHS năm 2003.
Tại Điều 37 và các Điều 50, 51, 52, 53, 54, 58, 59 BLTTHS năm 2003 quy định
Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ, người bào chữa,
người bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền tranh luận dân chủ và Điều 217,
Diều 218 BLTTHS quy định thủ tục cho việc thực hiện quyền tranh luận của các
chủ thể này. Tranh luận là "bàn cãi về một vấn đề nào đó" [14]. Bình đẳng trong
việc tranh luận được hiểu là các Kiểm sát viên và các chủ thể tham gia tố tụng tại
phiên toà theo quy định có quyền phát biểu ý kiến của mình về đánh giá chứng cứ,
về pháp luật áp dụng để bảo vệ quyền lợi của mình hay đưa ra quan điểm của mình


rằng trong quá trình tranh luận, những người tham gia tố tụng có quyền phát biểu ý
kiến và đáp lại ý kiến của người khác nhưng Kiểm sát viên với tư cách đại diện cho


20

Nhà nước thực hành quyền công tố không chỉ có quyền tranh luận mà còn có nghĩa
vụ đáp lại ý kiến của những người tham gia tố tụng như tại Điều 218 BLTTHS đã
quy định: "Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền
trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình. Kiểm sát
viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến". Việc quy định Kiểm
sát viên có nghĩa vụ tranh luận thể hiện đuợc tính dân chủ trong hoạt động xét xử vì
Kiểm sát viên là người đại diện cho Nhà nước thực hiện quyền truy tố bị can ra
trước Toà án để xét xử, những quan điểm, đề xuất của Viện kiểm sát đến khi công
bố cáo trạng mới chỉ là giả thiết trên cơ sở chứng cứ thu thập theo trình tự tố tụng
khép kín nên thường tạo ra sự nghi ngờ về tính khách quan. Do vậy, Kiểm sát viên
phải có nghĩa vụ đối đáp để chứng minh cho quan điểm của mình là đúng đắn, có cơ
sở đồng thời khi ý kiến của mình được đáp lại với đầy đủ những chứng cứ, quy định
của pháp luật được viện dẫn sẽ xoá bỏ cảm giác bất bình đẳng với Nhà nước của
những người tham gia tố tụng và việc truy tố, kết tội của Viện kiểm sát có tính
thuyết phục hơn đồng thời thể hiện sự tôn trọng ý kiến của những chủ thể khác
tham gia tố tụng.
* Mối quan hệ giữa các nội dung của quyền bình đẳng
Điều 19 BLTTHS năm 2003 quy định ba nội dung khác nhau của quyền
bình đẳng nhưng việc thực hiện ba nội dung này có mối quan hệ mật thiết với nhau,
không có sự phân biệt. Khi thực hiện nội dung yêu cầu là đảm bảo cho việc đưa ra
chứng cứ hoặc tạo điều kiện cho thực hiện tranh luận dân chủ. Ví dụ: Khi thực hiện
yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng đến phiên toà là đã thực hiện quyền đưa ra
thông tin có liên quan (thông tin này có ở người làm chứng cần triệu tập) và tạo điều
kiện sử dụng tất cả những thông tin cần thiết để tranh luận với các chủ thể khác bảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status