Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*** Trần Thị Thu Hương
Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ
nghĩa trong tố tụng hình sự Chuyên ngành : Luật
Mã số : 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ 2
MC LC

Trang ph bỡa
Li cam oan
Mc lc
M U


2.1.1.1. ý ngha ca vic xỏc nh rừ thm quyn phỏp lý ca tng c
quan tin hnh t tng

2.1.1.2. Quy nh ca phỏp lut hin hnh v thm quyn phỏp lý ca cỏc
c quan tin hnh t tng

2.1.2. Cỏc quyt nh ca c quan tin hnh t tng hỡnh s phi da trờn
c s ca B lut t tng hỡnh s 2003
3
2.1.3. Vic ỏp dng cỏc bin phỏp cng ch, bin phỏp nghip v trong
u tranh phũng v chng ti phm theo quy nh ca phỏp lut

2.2. Ngi tin hnh t tng phi thc hin quyn, ngha v ca mỡnh
theo phỏp lut t tng hỡnh s v nhng iu cỏn b cụng chc khụng
c lm

2.2.1.Khỏi nim ngi tin hnh t tng

2.2.1.1. iu tra viờn

2.2.1.2. Kim sỏt viờn

2.2.1.3. Thm phỏn

2.2.1.4. Hi thm nhõn dõn


phm vi c nc
4
3.1.4. Định hướng cho việc xây dựng pháp luật tố tụng hình sự

3.1.5. Góp phần đấu tranh có hiệu quả với hành vi vi phạm pháp luật tố
tụng
hình sự

3.2. Thực tiễn chấp hành nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong tố tụng hình sự

3.2.1. Những mặt tích cực

3.2.1.1. Các vụ án được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục luật định

3.2.1.2. Các vụ án được giải quyết nhanh gọn, bảo đảm thời hạn tố tụng

3.2.1.3. Quyền lợi của người tham gia tố tụng được đảm bảo

3.2.2. Những mặt hạn chế

3.2.2.1. Yếu tố pháp lý

3.2.2.2. Yếu tố thực tiễn

3.3. Bảo đảm của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình
sự

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Bất cứ một ngành luật hay một ngành khoa học pháp lý nào khác đều
có những phương châm, định hướng làm nền tảng cho hoạt động nghiên cứu
và áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Những phương châm, định hướng đó
được gọi là nguyên tắc. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa là
nguyên tắc mang tính chất quyết định, quan trọng cho hoạt động của các chủ
thể bao gồm Nhà nước và công dân. Đặc biệt, trong giai đoạn xây dựng Nhà
nước pháp quyền thì đòi hỏi tính tối thượng của pháp luật và chịu sự phục
tùng pháp luật một cách triệt để là không thể thiếu.
Trong những năm trước, chúng ta thường quan niệm rằng Nhà nước có
quyền còn công dân có nghĩa vụ cho nên mối quan hệ giữa Nhà nước và cá
nhân không mang tính bình đẳng và trở thành sự áp đặt chủ quan của Nhà
nước lên các quan hệ xã hội. Vì thế, cùng với sự phát triển của xã hội cũng
như sự nhận thức ngày càng cao của người dân mà đòi hỏi Nhà nước cũng
phải có trách nhiệm đối với hành vi của mình. Trong lĩnh vực Tư pháp, Nghị
quyết 49 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020,
Nghị quyết 388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về bồi thường thiệt hại đối
với các trường hợp oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố
tụng có thẩm quyền gây nên đặt ra yêu cầu hoạt động tố tụng hình sự phải
được tiến hành một cách thận trọng và đúng đắn trên cơ sở thẩm quyền được
phân định rạch ròi giữa các cơ quan cũng như nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của
người tiến hành tố tụng. Hơn nữa, việc hoàn thiện Bộ Luật Tố tụng hình sự
năm 2003 là cần thiết vì trên thực tế đã phát sinh rất nhiều lỗ hổng làm lối
thoát cho các vi phạm pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc bảo đảm
tuân thủ tuyệt đối pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự nói riêng và hoạt
động của Nhà nước nói chung. 6

