MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
6. Những điểm mới của luận văn 6
7. Ý nghĩa của luận văn 6
8. Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HẢI
QUAN VIỆT NAM 7
1.1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ ĐẶC TRƯNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM 7
1.1.1. Vị trí, vai trò về tổ chức và hoạt động của ngành Hải quan 7
1.1.2. Những đặc trưng về tổ chức và hoạt động của Hải quan. 8
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG CỦA PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HẢI QUAN 14
1.2.1. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa 14
1.2.1. Khái niệm, đặc trưng của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức
và hoạt động của Hải quan 19
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HẢI QUAN
VIỆT NAM, THỰC TIỄN Ở THỪA THIÊN HUẾ 25
quốc tế 78
3.1.6. Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động hải quan
Huế phải đảm bảo yêu cầu thu đủ ngân sách nhà nước, tạo thuận
lợi cho thương mại, xuất nhập cảnh, du lịch 79
3.2. GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HẢI QUAN HUẾ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 81
3.2.1. Phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế trong tổ chức và hoạt động
của hải quan Huế 81
3.2.2. Đổi mới, hoàn thiện hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động của
hải quan Huế 85
3.2.3. Tăng cường sự giám sát, kiểm tra, kiểm soát của các thiết chế quyền
lực công cộng đối với tổ chức và hoạt động của hải quan Huế 89
3.2.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra sự tuân thủ pháp luật về tổ
chức và hoạt động của hải quan Huế 93
3.2.5. Nâng cao năng lực tổ chức và hoạt động của hải quan các cấp 96
3.2.6. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao
trình độ văn hóa, năng lực áp dụng pháp luật cho đội ngũ cán bộ,
công chức hải quan Huế 99
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) có từ sau Cách mạng Tháng Mười
Nga. V.I.Lê-nin là người đưa ra định nghĩa pháp chế và các nguyên tắc của nó
đã làm giàu thêm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp
luật. Khái niệm pháp chế: “Pháp chế XHCN là một chế độ đặc biệt của đời
thành yếu tố góp phần tích cực vào việc hoàn thiện, đổi mới cơ cấu tổ chức,
hoạt động hải quan.
- Sự tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật hải quan của một bộ
phận cán bộ, công chức hải quan và tổ chức, cá nhân hoạt động xuất nhập
khẩu vẫn còn không nghiêm dẫn đến phát sinh tiêu cực, phiền hà, tham
nhũng, gian lận thương mại, buôn lậu, trốn thuế, lừa đảo rút "ruột" ngân sách
nhà nước điều này tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế - xã hội, kinh tế
đối ngoại, đầu tư, du lịch, gây mất lòng tin của Đảng, Nhà nước, nhân dân đối
với hệ thống tổ chức và hoạt động của Hải quan.
- Cơ chế đảm bảo cho việc tuân thủ và chấp hành nghiêm minh pháp
luật, pháp chế hải quan còn thiếu rõ ràng, minh bạch, chưa hiệu quả, cũng như
chưa đủ tính cưỡng chế đảm bảo duy trì việc tuân thủ và thực hiện pháp luật
một cách thường xuyên, liên tục và đồng bộ
Vì các lý do trên tôi chọn đề tài: "Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
hoạt động của Hải quan Việt Nam hiện nay - qua thực tiễn tỉnh Thừa
Thiên - Huế” để nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp chế XHCN là một trong những phạm trù pháp lý cơ bản có ý
nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội.
3
Vì vậy được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, xem xét trên nhiều bình diện
và nhiều khía cạnh khác nhau.
Các công trình nghiên cứu về pháp chế XHCN tiêu biểu cả trong và
ngoài nước có thể chia thành hai nhóm:
Nhóm một là các công trình nghiên cứu về pháp chế nói chung:
Đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về pháp chế
XHCN đề cập đến những vấn đề lý luận chung về pháp chế như khái niệm các
mối quan hệ, nguyên tắc của pháp chế XHCN. Điều đó được thể hiện ở một
số công trình khoa học như:
trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001;
- "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát nhân dân
thành phố Hà Nội", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Chí Dũng, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003
Các công trình đều đưa ra khái niệm pháp chế XHCN nói chung và
khái niệm, đặc trưng vai trò và giải pháp tăng cường pháp chế XHCN trên
từng lĩnh vực cụ thể.
