MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tai nạn giao thông đã và đang là vấn đề được xã hội quan tâm sâu sắc,
mang tính toàn cầu mà tất cả các quốc gia trên thế giới không phân biệt các
nước phát triển, nước đang phát triển hay nước kém phát triển đều phải đương
đầu và nó đã là thách thức lớn của cả thế giới. Về kinh tế, tai nạn giao thông
và ùn tắc giao thông hàng năm làm thiệt hại từ 1% đến 3% GDP chi phí hàng
năm của các nước đang phát triển, ước tính vào khoảng trên 100 tỷ USD.
Tai nạn giao thông ở Việt Nam cũng nằm trong tình trạng chung của các
nước đang phát triển, TNGT ở Việt Nam tăng liên tục trong nhiều năm và tính
nghiêm trọng ngày càng gia tăng (bình quân trên 13 nghìn người chết do
TNGT và khoảng 29.000 ca chấn thương so não/năm). TNGT luôn là nỗi ám
ảnh trong đời sống xã hội và là một trong những nguyên nhân cản trở sự phát
triển kinh tế của đất nước.
Những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã nhận thức được mối hiểm
hoạ của tai nạn giao thông, để kiềm chế và giảm thiểu TNGT Ban Bí thư TW,
Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo để ban hành và sửa đổi luật, các nghị
định quy định và thực hiện các biện pháp cấp bách phù hợp với tình hình mới.
Tuy nhiên, hiệu quả chưa cao do ý thức chấp hành luật của người tham gia
giao thông thấp, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông chưa đồng bộ và yếu
kém, hiệu lực quản lý Nhà nước chưa cao.
Ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh An Giang nói riêng có hệ
thống sông, kênh đa dạng, mạng lưới giao thông thủy trãi rộng, nối liền các
địa phương trong vùng đã tạo nên một hệ thống giao thông thủy thuận tiện,
hiệu quả. Đồng thời loại hình vận tải thủy được xem là phương thức vận tải
ưu việt và hiệu quả nhất vì giá cước rẻ, có thể vận chuyển được các loại hàng
hóa cồng kềnh quá khổ, siêu trường, siêu trọng mà hệ thống hạ tầng đường bộ
chưa đáp ứng được nên hoạt động vận tải đường thủy ở An Giang và Đồng
bằng sông Cửu Long hoạt động rất sôi động.
Trong những năm qua, Tỉnh ủy và UBND tỉnh An Giang đã huy động toàn
bộ sức mạnh hệ thống chính trị của tỉnh vào cuộc để triển khai và thực hiện
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề pháp chế XHCN và pháp chế XHCN trên một số lĩnh vực cụ thể
đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu. Tiêu biểu có các công trình như:
- "Tăng cường tính thống nhất của pháp chế, nghiêm chỉnh tuân theo pháp
luật và chấp hành pháp luật" của Đào Trí Úc, Tạp chí Cộng sản, tháng 3/1995.
- "Tác dụng của pháp chế đối với cách mạng văn hoá trong xây dựng
nếp sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa" của Ngô Bá Thành, Tạp chí
Luật học, số 1/1995.
- Tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động của lực lượng công an
nhân dân trên lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay", Luận án
Phó Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Phùng Hồng, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, 1994.
- "Tăng cường pháp chế XHCN trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ nhân
dân ở nước ta hiện nay", luận án Phó tiến sĩ Luật học của Nguyễn Nhật Hùng,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1996.
- "Tăng cường pháp chế XHCN về kinh tế trong quản lý nhà nước nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay", luận án Phó tiến sĩ Luật học
của Quách Sỹ Hùng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1996.
- "Tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động lập pháp lập qui ở nước ta
hiện nay", luận án tiến sĩ Luật học của Đỗ Ngọc Hải, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, 2001.
- "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong xét xử các vụ án hình sự ở
Nghệ An hiện nay", luận văn thạc sĩ luật của Lê Văn Thảo, 2004, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành
chính ở nước ta hiện nay", luận văn Thạc sĩ luật của Đặng Thanh Sơn, 2003;
Trong lĩnh vực giao thông vận tải có các công trình như:
- "Tai nạn giao thông đường bộ, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
phòng ngừa của lực lượng cảnh sát giao thông", đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ Công an do Trần Đào chủ trì - 1998;
- Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; chủ trương,
đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước, kế thừa có
chọn lọc hệ thống các công trình nghiên cứu có liên quan về pháp chế
XHCN.
