LUẬN VĂN:
Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
hoạt động kiểm toán nhà nước ở
Việt Nam
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Điều 12 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 (sửa đổi,
bổ sung năm 2001) khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và
mô lớn nhỏ khác nhau tại các đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước (NSNN) trên hầu
khắp các lĩnh vực, kể cả lĩnh vực dự trữ quốc gia, an ninh, quốc phòng và ngân sách
Đảng mà trọng tâm là kiểm toán báo cáo quyết toán của các bộ, ngành, các tỉnh và thành
phố trực thuộc trung ương, các Tổng công ty Nhà nước và các chương trình mục tiêu
quốc gia, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) trọng điểm của Nhà nước. Kết quả
kiểm toán không chỉ giúp cho các bộ, ngành, địa phương điều chỉnh số liệu kế toán và
báo cáo quyết toán, chỉ ra nhiều sai phạm chính sách, chế độ quản lý kinh tế, tài chính,
kiến nghị tăng thu, tiết kiệm chi và đưa vào quản lý qua NSNN hàng chục nghìn tỷ
đồng; mà điều quan trọng hơn là qua kiểm toán đã giúp các đơn vị được kiểm toán nhìn
nhận và đánh giá đúng đắn thực trạng tình hình tài chính, khắc phục được những yếu
kém sơ hở trong quản lý kinh tế và sản xuất kinh doanh, cải tiến và hoàn thiện hệ thống
quản lý và kiểm soát nội bộ; đề xuất, kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan chức năng
về những sơ hở trong công tác quản lý, những bất cập nảy sinh trong cơ chế, chính sách
hiện hành để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp; đồng thời, hoạt động của Kiểm toán
Nhà nước đã góp phần đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, thất thoát công quỹ và tài
sản quốc gia, xác lập trật tự, kỷ cương trong quản lý kinh tế, tài chính.
Tuy nhiên, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước vẫn còn
nhiều tồn tại, khiếm khuyết, như:
- Hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước vẫn còn
có nhiều bất cập: các chế định pháp luật về địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền
và trách nhiệm của KTNN còn chưa tương xứng với vị trí, vai trò của Kiểm toán Nhà
nước, còn thiếu không ít các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ với các bên có
liên quan và chưa đồng bộ, giữa nội dung và hình thức các văn bản pháp luật còn có
những bất cập ; chưa đáp ứng kịp thực tiễn đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế,
chưa hoàn toàn phù hợp với khuyến cáo của Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối
cao và thông lệ quốc tế.
- Sự tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật kiểm toán nhà nước của một bộ
phận cán bộ, công chức Kiểm toán Nhà nước, đơn vị được kiểm toán và tổ chức, cá
- Triệu Tử Bình (Trung Quốc), Học tập quán triệt văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XVI - "Nghiên cứu sâu sắc Luật học, đẩy mạnh xây dựng nền pháp chế
toàn diện", Tạp chí Luật học Trung Quốc số 1/2006 Bắc Kinh, Nxb Tạp chí Luật học
Trung Quốc.
Võ Khánh Vinh: "Pháp chế xã hội chủ nghĩa - một phương thức thể hiện và
thực hiện quyền lực của nhân dân", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1/1991;
Hoàng Văn Hảo: "Vấn đề giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân chủ và pháp
chế trong quá trình đổi mới ở nước ta", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/1992;
Đào Trí úc: "Tăng cường tính thống nhất của pháp chế, nghiêm chỉnh tuân theo và
chấp hành pháp luật", Tạp chí Cộng sản, số 3/1995
Nhóm hai là các công trình tiêu biểu nghiên cứu pháp chế XHCN trên từng
lĩnh vực cụ thể gồm có:
- "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động của lực lượng công
an nhân dân trên lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay", Luận án Phó
tiến sĩ luật học của Nguyễn Phùng Hồng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
1994;
- "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa về kinh tế trong quản lý nhà nước nền
kinh tế thị trường định hướng pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay", Luận án
Phó tiến sĩ Luật học của Quách Sĩ Hùng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
1996;
- "Tăng cường pháp chế trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở nước ta hiện
nay", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Huy Bằng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 2001;
- "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà
Nội", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Chí Dũng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 2003 ;
- "Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực thi đua khen thưởng ở tỉnh Thanh
Hoá hiện nay", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Xuân Hà, Học viện Chính trị –
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán của Kiểm
toán Nhà nước từ khi được thành lập (11/7/1994) đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn: luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về pháp luật và pháp chế XHCN.
