LUẬN VĂN: Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong tổ chức và hoạt động của Hải quan
Việt Nam

1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Điều 12 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 (sửa đổi,
bổ sung năm 2001) khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (pháp chế XHCN).
Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và
chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp, pháp luật.

- Hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam vẫn còn
có nhiều bất cập, thiếu tính ổn định, thiếu tính khả thi, chưa phù hợp, đáp ứng kịp thực
tiễn đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, chưa phù hợp với các điều ước quốc tế
mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Công tác rà soát, kiểm tra việc xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động hải quan vẫn còn thiếu chủ động,
chưa trở thành yếu tố góp phần tích cực vào việc hoàn thiện, đổi mới cơ cấu tổ chức,
hoạt động hải quan.
- Sự tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật hải quan của một bộ phận cán
bộ, công chức hải quan và tổ chức, cá nhân hoạt động xuất nhập khẩu vẫn còn không
nghiêm dẫn đến phát sinh tiêu cực, phiền hà, tham nhũng, gian lận thương mại, buôn 3
lậu, trốn thuế, lừa đảo rút "ruột" ngân sách nhà nước điều này tác động không nhỏ đến
đời sống kinh tế - xã hội, kinh tế đối ngoại, đầu tư, du lịch, gây mất lòng tin của Đảng,
Nhà nước, nhân dân đối với hệ thống tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam.
- Cơ chế đảm bảo cho việc tuân thủ và chấp hành nghiêm minh pháp luật, pháp
chế hải quan còn thiếu rõ ràng, minh bạch, chưa hiệu quả, cũng như chưa đủ tính cưỡng
chế đảm bảo duy trì việc tuân thủ và thực hiện pháp luật một cách thường xuyên, liên
tục và đồng bộ
Vì các lý do trên tôi chọn đề tài: "Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam" để nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ
Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp chế XHCN là một trong những phạm trù pháp lý cơ bản có ý nghĩa cả về
mặt lý luận và thực tiễn của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội. Vì vậy được nhiều học
giả quan tâm nghiên cứu, xem xét trên nhiều bình diện và nhiều khía cạnh khác nhau.
Các công trình nghiên cứu về pháp chế XHCN tiêu biểu cả trong và ngoài nước
có thể chia thành hai nhóm:
Nhóm một là các công trình nghiên cứu về pháp chế nói chung:

- "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa về kinh tế trong quản lý nhà nước nền
kinh tế thị trường định hướng pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay", Luận án
Phó tiến sĩ Luật học của Quách Sĩ Hùng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
1996;
- "Tăng cường pháp chế trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở nước ta hiện
nay", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Huy Bằng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 2001;
- "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà
Nội", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Chí Dũng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 2003
Các công trình đều đưa ra khái niệm pháp chế XHCN nói chung và khái niệm,
đặc trưng vai trò và giải pháp tăng cường pháp chế XHCN trên từng lĩnh vực cụ thể.
Từ tình hình nghiên cứu trên cho thấy, đến nay chưa có công trình khoa học nào
trực tiếp nghiên cứu "Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt
động của Hải quan Việt Nam". Mặc dù vậy, các công trình đã công bố nêu trên là tài
liệu tham khảo có giá trị để nghiên cứu và viết hoàn thiện đề tài luận văn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Về đối tượng nghiên cứu của luận văn: trên cơ sở nghiên cứu vai trò của
pháp chế XHCN, luận văn nghiên cứu đặc điểm và nội dung vai trò của pháp chế
XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan. Nghiên cứu thực trạng, tìm hiểu 6
nguyên nhân của thực trạng vai trò pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của
Hải quan. Luận giải các giải pháp nhằm bảo đảm vai trò pháp chế trong tổ chức và
hoạt động của Hải quan Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động
của toàn ngành Hải quan.