Từ tình hình nghiên cứu trên cho thấy, đến nay chưa có công trình khoa
học nào trực tiếp nghiên cứu “Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động
của Hải quan Việt Nam hiện nay - qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên - Huế”.
Mặc dù vậy, các công trình đã công bố nêu trên là tài liệu tham khảo có giá trị
để nghiên cứu và viết hoàn thiện đề tài luận văn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Về đối tượng nghiên cứu của luận văn: trên cơ sở nghiên cứu
pháp chế XHCN, luận văn nghiên cứu đặc điểm và nội dung vai trò của
pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt nam.
5
Nghiên cứu thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng pháp chế
XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Huế. Luận giải các giải
pháp nhằm bảo đảm vai trò pháp chế trong tổ chức và hoạt động của Hải
quan Huế hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của
Hải quan Huế.
Thời gian từ năm 1990 đến nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích nghiên cứu là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và
điểm, tồn tại về pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan
Huế hiện hành.
- Xác lập hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo pháp chế
XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Huế.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về
pháp chế XHCN trong lĩnh vực cụ thể.
- Về thực tiễn: Kết quả luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các
cơ quan ban ngành, các trường học và những người quan tâm đến lĩnh vực này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn được kết cấu thành 3 chương, 8 mục.
Chương 1: Cơ sở lý luận về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và
hoạt động của Hải quan Việt Nam
Chương 2: Thực trạng pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt
động của Hải quan Huế
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Huế hiện nay
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM
1.1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ ĐẶC TRƯNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM
1.1.1. Vị trí, vai trò về tổ chức và hoạt động của ngành Hải quan
Khi nền kinh tế thị trường phát triển, bên cạnh chức năng thu tiền cho
ngân sách nhà nước từ các hoạt động trao đổi, buôn bán giữa các quốc gia,
Hải quan được giao nhiều chức năng mới, quan trọng nhất là bảo hộ sản xuất
lĩnh vực hải quan, đảm bảo các quy tắc quản lý nhà nước về hải quan được
tôn trọng, bảo vệ an ninh tư tưởng, văn hoá, an toàn vệ sinh - dịch tễ môi
trường, sức khoẻ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, kịp thời
ngăn chặn những hành động đe doạ lợi ích, chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi
ích của người kinh doanh.
Ba là, tổ chức Hải quan, hoạt động hải quan góp phần quan trọng đáng
kể vào việc cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài, thúc đẩy và thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài của mỗi quốc gia. Bởi vì, thông qua việc xây dựng, ban
hành, thực thi luật lệ, chính sách hải quan có liên quan đến đầu tư nước ngoài,
Tổ chức Hải quan và hoạt động hải quan ảnh hưởng trực tiếp không nhỏ đến
quyền, lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài
1.1.2. Những đặc trưng về tổ chức và hoạt động của Hải quan
Hải quan Việt nam là một thiết chế của Nhà nước. Thiết chế này được
thành lập để trực tiếp quản lý nhà nước các hoạt động hải quan, là cơ quan có
chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền thực hiện hoạt động hải quan theo các quy định
của hệ thống pháp luật. Địa vị pháp lý Hải quan được xác định trong nhiều văn
9
bản pháp luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam. Trước hết được ghi nhận ở
trong các văn bản pháp luật quan trọng, như: Luật Hải quan 2001 và Luật Hải
quan sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan ngày 26/5/2005, Nghị định
số 96/2002/NĐ-CP ngày của Chính phủ và Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg
ngày 4-9-2002 của Thủ tướng Chính phủ; đây là những văn bản xác định đặc
trưng chủ yếu địa vị pháp lý của hải quan Việt Nam. Bên cạnh các văn bản này,
địa vị pháp lý của Hải quan còn được khẳng định trong hàng loạt văn bản thuộc
hệ thống văn bản pháp luật quản lý nhà nước lĩnh vực chuyên ngành khác có liên
quan, như các luật thuế về hàng hoá xuất - nhập khẩu, Luật Thương mại và các
văn bản chi tiết thi hành, Bộ luật Tố tụng hình sự Pháp lệnh điều tra hình sự, các
văn bản pháp luật quy định về xử lý, tố tụng hành chính,
- Vị trí, vai trò và hệ thống tổ chức của ngành Hải quan
nghĩa ở Việt Nam.