- Phương pháp nghiên cứu của luận văn: dựa trên phương pháp luận duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cụ thể như: lịch sử - cụ thể, phân tích - tổng hợp, kết hợp với phương
pháp xã hội học, thống kê, so sánh.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Là luận văn là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện và hệ thống
"Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động kiểm toán nhà nước ở Việt Nam". Vì
vậy, có những điểm mới cụ thể sau:
- Xác định khái niệm, nội dung của pháp chế trong hoạt động kiểm toán nhà
nước.
- Chỉ ra được những đặc trưng của pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán
nhà nước.
- Chỉ ra được những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại về thực
trạng pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước.
- Xác lập hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm bảo đảm pháp chế XHCN
trong hoạt động kiểm toán nhà nước ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được
kết cấu thành 3 chương, 7 tiết.
kiểm toán viên.
b) Sự cần thiết khách quan của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường
Kiểm toán ra đời, phát triển do yêu cầu quản lý và phục vụ cho quản lý. Kiểm
toán là một công cụ quản lý phát triển từ thấp đến cao, gắn liền với hoạt động kinh tế
của con người. Xã hội càng phát triển, nền kinh tế thị trường càng phức tạp, thông tin
kinh tế càng có nguy cơ chứa đựng nhiều rủi ro, sai lệch, thiếu tin cậy. Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến rủi ro thông tin: do sự cách trở thông tin, người ra quyết định khó có khả
năng tiếp cận trực tiếp với thông tin được cung cấp; do động cơ của người cung cấp
thông tin, các thông tin đôi khi bị méo mó do người cung cấp thông tin nhằm có lợi cho
họ; do mức độ phức tạp của thông tin bởi dữ liệu quá nhiều hay mức độ phức tạp của
các nghiệp vụ kinh tế mà người cung cấp thông tin không đủ khả năng xử lý. Để hạn
chế rủi ro thông tin, người sử dụng thông tin có thể tự kiểm tra trước khi sử dụng. Điều
này sẽ rất tốn kém và không thực tế bởi không phải người sử dụng thông tin nào cũng
đủ điều kiện và thời gian để tự kiểm tra thông tin trước khi ra quyết định. Sẽ rất lãng phí
khi mỗi người sử dụng thông tin đều phải tự mình đi kiểm tra. Đôi khi trên thực tế sẽ
không thể kiểm tra được do sự cách trở về thời gian, không gian hay bởi trình độ nghiệp
vụ. Để khắc phục yếu tố này một phương cách tốt nhất là các thông tin trước khi công
bố cho bên thứ ba (người sử dụng thông tin) sẽ có một cơ quan, tổ chức kiểm toán để
xác nhận mức độ tin cậy. Các tổ chức kiểm toán sẽ thực hiện kiểm toán các thông tin,
xác nhận mức độ tin cậy và cung cấp cho người sử dụng. Người sử dụng thông tin có
thể yên tâm tiếp nhận các thông tin phục vụ cho công tác quản lý của mình với mức rủi
ro thấp nhất. Nếu chủ thể sử dụng thông tin là Nhà nước (Chính phủ, Quốc hội) thì sẽ
thành lập cơ quan kiểm toán thuộc cơ cấu nhà nước (cơ quan Kiểm toán Nhà nước) để
kiểm toán các thông tin trước khi sử dụng cho hoạt động quản lý của Nhà nước. Nếu là
các tổ chức khác, các hãng kinh doanh sẽ phải sử dụng các dịch vụ kiểm toán được cung
cấp bởi các doanh nghiệp kiểm toán. Các doanh nghiệp kiểm toán sẽ thực hiện kiểm
toán theo yêu cầu của khách hàng và cung cấp thông tin xác thực phục vụ khác hàng.