- Phương pháp nghiên cứu: trong quá trình thực hiện đề tài luận văn sử
dụng các phương pháp lịch sử - cụ thể, phân tích - tổng hợp, thống kê, so
sánh để làm rõ những nội dung nghiên cứu của đề tài.
6. Đóng góp khoa học mới của luận văn
- Đưa ra khái niệm và các đặc trưng của pháp chế XHCN trong lĩnh vực
giao thông đường thủy;
- Chỉ ra được thực trạng và nguyên nhân thực trạng pháp chế xã hội chủ
nghĩa trong lĩnh vực giao thông ở tỉnh An Giang;
- Đề xuất giải pháp bảo đảm pháp chế XHCN trong lĩnh vực giao thông đường
thủy tỉnh An Giang hiện nay.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn làm phong phú thêm lý luận về pháp
chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực cụ thể - lĩnh vực giao thông đường thủy;
- Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị trước hết, cho việc xây dựng, tổ
chức, thực thi pháp luật về giao thông đường thủy ở tỉnh An Giang. Đồng thời
là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc xây dựng chiến lược đảm bảo trật tự
an toàn giao thông đường thủy và tăng cường pháp chế XHCN trong lĩnh vực
này trong thời gian tới.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
3 chương, 8 mục.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY
1.1. KHÁI NIỆM, NGUYÊN TẮC VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM PHÁP
là "pháp luật" nhưng không phải pháp luật trên giấy mà "pháp luật đang sống"
nghĩa là "ở trạng thái đang tác động vào đời sống xã hội".
- Theo cách tiếp cận rộng hơn, GS TSKH Đào Trí Úc cho rằng "pháp chế
là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan
hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ luật, là sự tuân
thủ và thực hiện đầy đủ pháp luật trong tổ chức hoạt động của Nhà nước, các
cơ quan, đơn vị, tổ chức và đối với mọi công dân" [33]. Theo đó, pháp chế
gồm ba nội dung chủ yếu: sự hiện diện của một hệ thống pháp luật; sự tồn tại
một trật tự pháp luật và kỷ luật trên cơ sở pháp luật và sự tuân thủ, thực hiện
nghiêm chỉnh pháp luật của các chủ thể.
Còn theo Giáo trình lý luận chung Nhà nước và Pháp luật của Trường Đại
học Luật Hà Nội thì khái niệm pháp chế được hiểu là: "một chế độ đặc biệt
của đời sống chính trị - xã hội đặc biệt, trong đó tất cả các cơ quan nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên tổ
chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một
cách nghiêm chỉnh triệt để và chính xác" [31, tr.524-525]. Theo quan niệm
này, khái niệm pháp chế có nội hàm rộng, coi pháp chế là chế độ đặc biệt
của đời sống chính trị xã hội; chứa đựng tư tưởng tôn trọng pháp luật của
các chủ thể, đòi hỏi các chủ thể này phải chấp hành nghiêm chỉnh, triệt để
và chính xác pháp luật.
Theo quan điểm của chúng tôi, tất cả những quan niệm trên điều có chứa
đựng nhân tố cần thiết của pháp chế và có tính hợp lý nhất định. Tuy nhiên để
đưa ra khái niệm pháp chế đầy đủ cần hàm chứa các nội dung:
- Cần phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, khoa học.
- Đòi hỏi sự chấp hành, thực thi nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác pháp luật
của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật.
Theo đó, pháp chế XHCN được hiểu là sự đòi hỏi các chủ thể tham gia vào
các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh phải nghiêm chỉnh chấp hành, tuân
thủ và thực hiện đầy đủ, triệt để, tự giác các quy định của pháp luật.