Thứ hai, Thực hiện các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để chủ động
phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong
phạm vi địa bàn hoạt động. Phối hợp thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn
lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới ngoài phạm vi địa bàn hoạt
động của Cục Hải quan theo quy định của pháp luật và Tổng cục Hải quan.
Thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ rằng, không chỉ thời đại ngày nay mới có buôn
lậu vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, mà hoạt động này đã phát
sinh cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá của xã hội loài người.
Thứ ba, Thực hiện Pháp luật về thuế và thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu; đảm bảo thu đúng, thu đủ và nộp kịp thời vào ngân sách nhà nước.
Nhiệm vụ này đã được ngành Hải quan thực hiện nghiêm túc với phương
châm “thu đúng, thu đủ”, đảm bảo một phần nguồn thu cho quốc khố từ
nguồn thuế và thu khác từ các hoạt động xuất -nhập khẩu quá cảnh hàng hoá,
xuất -nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải.
11
Thứ tư, kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan
đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và
chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Phải nói rằng, nhiệm
vụ này được phái sinh từ ba nhiệm vụ nêu trên.
Hai là, tổ chức, hoạt động Hải quan Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ
với các cơ quan khác.
- Mối quan hệ của Tổ chức Hải quan với cơ quan quản lý nhà nước cấp trên.
Hiện nay, Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, Bộ
Tài chính nằm trong cơ cấu tổ chức Chính phủ, tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc tập trung dân chủ, trong khi đó. Hải quan Việt Nam lại tổ chức và
hoạt động theo nguyên tắc "tập trung, thống nhất". Đây là điềm hết sức đặc
thù trong tổ chức bộ máy Chính phủ, cho thấy dù về tổ chức có sự thay đổi,
song vị trí. chức năng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động, nhiệm vụ. quyền hạn
Cơ quan hải quan trong địa vị, vai trò là cơ quan chủ trì trong các
trường hợp trên đây là nhằm đảm bảo cho các cơ quan quản lý nhà nước
chuyên ngành tại cửa khẩu một mặt, hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của
mình, nhưng không được vi phạm thời hạn "ấn định" thông quan cho một loại
hình hàng hoá xuất-nhập khẩu đã được quy định trong Luật, mặt khác, tránh
được sự "tranh chấp", "chồng chéo" phi lý trong hoạt động quản lý hành chính
nhà nước không cần thiết, dẫn đến có thể tạo sơ hở cho buôn lậu, trốn thuế,
gian lận thương mại hoặc tình trạng lạm dụng quyền hạn để trục lợi, dây dưa
kéo dài xử lý vụ việc, gây thiệt hại cho lợi ích Nhà nước và nhân dân. Điều
này đã được Luật Hải quan khẳng định rõ: trong trường hợp hàng hoá,
phương tiện vận tải chưa đưa ra khỏi phạm vi địa bàn hoạt động hải quan mà
cơ quan tổ chức, cá nhân phát hiện có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép
hàng hoá qua biên giới thì cơ quan. tổ chức, cá nhân đó báo ngay cho cơ quan
13
hải quan để kiểm tra, xử lý". Song, để quy định này có thể thực hiện được trên
thực tế đòi hỏi sự tự giác hợp tác, tôn trọng nguyên tắc "vì lợi ích quốc gia",
"vì lợi ích của công dân" của các cơ quan chức năng chuyên ngành hữu quan.
Ở ngoài địa bàn hoạt động hải quan, các cơ quan quản lý chuyên ngành khác
của Nhà nước và cơ quan hải quan tổ chức các hoạt động phối hợp phòng,
chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép qua biên giới theo
quy định của pháp luật. Trong mối quan hệ này, các cơ quan hải quan đóng
vai trò là cơ quan thực hiện chức năng phối hợp.
- Mối quan hệ giữa Hải quan với một số cơ quan quyền lực nhà nước
và hệ thống chính trị.
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan, thực hiện thẩm quyền
giám sát, ngoài các cơ quan, tổ chức, cá nhân, như Quốc hội, Đại biểu Quốc
hội theo Luật tổ chức Quốc hội và Luật giám sát Quốc hội, và thêm vào đó
còn gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân được quy định trong Luật Hải quan,
gồm: i) Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ.
cần tiếp cận từ nhiều phương diện.