Với các cơ quan, đơn vị hay tổ chức kinh doanh có quy mô lớn, để phục vụ quản lý nội
bộ sẽ thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ trực thuộc ban lãnh đạo để kiểm toán các
cầu của người sử dụng thông tin. Như vậy, chức năng kiểm toán xác nhận hay xác minh
là chức năng hướng về quá khứ. Mặt khác, để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng thông
tin trong tương lai, kiểm toán lại có thêm chức năng thứ hai đó là chức năng tư vấn hay
chức năng trình bày ý kiến, chức năng này hướng về tương lai. Hai chức năng của kiểm
toán hình thành và phát triển hoàn toàn khác nhau tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử nhất
định. ở thời kỳ đầu, người ta thường chỉ tập trung quan tâm đến chức năng kiểm tra xác
nhận. Nhưng khi xã hội càng phát triển, người ta càng quan tâm nhiều hơn đến chức
năng tư vấn của kiểm toán, đó là việc nhìn nhận, định hướng cho một tương lai đúng
đắn để có những quyết định tối ưu và giành được thắng lợi trong cạnh tranh.
d) Phân loại kiểm toán
Việc phân loại kiểm toán thường được thực hiện theo hai cách cơ bản sau đây:
Một là: Theo mục mục đích của kiểm toán (hay theo đối tượng trực tiếp của
kiểm toán)
Căn cứ vào mục đích cụ thể (hay đối tượng trực tiếp) của kiểm toán, người ta
thường chia kiểm toán thành ba loại là: kiểm toán hoạt động (Performance Audit), kiểm
toán tuân thủ (Compliance Audit) và kiểm toán báo cáo tài chính (Audit of Financial
Statements).
- Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán hoạt động là loại kiểm toán nhằm để xem xét và đánh giá về tính kinh
tế, tính hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động được kiểm toán.
Tính kinh tế là sự tiết kiệm các nguồn lực. Hay đây còn gọi là nguyên tắc tối
thiểu, nghĩa là để đạt được mục tiêu nhất định cần dùng một lượng nguồn lực ít nhất.
Tính hiệu lực là khả năng về mức độ hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã xác
định của đơn vị.
Tính hiệu quả là việc đạt được kết quả cao nhất với một lượng nguồn lực nhất
định, hay đây còn gọi là nguyên tắc tối đa.
Có rất nhiều lĩnh vực khác nhau cần phải kiểm tra và theo dõi về tính kinh tế,
tính hiệu lực và hiệu quả nên đối tượng của kiểm toán hoạt động cũng rất phong phú và
đa dạng. Chúng không chỉ giới hạn trong lĩnh vực tài chính mà còn có thể bao gồm
quan thuế thuê, thì kết quả kiểm toán sẽ được báo cáo cho cơ quan thuế đã thuê kiểm
toán đó.
- Kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán báo cáo tài chính là loại kiểm toán nhằm kiểm tra và xác nhận về tính
trung thực, hợp lý của các báo cáo tài chính được kiểm toán.
Báo cáo tài chính được kiểm toán thường là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết
quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh báo cáo tài chính của các
đơn vị tổ chức kinh doanh. Ngoài ra, các báo cáo tài chính của các đơn vị khác như
bảng cân đối kế toán, báo cáo quyết toán vốn, ngân sách của các đơn vị hành chính, sự
nghiệp, của các dự án đầu tư cũng là những đối tượng thông tin của kiểm toán báo
cáo tài chính. Tiêu chuẩn, chuẩn mực cho việc đánh giá thông tin của loại kiểm toán này
thường là các chuẩn mực kế toán, các quy định pháp lý về kế toán và những quy định
khác có liên quan.
Hai là: Theo loại hình tổ chức kiểm toán (theo chủ thể thực hiện kiểm toán)
Theo cách phân loại này, kiểm toán được chia làm ba loại là Kiểm toán Nhà
nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ.
- Kiểm toán Nhà nước: là cơ quan kiểm tra tài chính tối cao của quốc gia, thực
hiện việc kiểm tra và báo cáo về việc quản lý và sử dụng các nguồn lực của Nhà nước ở
các đơn vị.
- Kiểm toán độc lập: được tổ chức dưới dạng doanh nghiệp kiểm toán (công ty
hay hãng kiểm toán) nhằm cung cấp dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có tính
chuyên môn cho xã hội.
- Kiểm toán nội bộ: được tổ chức bên trong mỗi đơn vị, thực hiện kiểm tra và
cho ý kiến về các đối tượng được kiểm toán nhằm giúp đơn vị thực hiện tốt các chức
năng và nhiệm vụ của mình.