Nam". Vì vậy, có những điểm mới cụ thể sau:
- Xác định khái niệm, nội dung vai trò của pháp chế trong tổ chức và hoạt động
của Hải quan Việt Nam. 8
- Chỉ ra được những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những ưu điểm, tồn
tại về vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan hiện hành.
- Xác lập hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo vai trò của pháp chế
XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam.
7. ý nghĩa của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về pháp chế
XHCN trong lĩnh vực cụ thể.
- Về thực tiễn: Kết quả luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ
quan nghiên cứu; sinh viên các trường đại học, cao đẳng và những người quan tâm đến
lĩnh vực này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được
kết cấu thành 3 chương, 8 mục.
Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức
và hoạt động của Hải quan Việt Nam
Chương 2: Thực trạng vai trò pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt
động của Hải quan Việt Nam 9
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam hiện nay
thực thi chính sách về các quan hệ chính trị, kinh tế, văn hoá với các nước khác, là công
vụ "đóng, mở" để đẩy mạnh sự giao lưu, hợp tác quốc tế, bảo vệ lợi ích, chủ quyền an
ninh kinh tế và an ninh quốc gia.
Trong đời sống chính trị, kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, vị trí, vai trò của Hải
quan được thể hiện chủ yếu ở những phương diện sau đây:
Một là, mỗi quốc gia, lãnh thổ tự trị đều xác định Tổ chức Hải quan là một công
cụ quan trọng trong việc bảo hộ, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế sản xuất hàng hoá
của nước mình. Thông qua hàng rào hải quan để kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ hàng hoá,
phương tiện xuất - nhập khẩu, xuất - nhập cảnh, quá cảnh; đấu tranh, ngăn chặn, đấu
tranh mạnh mẽ với các hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ,
qua biên giới. Tổ chức Hải quan đã góp phần đảm bảo cho nền kinh tế ổn định, bảo hộ
sản xuất. tiêu dùng trong nước. Mặt khác, Tổ chức Hải quan đã trở thành công cụ quan
trọng trong việc bảo vệ hàng rào thuế quan góp phần vào điều tiết các hoạt động kinh tế
mỗi quốc gia. cũng như thông qua thu, nộp thuế đã góp phần không nhỏ vào nguồn tài
chính tạo lên quốc khố.
Hai là, tổ chức Hải quan và hoạt động của Hải quan được xác định là một trong
những công cụ góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội của mỗi nước. Vai trò này của Hải quan được thể hiện ở những hoạt động phát hiện,
xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật lĩnh vực hải quan, đảm bảo các quy tắc quản lý 12
nhà nước về hải quan được tôn trọng, bảo vệ an ninh tư tưởng, văn hoá, an toàn vệ sinh
- dịch tễ môi trường, sức khoẻ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, kịp thời
ngăn chặn những hành động đe doạ lợi ích, chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích của
người kinh doanh.
Ba là, tổ chức Hải quan, hoạt động hải quan góp phần quan trọng đáng kể vào việc
cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài, thúc đẩy và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
của mỗi quốc gia. Bởi vì, thông qua việc xây dựng, ban hành, thực thi luật lệ, chính sách
hải quan có liên quan đến đầu tư nước ngoài, Tổ chức Hải quan và hoạt động hải quan

của Bộ Tài chính; song Bộ Tài chính là thành viên Chính phủ và Chính phủ lại được tổ
chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Điều này cho thấy, hệ thống các
cơ quan hải quan từ trung ương đến địa phương, vị trí của nó có tính đặc thù so với các
cơ quan quản lý hành chính nhà nước chuyên ngành khác. Theo các quy định pháp luật,
Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính, Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh thành phố trực
thuộc Tổng cục Hải quan, Chi cục Hải quan cửa khẩu, và ngoài cửa khẩu trực thuộc Cục
Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố, không lệ thuộc vào chính quyền địa phương các cấp
về điều hành, tổ chức hoạt động.
Mặt khác, cũng cần phải thấy một cách rõ ràng là: vị trí pháp lý đặc biệt của Hải
quan các cấp mặc dù được hình thành trên cơ sở nguyên tắc tập trung thống nhất, nhưng
không phải là biệt lập, đóng kín, mà chỉ có tính độc lập tương đối, nó bị giám sát bởi
các cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương và địa phương trong vai trò là các cơ
quan kiểm tra, giám sát các cơ quan hành pháp, hành chính nhà nước; và có mối quan
hệ phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên ngành khác ở các cấp để thực hiện các chức 14
năng quản lý nhà nước; mối quan hệ phối hợp với Uỷ ban nhân dân các cấp trong hoạt
động phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại trên địa bàn khu vực thuộc địa giới
hành chính của từng địa phương.
- Chức năng, nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam.
Cũng như hầu hết các cơ quan hành chính khác của Nhà nước, chức năng quản lý
nhà nước về hải quan đã được chính thể Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) hết sức quan tâm, coi trọng, kể từ ngay những
ngày đầu tiên khi nước Việt Nam (mới) được thành lập.
Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, chức năng của Hải quan đã
có có nhiều thay đổi lớn, sâu sắc. Trước tiên, các chức năng được bổ sung, đổi mới và
ghi nhận trong nhiều văn bản có giá trị pháp lý cao, như Pháp lệnh Hải quan (ngày 20-
6-1990), Luật Hải quan (29-6-2001) và Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung một số điều
ngày 26/5/2005. Hải quan Việt Nam từ chức năng chuyên chính" là chủ yếu để "kiểm