7
của nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động tố tụng
hình sự trên cơ sở quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật.
2. Mục đích nghiên cứu.
- Tìm hiểu các qui định cụ thể của pháp luật tố tụng hình sự có liên
quan đến bảo đảm pháp chế trong tố tụng hình sự, từ đó thấy được bản chất
của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự.
- Tìm hiểu ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bảo đảm pháp chế xã hội
chủ nghĩa trong tố tụng hình sự đối với việc xây dựng và áp dụng pháp luật
trong thực tiễn.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ luật học, nguyên tắc bảo đảm pháp
chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự được nghiên cứu trong phạm vi
sau:
- Nghiên cứu vấn đề tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự.
- Phân tích thực trạng tuân thủ pháp chế của các chủ thể, từ đó đưa ra
các biện pháp bảo đảm pháp chế được thực hiện một cách triệt để đối với mọi
giai đoạn và mọi chủ thể trong tố tụng hình sự.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác- Lênin.
- Quan điểm, lý luận của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp
luật trong nền kinh tế thị trường và trong thời kỳ xây dựng Nhà nước pháp
quyền.
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, so sánh, dẫn chiếu để
luận giải, chứng minh cho các nhận xét, đánh giá và các phương pháp khác.
5. Điểm mới về mặt khoa học.


9
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM
PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ.
1.1.1. Nguyên tắc cơ bản và vị trí của nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội
chủ nghĩa trong tố tụng hình sự.
Trong tố tụng hình sự nói riêng và các ngành luật khác nói chung đều
được điều chỉnh bởi các nguyên tắc cơ bản, đặc thù. Tuy nhiên, cho đến hiện
nay, vẫn chưa có một khái niệm chung về nguyên tắc cơ bản. Vì vậy, tuỳ
thuộc cách hiểu của các nhà nghiên cứu, các luật gia, các nhà áp dụng pháp
luật chứ nguyên tắc cơ bản không hề được pháp điển hoá trong văn bản pháp
luật.
Nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự là những phương châm, định
hướng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động tố tụng hình sự được các văn bản
pháp luật quy định. Như vậy, xét về chi tiết vấn đề thì nguyên tắc cơ bản của

pháp luật. Nguyên tắc này đã được thể chế hoá trong Hiến pháp, Bộ luật tố
tụng hình sự 2003 quy định như vậy làm giảm tính hiệu lực và tầm thường
hoá các quy phạm Hiến pháp.
Những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là tư tưởng chủ đạo
xuyên suốt mọi hoạt động tố tụng hình sự. Vì thế, các nguyên tắc cơ bản
không những định hướng cho hoạt động tố tụng hình sự mà định hướng cho
cả việc xây dựng pháp luật. Trên phương diện những giá trị hiện thực đạt
được, các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự đảm bảo quá trình tố
tụng được tiến hành thống nhất với phương châm bảo vệ quyền lợi hợp pháp
của công dân tham gia tố tụng cũng như nâng cao vai trò, trách nhiệm của các
cơ quan Nhà nước trong đấu tranh phòng và chống tội phạm. Việc tác động
đến thực tiễn có ảnh hưởng lớn đến sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản 11
pháp luật nên các nguyên tắc cơ bản mang cả ý nghĩa pháp lý khi mọi hoạt
động xây dựng pháp luật đều phải dựa trên các nguyên tắc này.
Tố tụng hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt
Nam nên chịu sự điều chỉnh bởi các nguyên tắc chung của pháp luật như
nguyên tắc: bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật…Đồng thời, vì là một ngành luật đặc thù nên nó còn bị chi
phối bởi các nguyên tắc riêng như nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11- Bộ luật tố tụng hình sự). Cũng có
nhiều cách phân chia nguyên tắc cơ bản theo các nhóm khác nhau để thuận
tiện cho nghiên cứu và áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Nguyên tắc bảo
đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự được nghiên cứu dưới
góc độ vừa cơ bản, vừa đặc thù so với các ngành luật khác.
Nguyên tắc bảo đảm pháp chế trong tố tụng hình sự được quy định tại
Điều 3- Bộ luật tố tụng hình sự 2003- Điều đầu tiên của Chương 3 cũng là
hợp lý. Đây là nguyên tắc bao trùm nhất thể hiện trong tất cả các giai đoạn tố