Hiện nay, ở nước ta trong nền kinh tế quốc dân có cả 3 loại kiểm toán là Kiểm
toán Nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ. Ba loại kiểm toán này rất khác
nhau về tổ chức bộ máy, phạm vi, đối tượng kiểm toán, hoạt động kiểm toán và giá trị
pháp lý của báo cáo kiểm toán. Các tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động dưới hình thức
nguồn tài chính công và hiệu năng các quyết định của các cơ quan có thẩm
quyền; … Để đạt được mục tiêu này, không thể phủ nhận được rằng, mỗi
quốc gia cần có một Cơ quan Kiểm toán Tối cao được pháp luật bảo đảm tính
độc lập; trong bối cảnh các Cơ quan Kiểm toán Tối cao đang ngày càng trở
nên cần thiết hơn khi nhà nước đã và đang mở rộng hoạt động của mình sang
lĩnh vực kinh tế, xã hội và vì vậy, phải hoạt động tuân theo những quy định
của khuôn khổ tài chính vốn có [60].
Tuy nhiên, sự quản lý, chỉ đạo và điều hành hoạt động đối với tổ chức Kiểm toán
Nhà nước ở từng quốc gia lại tuỳ thuộc luật pháp cụ thể của từng nước. ở Việt Nam, cơ
quan Kiểm toán Nhà nước được thành lập từ năm 1994 theo Nghị định số 70/CP ngày
11 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ và là cơ quan thuộc Chính phủ. Trải qua hơn mười
lăm năm hoạt động, Kiểm toán Nhà nước Việt Nam đã từng bước phát triển vững chắc,
đóng góp quan trọng cho việc chấn chỉnh công tác quản lý tài chính nói riêng và việc
chấp hành pháp luật nói chung. Hiện nay, theo Luật Kiểm toán nhà nước đã được Quốc
hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ bảy Quốc hội
khoá XI; “Kiểm toán Nhà nước là một cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài
chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
[50].
Theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước: “Hoạt động kiểm toán của Kiểm
toán Nhà nước là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo
cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý,
sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước” [50].
Hoạt động kiểm toán nhà nước phục vụ việc kiểm tra, giám sát của Nhà
nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; góp phần
thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và
ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách,
tiền và tài sản nhà nước [50].
Việc kiểm toán của KTNN được thực hiện dưới hình thức Đoàn kiểm toán. Đoàn
kiểm toán do Tổng KTNN thành lập gồm có Trưởng đoàn, Phó trưởng đoàn, các Tổ
chức năng của cơ quan điều tra tội phạm kinh tế
ở Việt Nam, theo quy định tại điều 14, Luật Kiểm toán Nhà nước: “Kiểm toán
Nhà nước có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt
động đối với mọi cơ quan, tổ chức có quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà
nước [50].
Như vậy, Kiểm toán Nhà nước có chức năng thực hiện kiểm toán các tài liệu, số
liệu kế toán, báo cáo quyết toán ngân sách của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
trước khi trình Hội đồng nhân dân và báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước của Chính
phủ trước khi trình Quốc hội; báo cáo quyết toán của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, cơ quan thuộc Quốc hội, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân,
các đơn vị sự nghiệp công, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội có sử dụng kinh
phí ngân sách nhà nước; báo cáo quyết toán của các chương trình dự án, các công trình
đầu tư của Nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước, v.v Để xác nhận tính trung thực,
hợp pháp của báo cáo quyết toán ngân sách các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách nhà
nước; báo cáo tài chính của các doanh nghiệp phục vụ cho việc phê chuẩn quyết toán.
Ngoài việc thực hiện chức năng xác nhận, Kiểm toán Nhà nước kiến nghị với các cơ
quan của Nhà nước sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách về quản lý kinh tế, tài chính
phù hợp với điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ thông qua việc báo cáo kết quả kiểm
toán với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ; Chủ tịch nước; Chính phủ và Thủ
tướng Chính phủ theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Ngân sách nhà
nước.