Với quan niệm pháp chế nêu trên, hoạt động pháp chế xã hội chủ nghĩa tập
minh của pháp luật hoàn toàn không phải ở chỗ hình phạt nặng mà ở chỗ đã
phạm tội thì không thoát khỏi sự trừng phạt, không phân biệt vi phạm pháp
luật nhỏ hay những vụ việc vi phạm pháp luật lớn gây nguy hiểm cho xã
hội. Để đấu tranh chống và phòng ngừa những vi phạm pháp luật và tội
phạm có hiệu quả cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và đấu tranh
kiên quyết kịp thời đối với các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm; kịp
thời xử lý các hành vi vi phạm pháp luật dù là vi phạm nhỏ, không được bỏ
qua hành vi vi phạm pháp luật; chống lại những hành vi bao che, nương
nhẹ, nể nang.
1.1.2. Các nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa là những tư tưởng chỉ đạo thể
hiện bản chất và đặc điểm của pháp chế xã hội chủ nghĩa và nó xuyên suốt
trong cả quá trình vận động của pháp chế xã hội chủ nghĩa, bao gồm các
nguyên tắc sau:
Nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất của pháp chế trên qui mô toàn
quốc: nghĩa là pháp luật phải được thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn
lãnh thổ, bảo đảm cho các công dân ở mọi miền đều bình đẳng trước pháp
luật; Pháp chế thống nhất trên qui mô toàn quốc và chỉ có một nền pháp
chế duy nhất, không có và không thể có pháp chế của địa phương này hay
pháp chế của địa phương khác. Đây là nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất
của pháp luật, tạo điều kiện cho hệ thống pháp luật đó phát triển ngày càng
hoàn thiện.
Nguyên tắc bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật: nhằm bảo
đảm tính thống nhất của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Trong hệ thống pháp luật,
các văn bản pháp luật tồn tại trong mối quan hệ phụ thuộc và qui định lẫn
nhau, Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, Hiến pháp là đạo luật
cơ bản của nhà nước, những văn bản qui phạm pháp luật kể cả văn bản luật
đều phụ thuộc vào Hiến pháp, các văn bản qui phạm pháp luật của cấp dưới
phải phù hợp Hiến pháp và pháp luật;
Nguyên tắc bắt buộc chung đối với mọi người và không có ngoại lệ: tất cả
tăng cường nếu thiếu đi tính dân chủ. Bởi vì, chính pháp chế là bảo đảm
vững chắc để duy trì và thực hiện những nguyên tắc dân chủ xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tính tổ chức kỷ luật, thiết lập kỷ cương xã hội và công
bằng xã hội. Thực hiện dân chủ sẽ đảm bảo cho mọi người tự giác tuân
thủ thực hiện pháp luật và đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật và
tội phạm.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG CỦA PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY
1.2.1. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực giao thông
đường thủy
Để tìm hiểu khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực giao thông
đường thủy, trước tiên cần tìm hiểu các khái niệm về lĩnh vực đường thủy.
1.2.1.1. Một số khái niệm về lĩnh vực đường thủy
- Khái niệm về hoạt động giao thông đường thủy:
Hoạt động giao thông là quan hệ xã hội xuất hiện trong quá trình vận động
của con người và phương tiện, hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường
thủy bao gồm:
Hoạt động của phương tiện thủy: là hoạt động của các tàu, bè, bến,
cảng, phương tiện khai thác nguồn lợi thủy sản và tài nguyên dưới lòng
sông (bao gồm cả phương tiện không gắn động cơ và phương tiện có gắn
động cơ).
Hoạt động của người điều khiển phương tiện (người lái phương tiện) là
người trực tiếp điều khiển (người lái tàu, thuyền) phương tiện và những người
tham gia điều khiển phương tiện (thủy thủ, thợ máy, hoa tiêu, phục vụ...);
Hoạt động của hành khách: là những người cùng tham gia giao thông
nhưng với tư cách là người được chuyên chở bởi phương tiện và người điều
khiển phương tiện;
Hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc kiểm tra, kiểm
soát các hoạt động sử dụng, xây dựng và khai thác giao thông đường thủy;
hoạt động bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy.
không dự liệu, có tính may rủi và không tránh được việc dẫn đến một hậu quả
không hay, không mong muốn đã xảy ra.