can, bị cáo qua các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Như vậy,
tố tụng hình sự là hoạt động mang tính chất Nhà nước nhằm kết luận một
người có tội hay không có tội trên cơ sở thu thập, đánh giá các chứng cứ một
cách hợp pháp của cơ quan tiến hành tố tụng qua các giai đoạn tố tụng cụ thể
theo quy định của pháp luật và giai đoạn trước là tiền đề cho giai đoạn sau.
Chỉ cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền với chức năng riêng biệt mới
được tiến hành hoạt động tố tụng hình sự, mỗi hoạt động tố tụng hình sự đều
được kiểm tra, giám sát để đảm bảo tính chính xác và đúng đắn. Qua đây,
chúng ta cũng thấy được điểm khác của tố tụng hình sự so với tố tụng dân sự
và tố tụng hành chính. Mặc dù tố tụng dân sự và tố tụng hành chính cũng
được tiến hành theo những trình tự, thủ tục nhất định nhưng vai trò của các cơ
quan tiến hành tố tụng rất khác nhau. Trong hai lĩnh vực này không có sự
tham gia của Cơ quan điều tra mà vai trò chủ yếu là Tòa án. Viện kiểm sát
cũng đóng vai trò giám sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ hoạt động tố
tụng nhưng không trực tiếp kiểm sát điều tra như trong tố tụng hình sự mà chỉ 13
trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ và tham gia phiên toà khi đương sự khiếu nại về
việc Toà án điều tra không khách quan.
Thứ hai, hoạt động tố tụng hình sự tuân theo những nguyên tắc chung
và những quy phạm pháp luật cụ thể theo Hiến pháp, Bộ luật tố tụng hình sự
2003 và một số văn bản pháp luật có liên quan khác. Đặc điểm pháp lý này
cho phép khẳng định rằng tố tụng hình sự là hoạt động tuân thủ pháp luật về
việc tìm ra các tình tiết, chứng cứ, sự kiện của vụ án phù hợp với yêu cầu, đòi
hỏi của các văn bản pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban
hành. Các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án phải
chứng minh bằng những chứng cứ khách quan, toàn diện và hợp pháp. Mọi
sự nghi ngờ hay suy đoán đều không được chấp nhận nếu nó không có cơ sở
thực tế và pháp lý rõ ràng. Điều này cũng không cho phép các cơ quan có thể