c) Phạm vi đối tượng của Kiểm toán Nhà nước
Là công cụ giúp cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện việc kiểm soát nền tài
chính nhà nước, đối tượng của Kiểm toán Nhà nước trước hết và đương nhiên là các
hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức liên quan tới thu - chi ngân sách và các công
quỹ nhà nước, quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, tiền và tài
sản nhà nước. Nói một cách khác, ở đâu có hoạt động liên quan đến thu, chi quản lý và
sử dụng ngân sách nhà nước, các công quỹ và tài sản nhà nước thì ở đó phải thực hiện
kiểm tra nhà nước. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức có hoạt động là đối tượng của Kiểm toán
nghề nghiệp có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước; các đơn vị sự nghiệp được ngân
sách nhà nước đảm bảo một phần hoặc toàn bộ kinh phí; các tổ chức quản lý tài sản
quốc gia; các ban quản lý dự án đầu tư có nguồn kinh phí ngân sách nhà nước hoặc có
nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; các hội, liên hiệp hội, tổng hội, các tổ chức khác
được ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động; doanh nghiệp nhà nước.
Ngoài các cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định trên, các đơn vị nhận trợ giá, trợ cấp
của nhà nước, các đơn vị có công nợ được nhà nước bảo lãnh mà không phải là doanh
nghiệp nhà nước có thể thuê doanh nghiệp kiểm toán kiểm toán nhưng các doanh
nghiệp kiểm toán phải thực hiện theo chuẩn mực, quy trình Kiểm toán Nhà nước và gửi
báo cáo kiểm toán cho cơ quan Kiểm toán Nhà nước [50].
d) Mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của Kiểm toán Nhà nước
Mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của Kiểm toán Nhà nước ở tất cả các quốc gia
trên thế giới dù được thiết kế khác nhau như thế nào nhưng đều phải tuân thủ nguyên tắc
hoạt động là độc lập, khách quan, chỉ tuân theo pháp luật.
ở 180 quốc gia là thành viên của Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán Tối cao
(INTOSAI) mô hình tổ chức Kiểm toán Nhà nước rất đa dạng và có thể phân chia thành
3 mô hình cơ bản sau: mô hình Kiểm toán Nhà nước trực thuộc cơ quan lập pháp, mô
hình Kiểm toán Nhà nước trực thuộc cơ quan hành pháp và mô hình Kiểm toán Nhà
nước đứng độc lập với cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp. Hệ thống tổ chức có thể
là một cấp (đơn tuyến) tập trung thống nhất bao gồm Kiểm toán Nhà nước ở trung ương
và Kiểm toán Nhà nước khu vực trực thuộc Kiểm toán Nhà nước trung ương, không lập
Kiểm toán Nhà nước ở địa phương hoặc có thể là tổ chức đa cấp, ở mỗi cấp chính quyền
đều lập cơ quan Kiểm toán Nhà nước của cấp mình, cơ quan kiểm toán các cấp hoàn
toàn độc lập với nhau.
Cơ chế hoạt động của Kiểm toán Nhà nước các nước trên thế giới cũng chia ra
làm 2 dạng: cơ chế thủ trưởng và cơ chế hội đồng (đồng sự). Với cơ chế thủ trưởng mọi
hoạt động Kiểm toán Nhà nước đều do người đứng đầu (thủ trưởng) cơ quan Kiểm toán
Nhà nước quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Với cơ chế hội đồng, mọi
hoạt động của kiểm toán đều do các uỷ viên Hội đồng quyết định tập thể theo đa số. Các
viên nhà nước có thể được tuyển dụng hay bổ nhiệm. Hoạt động chuyên môn của Kiểm
toán viên nhà nước phù hợp với luật pháp và với quy định chuyên môn.
e) Hiệp hội nghề nghiệp kiểm toán
Tổ chức Kiểm toán Nhà nước ở các quốc gia đều hình thành trên phạm vi quốc
gia. Vì vậy, hiệp hội nghề nghiệp chỉ được thành lập trên phạm vi khu vực và thế giới.
Hiệp hội quốc tế và hiệp hội khu vực hoạt động chủ yếu là cầu nối chung giữa các cơ
quan Kiểm toán Nhà nước và là diễn đàn chung cho các nước tham gia cung cấp thông
tin về hoạt động, trao đổi chuyên môn và kinh nghiệm hoạt động.
Trên phạm vi toàn thế giới, hiệp hội nghề nghiệp được hình thành từ năm 1963,
đó là Tổ chức quốc tế các Cơ quan kiểm toán tối cao (International Organisation of
Supereme Audit Institute – INTOSAI), hiện nay đã có 180 nước tham gia. Tháng
7/1996 KTNN Việt Nam trở thành thành viên chính thức của INTOSAI.