Từ những khái niệm về tai nạn giao thông, có thể hiểu tai nạn giao thông
đường thủy là sự kiện bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người.
Nó xảy ra, khi các đối tượng tham gia giao thông thủy đang hoạt động trên
đường giao thông thủy, đường chuyên dùng hoặc ở một địa bàn giao thông
thủy công cộng, nhưng do chủ quan, vi phạm các quy tắc an toàn giao
thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng
tránh, đã gây ra những thiệt hại nhất định cho tính mạng, sức khoẻ con
người hoặc tài sản.
(Đường giao thông thủy công cộng, địa bàn giao thông công cộng: là các
tuyến sông, kênh, hồ mà ở đó mọi người có thể tham gia giao thông; Đường
chuyên dùng: là đường vào bến cảng, âu luồng bốc dỡ hàng hóa...).
1.2.1.2. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực giao thông
đường thủy
Trong mỗi lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội thì pháp chế XHCN có
những nội dung đặc trưng riêng, cụ thể và tạo thành pháp chế trong lĩnh vực
ấy. Vì vậy, trong lĩnh vực giao thông đường thuỷ, pháp chế cũng có những
nội dung đặc trưng riêng của mình. Mặc dù vậy, pháp chế XHCN trong lĩnh
vực giao thông đường thuỷ không tồn tại độc lập tuyệt đối và tách rời pháp
chế XHCN nói chung; mà còn là bộ phận cấu thành hệ thống thống nhất của
pháp chế. Bởi vậy, khi xem xét khái niệm pháp chế trong lĩnh vực giao thông
đường thuỷ có thể tiếp cận từ các khía cạnh khác nhau như:
- Không đưa khái niệm pháp chế XHCN vào lĩnh vực giao thông đường
thuỷ vì pháp chế XHCN là thống nhất và chỉ có một pháp chế mà thôi. Pháp
chế XHCN trong lĩnh vực giao thông đường thuỷ là biểu hiện cụ thể của
pháp chế XHCN nói chung. Nếu theo cách tiếp cận này thì chỉ cần nghiên
cứu các chủ thể tham gia hoạt động giao thông đường thuỷ thực hiện pháp
luật về giao thông đường thuỷ như thế nào. Từ đó có các giải pháp tác động
tích cực để các chủ thể thực hiện các hành vi của mình phù hợp với yêu cầu
- Một là, pháp chế XHXN trong lĩnh vực giao thông đường thuỷ được quy
định bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường thuỷ do
nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành. Giao thông đường thuỷ là lĩnh vực
chuyên ngành nên các văn bản qui phạm pháp luật là do Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Bộ Giao thông Vận tải; các Bộ ngành khác
tham gia với tư cách có liên quan Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên & Môi
trường, Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ xây dựng ban hành, cụ thể:
Quốc Hội: ban hành Luật Giao thông đường thủy nội địa, là văn bản qui
phạm pháp luật chủ yếu để điều chỉnh các hoạt động về giao thông đường
thủy nội địa;
Chính phủ: ban hành các Nghị định qui định chi tiết hướng dẫn thực hiện
Luật Giao thông đường thủy nội địa, qui định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa. Tính đến hết năm 2007, Chính
phủ đã ban hành 07 Nghị định qui định và hướng dẫn thực hiện Luật Giao
thông đường thủy nội địa và nhiều văn bản qui phạm pháp luật có liên quan;
phê duyệt các quy hoạch, kế hoạch phát triển luồng, bến bãi, đội tàu...
Bộ Giao thông Vận tải: ban hành các văn bản qui phạm pháp luật như
hướng dẫn triển khai thực hiện Luật Giao thông đường thủy nội địa và Nghị
định của Chính phủ, ban hành các quyết định về qui chế, qui định chế độ, qui
tắc hoạt động cho người và phương tiện liên quan đến giao thông đường thủy
thủy nội địa.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành các văn bản mang tính chất qui phạm
pháp luật trong phạm vi cho phép như: Quyết định về việc công bố danh mục
đường thủy nội địa trên địa bàn do cấp tỉnh, huyện quản lý; cấm lưu thông hặc
hạn chế lưu thông trên các tuyến sống, kênh do tỉnh quản lý; qui hoạch vùng
nuôi, trồng, đánh bắt thủy sản, vùng nước được phép khai thác tài nguyên
khoáng sản...