Thứ ba, tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu- nhập
khẩu. Nhiệm vụ này được hình thành ngay từ khi Nhà nước thành lập Sở Thuế quan và
Thuế gián thu và được kế thừa phát triển cho đến ngày nay. Nhiệm vụ này đảm bảo một
phần nguồn thu cho quốc khố từ nguồn thuế và thu khác từ các hoạt động xuất -nhập
khẩu quá cảnh hàng hoá, xuất -nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải.
Thứ tư, kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với
hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối
với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Phải nói rằng, nhiệm vụ này được phái sinh từ ba
nhiệm vụ nêu trên. 16
Hai là, tổ chức, hoạt động Hải quan Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các
cơ quan khác.
- Mối quan hệ của Tổ chức Hải quan với cơ quan quản lý nhà nước cấp trên.
Hiện nay, Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, Bộ Tài chính
nằm trong cơ cấu tổ chức Chính phủ, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung
dân chủ, trong khi đó. Hải quan Việt Nam lại tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc "tập
trung, thống nhất". Đây là điềm hết sức đặc thù trong tổ chức bộ máy Chính phủ, cho
thấy dù về tổ chức có sự thay đổi, song vị trí. chức năng, nguyên tắc tổ chức và hoạt
động, nhiệm vụ. quyền hạn của ngành Hải quan vẫn được khẳng định theo nguyên tắc
này.
- Mối quan hệ giữa Tổng cục Hải quan với các cấp, đơn vị hải quan trực thuộc.
Cơ quan hành chính nhà nước chủ yếu chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà
nước lĩnh vực hải quan là các cơ quan Hải quan, gọi chung là Hải quan Việt Nam. Theo
Luật Hải quan, "Hải quan Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập
trung, thống nhất. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan thống nhất quản lý, điều hành
hoạt động của Hải quan các cấp; Hải quan cấp dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hải
quan cấp trên".
Theo quy định trên. Hải quan Việt Nam-cơ quan hành chính được Nhà nước trao

nhân đó báo ngay cho cơ quan hải quan để kiểm tra, xử lý". Song, để quy định này có
thể thực hiện được trên thực tế đòi hỏi sự tự giác hợp tác, tôn trọng nguyên tắc "vì lợi
ích quốc gia", "vì lợi ích của công dân" của các cơ quan chức năng chuyên ngành hữu 18
quan. ở ngoài địa bàn hoạt động hải quan, các cơ quan quản lý chuyên ngành khác của
Nhà nước và cơ quan hải quan tổ chức các hoạt động phối hợp phòng, chống buôn lậu,
gian lận thương mại, vận chuyển trái phép qua biên giới theo quy định của pháp luật.
Trong mối quan hệ này, các cơ quan hải quan đóng vai trò là cơ quan thực hiện chức
năng phối hợp.
- Mối quan hệ giữa Hải quan với một số cơ quan quyền lực nhà nước và hệ
thống chính trị.
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan, thực hiện thẩm quyền giám sát,
ngoài các cơ quan, tổ chức, cá nhân, như Quốc hội, Đại biểu Quốc hội theo Luật tổ chức
Quốc hội và Luật giám sát Quốc hội, và thêm vào đó còn gồm các cơ quan, tổ chức, cá
nhân được quy định trong Luật Hải quan, gồm: i) Hội đồng nhân dân các cấp trong
phạm vi chức năng, nhiệm vụ. quyền hạn của mình giám sát việc thi hành pháp luật hải
quan; ii) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận động viên
nhân dân nghiêm chỉnh thi hành pháp luật hải quan; giám sát việc thi hành pháp luật hải
quan theo quy định của pháp luật; iii) nhân dân, chủ thể thực hiện giám sát đối với các
hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về hải quan. Nhân dân thực hiện giám sát
thông qua các đại biểu của mình ở các cơ quan quyền lực Trung ương hoặc địa phương,
hoặc thực hiện các quyền khiếu nại, tố cáo các cơ quan, cán bộ. công chức đã vi phạm
hoặc cho là đã vi phạm pháp luật lĩnh vực hải quan.
Hệ thống các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền lực giám sát đối với các
hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan nói chung, của các cấp
hải quan, cán bộ. công chức hải quan nhằm đảm bảo cho việc thực thi hệ thống pháp
luật hải quan có hiệu quả trên thực tế, ngăn chặn, hạn chế các trường hợp thực thi nhiệm
vụ vượt thẩm quyền, lạm quyền cũng như các tiêu cực khác.