Thứ nhất, tiếp cận từ tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác
- Lênin về pháp chế XHCN, "pháp chế là một hiện tượng xã hội độc lập với tư
cách là nhân tố của quyền lực chính trị". Pháp trị (hay pháp chế" là một chế
độ chính trị của một nước dựa vào pháp luật để quản lý nhà nước và điều
hành xã hội" [65, tr.1320]. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là phương
pháp pháp trị của nhà nước pháp quyền. Trong "Bộ Tư bản" C.Mác đã khái
quát pháp chế là một chế độ thực hiện pháp luật của mọi tổ chức và công dân.
Các nhà kinh điển Mác-Lênin qua các tác phẩm của mình đã quan niệm
pháp chế XHCN, là một hiện tượng xã hội tồn tại vận động theo các nguyên
lý sau đây:
15
- Pháp chế là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị, kinh tế-xã hội
trong đó mọi thành viên quan hệ với nhau theo pháp luật;
- Pháp chế là một nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà
nước xã hội chủ nghĩa;
- Pháp chế là một phương pháp quản lý nhà nước, phương pháp thực
hiện những nhiệm vụ chuyên chính giai cấp, một bộ phận cấu thành của nền
dân chủ chân chính.
- Pháp chế có quan hệ chặt chẽ với dân chủ, như là một bộ phận của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
- Pháp chế có mối liên hệ chặt chẽ với văn hoá, với ý thức tôn trọng, xử
sự bằng pháp luật, niềm tin vào giá trị, tác dụng của pháp luật đối với người
dân, đối với Nhà nước.
Thứ hai, tiếp cận từ quan điểm của Đảng ta về pháp chế XHCN trong
các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đến lần thứ X, Đảng ta đều
coi pháp chế XHCN là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Muốn
nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý Nhà nước và phát huy dân chủ
XHCN phương pháp chủ yếu, tổng thể, toàn diện và thường xuyên là tăng
trò của pháp chế XHCN tiếp tục được tăng cường cũng như việc triển khai
thực hiện Điều 12 của Hiến pháp năm 1992: "Nhà nước quản lý xã hội bằng
pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN.
Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân
dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu
tranh phòng chống và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp, pháp luật.
Mọi hành động xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật".
Thứ ba, tiếp cận từ khái niệm pháp chế của khoa học pháp lý.
Có thể thấy rằng khái niệm (hay phạm trù) pháp chế XHCN được sự
17
quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Song cho đến nay
định nghĩa về pháp chế XHCN chưa phải là đồng nhất về nội dung của khái
niệm này.
Theo V.N. Kyđriaxép: "pháp chế là chế độ nhất định của đời sống xã
hội, là phương pháp lãnh đạo của Nhà nước trong việc tổ chức các quan hệ xã
hội bằng phương thức ban hành và không giống thực hiện các đạo luật và các
văn bản pháp luật khác" [60, tr.4]. Nội dung của định nghĩa này pháp chế có nội
dung rộng. Pháp chế là chế độ của đời sống xã hội bao hàm cả việc ban hành
pháp luật và thực hiện pháp luật, song nếu có vi phạm pháp luật thì pháp chế có
vai trò như thế nào? Và pháp luật nào để xử lý các vi phạm pháp luật ấy?.
Một ý kiến khác của G.B Ataman Chúc, ông cho rằng "pháp chế là hệ
thống các quy tắc, quy phạm phương tiện và các bảo đảm pháp lý tương ứng
với chúng mà các cơ quan nhà nước thừa nhận đảm bảo thực hiện thực tế các
đạo luật và các văn bản dưới luật [20, tr.310]
Ý kiến trên tác giả cũng cho rằng pháp chế bao gồm cả pháp luật, các
bảo đảm pháp lý và bảo đảm pháp luật được thực hiện trong thực tế.
Ở Việt Nam có các định nghĩa về pháp chế đáng chú ý sau đây:
- GS - TSKH Đào Trí Úc cho rằng: "pháp chế là sự hiện diện của một
không phải như vậy. Nhà nước phải quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật,
phải "pháp trị" mới là hiện tượng pháp chế. Khác với nhà nước đức trị, văn
trị, nhân trị, và các "quốc đạo".
Ở nước ta Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội bằng đường lối chủ
trương. Nhưng đường lối chủ trương ấy phải được thể chế hoá, cụ thể hoá
bằng pháp luật. Pháp luật là công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước và xã hội.
Qua pháp luật mà tính công khai, minh bạch được thể hiện - điều kiện bảo
đảm cho pháp luật "ngự trị" trong đời sống xã hội.