của pháp luật. Một mặt, pháp luật giúp Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý
mọi mặt của đời sống xã hội, mặt khác nó loại bỏ các yếu tố mâu thuẫn, cản
trở bằng sức mạnh cưỡng chế của pháp luật. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa
vẫn tồn tại tội phạm. Thậm chí, có loại tội phạm xâm hại đến chế độ chính trị,
đe doạ sự tồn tại của chính quyền nhân dân. Vì thế, trên cơ sở pháp luật do
Nhà nước ban hành, các cơ quan tiến hành tố tụng có nhiệm vụ tìm ra gốc rễ
của tội phạm, loại bỏ chúng triệt để trong cuộc sống để bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân. Đồng thời, hoạt động tố tụng hình sự còn góp phần tích cực và
quan trọng nhất cho công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm, giáo dục
công dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của Nhà nước.
Những đặc điểm và nhiệm vụ của hoạt động tố tụng hình sự đã cho
thấy bản chất thực sự của vấn đề là nâng cao và khẳng định giá trị và sức
mạnh của pháp luật. Pháp luật là thước đo chuẩn mực đánh giá việc bảo đảm
pháp chế của cơ quan tiến hành tố tụng đúng và nghiêm chỉnh. Vì vậy, bảo
đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự còn xuất phát từ ngay
chính nhiệm vụ bảo vệ chế độ nhà nước, bảo vệ công dân của hoạt động tố
tụng hình sự.
1.1.3. Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự 15
Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, pháp chế đóng vai trò rất quan trọng
để bảo vệ Nhà nước xã hội chủ nghĩa và nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp
luật đối với các quan hệ xã hội phát triển ngày càng đa dạng, phức tạp. Vì
vậy, mục đích cao nhất của pháp chế một mặt phản ánh bản chất xã hội của
pháp luật, mặt khác làm cho các quan hệ xã hội đi vào khuôn khổ với sự quản
lý chặt chẽ của nhà nước nhưng cũng không ngừng nâng cao quyền tự do, dân
chủ của công dân.
Pháp chế được hiểu là sự đòi hỏi các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà

Thứ nhất, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự là các cơ quan nhà nước
nên hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan này phải tuân thủ các quy định của
pháp luật chung và pháp luật tố tụng hình sự riêng. Theo quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Toà án với lần lượt giữ các chức năng điều tra, truy tố và xét xử. Vì
thế, hoạt động của các cơ quan này theo quy định của tố tụng để thực hiện tốt
chức năng đó.
Thứ hai, đối tượng tác động của hoạt động tố tụng hình sự chính là con
người bị nghi đã thực hiện một tội phạm. Bảo đảm pháp chế chính là nhằm
bảo về quyền lợi cho Nhà nước, cá nhân bị tội phạm xâm hại đến và ngay
chính cả người bị nghi đã thực hiện tôi phạm. Khi chưa có bản án kết tội có
hiệu lực pháp luật của Toà án thì không ai bị coi là có tội cho nên người bị
nghi đã thực hiện tội phạm vẫn được đảm bảo các quyền lợi của mình theo
các quy chế pháp lý chung của thế giới về quyền con người. Bảo đảm pháp
chế trong quá trình tố tụng không những bảo đảm việc chứng minh tội phạm
khách quan, toàn diện mà còn góp phần nhanh chóng tìm ra sự thật của vụ án.
Sẽ là công bằng khi có đủ cơ sở chứng minh một người có tội và áp dụng các
biên pháp cưỡng chế tương xứng với hành vi mà họ đã gây ra cho xã hội. Đó
là hậu quả pháp lý khó tránh khỏi khi đã xâm hại đến các quan hệ xã hội được
luật hình sự bảo vệ. Đồng thời với việc chứng minh tội phạm, quyền lợi của
cá nhân người bị hại, của các cơ quan tổ chức bị hành vi phạm tội xâm hại
đến mới được bảo vệ. Như vậy, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố
tụng hình sự bảo đảm cho hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng đúng 17
hướng, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội trên cơ sở bảo vệ các
quyền lợi theo luật định đối với bị can, bị cáo, người bị hại và những người
tham gia tố tụng khác.
Thứ ba, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự chính