Đại hội lần thứ IX của các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI) tổ chức tại
Lima, thủ đô của Pêru đã thông qua chỉ dẫn hoạt động kiểm toán của các cơ quan Kiểm
toán tối cao gọi tắt là Tuyên bố Lima. Tuyên bố Lima đã được Đại hội lần thứ IX của
INTOSAI thông qua vào tháng 10/1977. Nội dung của bản Tuyên bố này là kết quả của
sự hợp tác nghiên cứu giữa các thành viên của INTOSAI, đây là những định hướng cơ
bản và đã được thừa nhận như là những thông lệ phổ biến đối với việc thiết lập và tổ
chức cơ quan Kiểm toán tối cao, tổ chức kiểm tra tài chính từ bên ngoài đối với nền tài
chính công ở mọi quốc gia. Mặc dù Tuyên bố Lima không bị ràng buộc về mặt pháp lý
quốc tế, nhưng nó được xem như là một văn kiện chung thích hợp với mọi hình thức tổ
chức hệ thống kiểm tra tài chính ở các nước thành viên.
Trên phạm vi khu vực cũng hình thành hiệp hội nghề nghiệp, ví dụ ở khu vực
châu á, Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao Asian (Asian Organisation of Supereme
Audit Institute - ASOSAI) đã thành lập từ 1979, hiện đã có hơn 40 thành viên. Tháng
01/1997 KTNN Việt Nam trở thành viên chính thức của Tổ chức các Cơ quan kiểm toán
tối cao Châu á (ASOSAI).
1.1.2. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động kiểm toán nhà
nước
Một ý kiến khác của G.B Atamantruc, ông cho rằng "pháp chế là hệ thống các
quy tắc, quy phạm phương tiện và các bảo đảm pháp lý tương ứng với chúng mà các cơ
quan nhà nước thừa nhận đảm bảo thực hiện thực tế các đạo luật và các văn bản dưới
luật [21, tr. 310] Như vậy, quan điểm này cũng cho rằng pháp chế bao gồm cả pháp
luật, các bảo đảm pháp lý để bảo đảm pháp luật được thực hiện trong thực tế.
Từ những quan điểm được phân tích trên đây, chúng tôi nhận thấy, dù tiếp
cận ở những khía cạnh khác nhau nhưng trong quan niệm của các nhà luật học được
đề cập trên đây đều thống nhất ở một điểm chung là: pháp chế là chế độ của đời sống
xã hội bao hàm cả việc ban hành pháp luật và thực hiện pháp luật.
ở nước ta, khái niệm pháp chế cũng được đề cập trong nhiều công trình nghiên
cứu về pháp luật hoặc trong các từ điển.
- Từ điển tiếng Việt giải thích: “Pháp chế được hiểu là chế độ tuân thủ nghiêm
chỉnh Hiến pháp và pháp luật của mọi chủ thể các quan hệ pháp luật” [62, tr. 159]. Từ
điển Luật học cho rằng: “Pháp chế là sự tôn trọng, tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh
Hiến pháp, pháp luật của các cơ quan, nhân viên nhà nước, của các tổ chức xã hội và
mọi công dân” [55, tr. 603].
Như vậy, Từ điển tiếng Việt và Từ điển Luật học đều đã đưa ra định nghĩa pháp
chế với nội hàm tương tự như nhau. Điều này cho thấy các nhà ngôn ngữ học nước ta
quan niệm pháp chế là sự tôn trọng, tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp
luật của các cơ quan, nhân viên nhà nước, của các tổ chức xã hội và mọi công dân.
- Trong tài liệu học tập nghiên cứu môn lý luận chung về nhà nước pháp luật (Tập 1)
của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa: "Pháp chế XHCN là chế
độ thực hiện pháp luật nghiêm minh thống nhất và tự giác của các cơ quan nhà nước các tổ
chức chính trị - xã hội, đơn vị kinh tế, lực lượng vũ trang, các cán bộ công chức nhà nước
và mọi công dân" [22, tr.293].
- GS - TSKH Đào Trí úc cho rằng: "pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống
pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại một trật
tự pháp luật và kỷ luật, là sự tuân thủ và thực hiện đầy đủ pháp luật trong tổ chức và