19
Thứ ba: các chủ thể của quan hệ pháp luật như các cá nhân, các pháp
nhân, các hộ gia đình, tổ hợp tác được nhấn mạnh theo tính chất của chủ thể
là cơ quan nhà nước, các tổ chức Đảng, các đơn vị vũ trang nhân dân, các tổ
chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp và xã hội thuần tuý cũng như các
đơn vị kinh tế ở mọi thành phần kinh tế và công dân đều phải tôn trọng và
thực hiện Hiến pháp và pháp luật. Nội dung này là "trụ cột" "xương sống" là
nội dung cơ bản nhất của pháp chế. Tôn trọng là ý thức pháp luật, trình độ
hiểu biết pháp luật nhất định tạo nên ý thức tự giác của sự thực hiện. Thực
hiện pháp luật phải bao hàm các dạng thực hiện pháp luật phải bao hàm các
dạng thực hiện pháp luật như: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử
dụng đúng pháp luật, và áp dụng pháp luật: Các dạng thực hiện pháp luật này
cấu thành chế độ thực hiện pháp luật. Theo lý thuyết đây sẽ là chế độ pháp
chế thống nhất đầy đủ.
Thứ tư: Nội dung của pháp chế còn là "mọi vi phạm pháp luật đều bị xử
lý theo pháp luật. Vi phạm pháp luật là một hiện tượng xã hội. Nhưng pháp
chế được thể hiện trong việc dùng pháp luật, căn cứ vào pháp luật, đối chiếu
với pháp luật mà xử lý mọi hành vi xâm phạm đến an ninh quốc gia, trật tự an
toàn xã hội, xâm phạm đến lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể, các quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân. Vi phạm pháp luật về dân sự, kỷ luật nhà nước về
trật tự quản lý hành chính nhà nước và pháp luật hình sự bị xử lý nghiêm
Thứ nhất, pháp luật được coi là công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước
trong lĩnh vực Hải quan, các cơ quan Hải quan được tổ chức và hoạt động
theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân, các cơ
quan hải quan, cán bộ công chức hải quan, các đơn vị kinh tế và mọi công dân
phải tôn trọng và thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước về hải quan, về vận
chuyển xuất nhập khẩu hàng hoá và thuế quan.
21
Thứ ba, mọi vi phạm pháp luật trong tổ chức và hoạt động hải quan đều
bị xử lý theo pháp luật.
1.2.1.2. Đặc trưng cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ
chức và hoạt động hải quan
Thứ nhất, pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của hải quan
Huế được quy định bởi Luật Hải quan và các quy phạm pháp luật khác.
Pháp luật là tiền đề cơ sở của pháp chế nói chung. Tổ chức hải quan
Huế được quy định bằng pháp luật hải quan và các văn bản quy phạm pháp
luật khác có liên quan. Nhưng Luật Hải quan là cơ bản, chủ yếu. Cơ quan
hải quan là cơ quan quản lý hành chính nhà nước nhưng là cơ quan quản lý
hành chính đặc biệt. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thể hiện lĩnh vực
hoạt động đặc thù: quản lý kiểm soát xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên
giới, thu thuế xuất nhập khẩu, và còn là lực lượng phòng và đấu tranh với
các tội vận chuyển trái phép, buôn lậu hàng hoá, trốn thuế hải quan. Chính
nội dung của pháp luật hải quan và các điều ước quốc tế mà nước ta ký kết
và tham gia quy định đặc điểm của pháp chế XHCN về tổ chức hoạt động
của Hải quan. Đặc trưng này cho thấy tính quy định của pháp luật về pháp
chế và là cơ sở để đối chiếu đánh giá thực trạng pháp chế XHCN trong tổ
chức, hoạt động của ngành hải quan trong đời sống thực tiễn.
Thứ hai, pháp chế XHCN trong tổ chức hoạt động của ngành Hải quan
được thể hiện ở hành vi pháp lý (hành động hay không hành động) phù hợp
các đơn vị kinh tế và mọi công dân trong lĩnh vực hải quan.
Quản lý nhà nước về hải quan và quản lý hải quan bằng pháp luật - từ
đó pháp chế XHCN được hình thành. Nhưng pháp luật và pháp chế không
làm ra của cải vật chất, không trực tiếp tạo ra "dân giầu nước mạnh". Nhưng
pháp chế là phương thức (bao gồm các phương pháp, biện pháp pháp lý) để