Tuy nhiên, đâu đó vẫn thấp thoáng dấu hiệu pháp luật của kẻ mạnh, kẻ có tiền
nên không tránh khỏi sự bảo đảm pháp chế mang tính chất hình thức. Cho
nên, mặc dù sống tại các nước phát triển trên thế giới nhưng không phải tất cả
người dân được đối xử bình đẳng mới dẫn đến tệ phân biệt chủng tộc, phát
xít, côn đồ…Điều này tất yếu dẫn đến quá trình tố tụng hình sự và xử lý tội
phạm không triệt để, nghiêm minh, bất bình đẳng giữa các thành phần xã hội.
Thực tế, đã có những cuộc đấu tranh pháp lý dai dẳng đòi bình đẳng của
người da màu trước sự vi phạm pháp luật trắng trợn của người da trắng không
bị xử lý. Điều đó cũng nói lên một bản chất vốn có không hề thay đổi cho dù
được che đậy kỹ của chủ nghĩa tự bản là một nền pháp chế không dành cho
tất cả mọi người.
Trái lại, trong chế độ các nước xã hội chủ nghĩa, sự phân biệt đối xử
không tồn tại mà chỉ có một tôn chỉ duy nhất “Sống và làm việc theo Hiến
pháp và Pháp luật”. Khi đã có hành vi trái pháp luật thì bất kể anh là ai cũng
phải chịu sự trừng phạt bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Trong lĩnh
vực tố tụng hình sự lại càng quan trọng và cần thiết. Sự bảo đảm pháp chế
không những được thể hiện ở hoạt động chấp hành pháp luật tố tụng một cách
triệt để của các cơ quan tiến hành tố tụng mà còn bảo vệ giá trị quyền tự do,
dân chủ của con người dù là tội phạm hay bị tội phạm xâm hại đến. Đặc trưng
bản chất của bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự cho
phép khẳng định một lần nữa tính ổn định và bền vững trong quá trình xây
dựng, phát triển nhà nước xã hội và công dân.

1.2. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền tố tụng nên hoạt động của các cơ quan này cũng phải tuân thủ 19


20
Việt Nam là Nhà nước xã hội chủ nghĩa với thể chế cộng hoà, văn bản
pháp quy là nguồn duy nhất của các ngành luật (không thừa nhận án lệ và tập
quán pháp). Đặc trưng cơ bản của pháp luật Việt Nam là tính chất hợp hiến
của các đạo luật và các văn bản dưới luật khác. Sự vi hiến là không thể chấp
nhận được và phải bị loại trừ ngay vì nó đi ngược lại tinh thần và tôn chỉ của
Hiến pháp. Hiến pháp có một vị trí đặc biệt trong hệ thống pháp luật Việt
Nam. Các chế định, các quy phạm pháp luật Hiến pháp là cơ sở pháp lý cho
việc xây dựng mới, sửa đổi hoặc huỷ bỏ các chế định, quy phạm của các
ngành luật khác. Vì thế, Hiến pháp là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất. Các
quy định của Hiến pháp là nguồn, căn cứ cho tất cả các ngành luật khác. Các
luật không được mâu thuẫn với Hiến pháp mà phải hoàn toàn phù hợp, nếu
mâu thuẫn thì chỉ quy phạm Hiến pháp mới có hiệu lực.
Tố tụng hình sự là hoạt động được điều chỉnh bởi ngành luật tố tụng
hình sự. Những nguyên tắc của Hiến pháp và quy phạm của Hiến pháp về
lĩnh vực có liên quan làm cơ sở ban hành luật tố tụng hình sự. Theo điều 12
Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2002) quy định “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp
luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, không
riêng gì trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà trong tất cả các ngành các cấp đều
đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước phải được tiến
hành đúng pháp luật; mọi cán bộ, nhân viên nhà nước phải nghiêm chỉnh
tuyệt đối chấp hành pháp luật khi thay mặt nhà nước thực hiện quyền lực
nhân dân. Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa chính là bảo đảm hoạt động
bình thường, đúng đắn của các chủ thể. Cho nên, việc kiểm tra, giám sát
thường xuyên hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng như xử lý triệt để
các vi phạm pháp luật cũng chính là cơ sở để tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa. Đây là công việc thường xuyên, liên tục và lâu dài, là phương hướng
hành động của tất cả các cơ quan nhà nước. Pháp chế không bảo đảm thì
không thể tồn tại pháp quyền.