- Hai là, về hoạt động áp dụng pháp luật, do đây là lĩnh vực chuyên ngành
nên việc áp dụng pháp luật giao thông đường thủy chủ yếu do các cơ quan
quản lý nhà nước chuyên ngành về giao thông đường thủy thực hiện, bao
cuộc sống. Muốn vậy, công tác giáo dục tuyên truyền phải được thực hiện
một cách đồng bộ, có chất chất lượng sao cho tất cả tổ chức, cá nhân khi tham
gia các hoạt động liên quan đến giao thông đường thủy luôn có ý thức tôn
trọng và tự giác chấp hành nghiêm pháp luật giao thông thủy.
- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành pháp luật
giao thông đường thủy và kịp thời phát hiện, kiên quyết xử lý nghiêm đối
với các vi phạm pháp luật về giao thông đường thủy cũng là một trong
những nội dung hết sức quan trọng. Điều này đòi hỏi cơ quan quản lý nhà
nước về giao thông đường thủy phải chấp hành trước tiên pháp luật về giao
thông đường thủy, bảo đảm việc thực hiện và áp dụng pháp luật về giao
thông đường thủy luôn được dân chủ; cán bộ thừa hành nhiệm vụ, người
được trao quyền phải nghiêm túc thực hiện việc phát hiện, xử lý kịp thời
đối với các vi phạm, kiên quyết chống lại các hành vi bao che, nương nhẹ
do nể nang để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật. Thực hiện tốt nội
dung này sự tuân thủ pháp luật trong xã hội sẽ được tăng cường, pháp chế
sẽ luôn được bảo đảm.
1.3. CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG
LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY
1.3.1. Điều kiện chính trị tư tưởng
Do tai nạn giao thông là có thể phòng và tránh được nên yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động giao thông đường thủy là ý thức của chủ
thể, nó phụ thuộc rất nhiều vào ý thức chủ quan của từng chủ thể khi tham
gia các hoạt động giao thông. Người tham gia giao thông, phương tiện
tham gia giao thông và cơ sở hạ tầng chuyên ngành đường thủy phải thực
hiện đúng và đầy đủ các qui tắc, qui định trong hoạt động giao thông
đường thủy nội địa.
Vì vậy, việc hiểu biết và ý thức tôn trọng, tự giác chấp pháp luật khi tham
gia các hoạt động giao thông đường thủy là hết sức cần thiết. Tuy nhiên đây là
hai vế của vấn đề, việc giáo dục cho tất các chủ thể nắm bắt về pháp luật giao
thông đường thủy là công việc khó khăn và chưa đủ, công việc khó khăn hơn
đường thủy nhận thức và có ý thức tự giác tuân thủ pháp luật.
1.3.3. Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện về trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến bảo đảm pháp chế trong lĩnh vực giao thông đường thủy.
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng: cơ quan quản lý nhà nước việc thực hiện
qui hoạch, xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông đường thủy hoàn chỉnh, để
các chủ thể tuân thủ và chấp hành nghiêm pháp luật khi tham gia hoạt động
giao thông thủy thì luồng lạch, bến bãi, hệ thống phao tiêu tín hiệu phải được
bảo đảm đầy đủ và đạt tiêu chuẩn kỹ thuật;
Thực hiện việc tổ chức đào tạo, quản lý người điều khiển và phương tiện
khi tham gia hoạt động giao thông đường thủy một các khoa học và hiệu quả,
nhất là đối với các phương tiện thủy phục vụ sinh hoạt của nhân dân.
Xây dựng chiến lược phát triển phương tiện: có kế hoạch để định hướng
và phát triển phương tiện vận tải thủy theo hướng an toàn hiện đại đáp ứng
nhu cầu vận tải ngày càng tăng cao.