chủ nghĩa;
- Pháp chế là một phương pháp quản lý nhà nước, phương pháp thực hiện những
nhiệm vụ chuyên chính giai cấp, một bộ phận cấu thành của nền dân chủ chân chính.
- Pháp chế có quan hệ chặt chẽ với dân chủ, như là một bộ phận của nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa.
- Pháp chế có mối liên hệ chặt chẽ với văn hoá, với ý thức tôn trọng, xử sự bằng
pháp luật, niềm tin vào giá trị, tác dụng của pháp luật đối với người dân, đối với Nhà
nước.
Thứ hai, tiếp cận từ quan điểm của Đảng ta về pháp chế XHCN trong các văn
kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đến lần thứ X, Đảng ta đều coi pháp chế XHCN
là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Muốn nâng cao hiệu lực, hiệu quả
của quản lý Nhà nước và phát huy dân chủ XHCN phương pháp chủ yếu, tổng thể, toàn
diện và thường xuyên là tăng cường pháp chế XHCN.
Có thể nói rằng các Nghị quyết của Đảng trong nhiệm kỳ khoá IX và X về xây
dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật, về cải cách Tư pháp, về đẩy mạnh cải cách hành
chính là đỉnh cao tư duy pháp lý nói chung và tư tưởng, quan điểm nội dung về xây
dựng nền pháp chế XHCN ở nước ta nói riêng.
Nghị quyết của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Nghị quyết số 48 ngày
24/5/2005) tạo tiền đề cơ sở và "công cụ" hữu hiệu cho "quản lý Nhà nước bằng pháp 21
luật. Và đó cũng là cơ sở hình thành của pháp chế XHCN nói chung và pháp chế XHCN
trên các lĩnh vực xã hội, trong đó có lĩnh vực tổ chức hoạt động của Hải quan Việt Nam.
Tiếp theo chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 -
2010 (ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001
của Thủ tướng Chính phủ), Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành TW khoá X
về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà
nước, ngày 01 tháng 8 năm 2007. Trong Nghị quyết quan trọng này Đảng ta đã xác định

phạm pháp luật ấy?.
Một ý kiến khác của G.B Ataman Chúc, ông cho rằng "pháp chế là hệ thống các
quy tắc, quy phạm phương tiện và các bảo đảm pháp lý tương ứng với chúng mà các cơ
quan nhà nước thừa nhận đảm bảo thực hiện thực tế các đạo luật và các văn bản dưới
luật [3, tr.310]
ý kiến trên tác giả cũng cho rằng pháp chế bao gồm cả pháp luật, các bảo đảm
pháp lý và bảo đảm pháp luật được thực hiện trong thực tế.
ở Việt Nam có các định nghĩa về pháp chế đáng chú ý sau đây: 23
- GS - TSKH Đào Trí úc cho rằng: "pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống
pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại một trật
tự pháp luật và kỷ luật, là sự tuân thủ và thực hiện đầy đủ pháp luật trong tổ chức và
hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan, đơn vị tổ chức và đối với công dân" [56,
tr.680].
- Trong tài liệu học tập nghiên cứu môn lý luận chung về nhà nước pháp luật,
Tập 1, được Bản lý luận chính trị, định nghĩa: "pháp chế XHCN là chế độ thực hiện
pháp luật nghiêm minh thống nhất và tự giác của các cơ quan nhà nước các tổ chức
chính trị - xã hội, đơn vị kinh tế, lực lượng vũ trang, các cán bộ công chức nhà nước và
mọi công dân" [24, tr.293].
"Pháp chế XHCN là một chế độ của đời sống chính trị xã hội, trong đó nhà nước
quản lý xã hội bằng pháp luật, các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân, các
tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ
chức xã hội, các đơn vị kinh tế và mỗi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến
pháp, pháp luật.
Mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật XHCN được quy định tại Điều
12 Hiến pháp năm 1992. Đồng tình với các khái niệm trên, theo tôi có thể hiểu pháp chế
XHCN theo những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Pháp chế là chế độ của đời sống chính trị xã hội: pháp luật và pháp chế

pháp luật. Vi phạm pháp luật là một hiện tượng xã hội. Nhưng pháp chế được thể hiện
trong việc dùng pháp luật, căn cứ vào pháp luật, đối chiếu với pháp luật mà xử lý mọi

Trích đoạn Tăng cường sự giám sát, kiểm tra, kiểm soát của các thiết chế quyền lực công cộng đối với tổ chức và hoạt động của hải quan Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra sự tuân thủ pháp luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan hải quan Nâng cao năng lực tổ chức và hoạt động của hải quan các cấp Đẩy mạnh hoạt động luyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao trình độ văn hóa, năng lực áp dụng pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hải quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status