trong xã hội, bảo vệ quyền lợi và thế lực cho giai cấp mình. Trong thời kỳ
này, Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long được coi là mẫu mực trong hệ 22
thống pháp luật phong kiến khi có những quy định khá cụ thể và chi tiết về
trình tự, thủ tục tố tụng hình sự. Mặc dù hai bộ luật trên không tránh khỏi bản
chất giai cấp bóc lột sâu sắc nhưng phần nào đó cũng bảo vệ quyền lợi chính
đáng của người dân.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đánh dấu sự hình thành và
phát triển của Luật tố tụng hình sự hiện đại. Với trình độ lập pháp còn hạn
chế cũng như việc tiếp tục phải chống thù trong giặc ngoài nên pháp điển hóa
khó khăn và chúng ta chưa có một Bộ luật tố tụng hình sự độc lập. Các quy
định về cách thức, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng rời rạc tại nhiều văn
bản pháp lý khác nhau dưới dạng chỉ thị, sắc lệnh, các luật của ngành đơn
thuần như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Luật tổ chức Tòa án nhân
dân năm 1960… Thắng lợi của chiến dịch mùa xuân 1975 đã đưa đất nước ra
khỏi chiến tranh, thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Việc xóa bỏ cơ chế kinh tế
tập trung, quan liêu bao cấp, từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường là
tiền đề quan trọng cho sự ra đời và phát triển của nhiều ngành luật, trong đó
có Luật Tố tụng hình sự.
Ngày 28 tháng 06 năm 1988, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự. Đây là Bộ luật tố tụng
hình sự đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, quy định trình tự, thủ
tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự nhằm đảm bảo quá
trình tố tụng hình sự được áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước. Bộ luật
tố tụng hình sự 1988 đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân và củng cố nền kinh tế thị trường non trẻ. Bộ luật tố
tụng hình sự 1988 gồm 286 điều và những nguyên tắc cơ bản được quy định
tại chương I. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng

tiễn. Theo đó, yêu cầu hoạt động của mọi chủ thể phải tuân theo quy định của
Bộ luật, lấy đó là kim chỉ nam cho các quyết định, hành vi tố tụng, phương
hướng hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng. Nguyên tắc này được quy
định chi tiết nhằm đảm bảo được mục đích của nguyên tắc, tạo ra cơ sở pháp
lý để ban hành các quyết định cũng như xã hội thực hiện cơ chế giám sát đối 24
với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, toàn bộ quá trình tố
tụng được điều chỉnh ở các chương còn lại của Bộ luật nhưng luôn lấy yếu tố
bảo đảm pháp chế là phương hướng hành động của mình.
Tóm lại, kể từ khi ra đời, pháp chế luôn được bảo đảm với những mức
độ khác nhau (kể cả trong thời kỳ phong kiến) để duy trì trật tự và sự ổn định
của các quan hệ xã hội. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
tố tụng hình sự được ghi nhận lần đầu tiên tại Bộ luật tố tụng hình sự 1988
tuy còn sơ sài và khá chung chung nhưng cơ bản thể hiện được tinh thần của
pháp luật. Với trình độ lập pháp ngày càng nâng cao mà nguyên tắc này được
luật hóa chi tiết. Quy định này cũng nhằm quy kết trách nhiệm cho các chủ
thể thực hiện không đúng quy định của pháp luật từ đó có cơ chế xử lý một
cách thích đáng. Bộ luật tố tụng hình sự 2003 ghi nhận triệt để và sâu sắc,
làm nền tảng tồn tại của nguyên tắc giữ vai trò là phương hướng của mọi hoạt
động tố tụng hình sự. Với bản chất pháp luật luôn lấy văn bản pháp luật là
nguồn trực tiếp và duy nhất, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về
nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự đã làm
cho các giá trị của nó được phát huy trong thực tiễn, góp phần thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ đề ra: “Bộ luật tố tụng hình sự góp phần bảo chế độ xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa đồng thời giáo dục mọi
người ý thức tuân thủ pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”.
(1)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status