Tiểu kết chương 1
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, loại hình vận tải thủy với tính
ưu việt do giá thành rẻ và ít bị hạn chế bởi giới hạn về khối lượng và trọng
lượng của hàng hóa vận chuyển, cộng với đặc thù của điều kiện sống gắn với
vùng sông nước nên ở địa bàn vùng đồng bằng sông Cửu Long loại hình vận
tải thủy có sự phát triển hơn ở những địa bàn khác. Chính vì đây là loại hình
vận chuyển phổ biến và có sức ảnh hưởng rất đến đời sống xã hội của nhân
dân tại khu vực này như vậy, nên đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật hoàn
chỉnh để làm cơ sở cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, người dân
hoạt động trong lĩnh vực vận tải thủy này làm thước đo chuẩn mực trong xử
sự, đồng thời cũng làm cơ sở pháp lý cho việc ngăn chặn, xử lý các vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường thủy, nhằm mục đích bảo đảm trật
tự an toàn giao thông đường thủy, phòng ngừa và hạn chế đến mức thấp
những thiệt hại về người và tài sản khi có tai nạn giao thông thủy xảy ra. Vì
vậy, vấn đề pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực giao thông đường thủy
khu giữa sông Tiền, sông Hậu. Cao dưới 1m50 phổ biến nhất ở phía hữu
ngạn sông Hậu.
Hình dạng đồng bằng phù sa ở An Giang có 3 dạng chính và 1 dạng phụ.
Đó là, dạng cồn bãi (cù lao), dạng lòng chảo (ở 2 bờ sông cao hơn và thấp dần
vào trong đồng), dạng hơi nghiêng (cao từ bờ sông Hậu rồi thấp dần vào nội
đồng đến tận ranh giới tỉnh Kiên Giang) và dạng gợn sóng (dạng phụ - gọi là
xép và rạch tự nhiên bị bồi lấp).
Đồng bằng ven núi ở An Giang được chia làm 2 kiểu: kiểu sườn tích và
kiểu đồng bằng phù sa cổ; Đồng bằng ven núi kiểu sườn tích hình thành trong
quá trình phong hóa và xâm thực từ các núi đá, sau đó được nước mưa bào
mòn và rửa trôi, rồi được dòng chảy lũ theo các khe suối chuyển tải xuống các
chân núi, tích tụ lâu ngày mà thành, có đặc tính hẹp, nghiêng từ 2° đến 5° và
có độ cao từ 5m đến 10m; Đồng bằng ven núi kiểu phù sa cổ có nguồn gốc từ
phù sa sông, với đặc tính là có nhiều bậc thang ở những độ cao khác nhau.
Mỗi bậc thang khá bằng phẳng hầu như không có độ nghiêng. Chênh lệch độ
cao giữa các bậc thang thường dao động từ 1m đến 5m.
An Giang là tỉnh biên giới giáp với Campuchia và là tỉnh đầu nguồn của
sông Tiền và sông Hậu. Ngoài hai sông chính là hệ thống sông nhánh và kênh
rạch chằng chịt, dòng chảy chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều nên có
hai con nước là nước ròng và nước lớn, mùa mưa chịu ảnh hưởng của lũ sông
Tiền và sông Hậu nước chảy một chiều ra biển (mùa nước đổ). An Giang có
hệ thống đường thủy nội địa có chiều dài khoảng 2.550,2Km (tương đương
74% so với tổng chiều dài đường bộ của cả tỉnh), trong đó: Trung ương quản
lý 14 tuyến sông với tổng chiều dài 361 km; do tỉnh quản lý 22 tuyến với
512,3Km, còn lại hệ hống các kênh rạch chằng chịt nối liền nhau có chiều dài
1.542,9 Km do các huyện, thị xã, thành phố quản lý. Vận tải thủy nội địa rất
thuận lợi nối liền các tỉnh thành trong khu vực và thành phố Hồ Chí Minh,
đặc biệt là với nước bạn Campuchia.
Tháng 7 và tháng 8 hàng năm thường có các nhiểu động nhiệt đới hoạt
động gây mưa to và dài ngày làm xuất hiện những trận lũ đầu mùa ở cả trung
yếu là công nghiệp chế biến, mặt hàng chủ lực của tỉnh là chế biến nông thủy