Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động kiểm toán nhà nước ở việt nam - Pdf 26

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Điều 12 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992
(sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp
luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang
nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật,
đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp, pháp luật.
Mọi hành động xâm phạm lợi ích nhà nước quyền và lợi ích hợp pháp
của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật".
Để hiện thực hoá điều này của Hiến pháp trong thực tiễn, ngày nay
giới khoa học pháp lý Việt Nam không chỉ tiếp tục nghiên cứu khẳng định
những giá trị của Học thuyết Pháp chế XHCN, mà còn hướng đi sâu nghiên
cứu pháp chế trong từng lĩnh vực cụ thể. Đến nay, đã có nhiều công trình
khoa học về pháp chế XHCN đã được công bố nhưng chưa có công trình nào
nghiên cứu về pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước.
ở Việt Nam, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) được thành lập và hoạt
động theo Nghị định số 70/CP ngày 11/07/1994 của Chính phủ về việc thành
lập cơ quan KTNN và Quyết định số 61/TTg ngày 24/1/1995 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của KTNN. Đây là
cơ sở pháp lý cho sự ra đời và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước - một cơ
quan mới, không có tổ chức tiền thân và chưa có tiền lệ hoạt động trong cơ
cấu tổ chức bộ máy của Nhà nước ta. Trong 15 năm xây dựng và phát triển,
các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước
không ngừng được bổ sung hoàn thiện, đặc biệt tại Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội
khoá XI đã thông qua Luật Kiểm toán nhà nước là một bước tiến to lớn về
phương diện lập pháp đối với lĩnh vực kiểm toán nhà nước. Trên cơ sở các
1
văn bản pháp luật này, tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước ngày
càng đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, tăng cường kiểm tra, giám sát
của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước;

- Hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước
vẫn còn có nhiều bất cập: các chế định pháp luật về địa vị pháp lý, chức năng,
nhiệm vụ, quyền và trách nhiệm của KTNN còn chưa tương xứng với vị trí,
vai trò của Kiểm toán Nhà nước, còn thiếu không ít các quy phạm pháp luật
điều chỉnh các quan hệ với các bên có liên quan và chưa đồng bộ, giữa nội
dung và hình thức các văn bản pháp luật còn có những bất cập ; chưa đáp
ứng kịp thực tiễn đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, chưa hoàn toàn
phù hợp với khuyến cáo của Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao
và thông lệ quốc tế.
- Sự tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật kiểm toán nhà nước
của một bộ phận cán bộ, công chức Kiểm toán Nhà nước, đơn vị được kiểm
toán và tổ chức, cá nhân có liên quan vẫn còn không nghiêm dẫn đến phát
sinh tiêu cực, phiền hà; tham nhũng, gian lận trong quản lý, sử dụng ngân
sách, tiền và tài sản nhà nước; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
các kết luận, kiến nghị kiểm toán điều này đã làm giảm hiệu lực và hiệu quả
hoạt động của KTNN với tư cách là cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước cao
nhất của quốc gia.
- Cơ chế đảm bảo cho việc tuân thủ và chấp hành nghiêm minh pháp
luật, pháp chế kiểm toán nhà nước còn thiếu rõ ràng, minh bạch, chưa hiệu quả,
cũng như chưa đủ tính cưỡng chế đảm bảo duy trì việc tuân thủ và thực hiện
pháp luật kiểm toán nhà nước một cách thường xuyên, liên tục và đồng bộ
Từ những lý do trên đây việc tăng cường pháp chế trong lĩnh vực
kiểm toán nhà nước ở nước ta hiện nay là vấn đề có tính cấp thiết cả về lý
3
luận và thực tiễn, do vậy, tác giả chọn đề tài: "Pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong hoạt động kiểm toán nhà nước ở Việt Nam" làm luận văn tốt nghiệp
cao học, chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Pháp chế XHCN là một trong những phạm trù pháp lý cơ bản có ý
nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội.

nay", Luận án Phó tiến sĩ luật học của Nguyễn Phùng Hồng, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1994;
- "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa về kinh tế trong quản lý nhà
nước nền kinh tế thị trường định hướng pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay", Luận án Phó tiến sĩ Luật học của Quách Sĩ Hùng, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1996;
- "Tăng cường pháp chế trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở nước
ta hiện nay", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Huy Bằng, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001;
- "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát nhân dân
thành phố Hà Nội", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Chí Dũng, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 ;
- "Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực thi đua khen thưởng ở
tỉnh Thanh Hoá hiện nay", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Xuân Hà,
Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2008
Các công trình đều đưa ra khái niệm pháp chế XHCN nói chung và
khái niệm, đặc trưng và giải pháp tăng cường pháp chế XHCN trên từng lĩnh
vực cụ thể.
5
Từ tình hình nghiên cứu trên cho thấy, đến nay chưa có công trình
khoa học nào trực tiếp nghiên cứu "Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt
động kiểm toán nhà nước ở Việt Nam". Mặc dù vậy, các công trình đã công
bố nêu trên là tài liệu tham khảo có giá trị để nghiên cứu và viết hoàn thiện đề
tài luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn:
Luận văn có mục đích nghiên cứu là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và
đánh giá thực trạng pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước, đề
xuất các quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm và tăng cường pháp chế trong

dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: lịch sử - cụ thể, phân tích -
tổng hợp, kết hợp với phương pháp xã hội học, thống kê, so sánh.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Là luận văn là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện
và hệ thống "Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động kiểm toán nhà
nước ở Việt Nam". Vì vậy, có những điểm mới cụ thể sau:
- Xác định khái niệm, nội dung của pháp chế trong hoạt động kiểm
toán nhà nước.
- Chỉ ra được những đặc trưng của pháp chế XHCN trong hoạt động
kiểm toán nhà nước.
- Chỉ ra được những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những tồn
tại về thực trạng pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước.
- Xác lập hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm bảo đảm pháp chế
XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết.
7
8
Chương 1
Cơ sở lý luận về pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong hoạt động kiểm toán nhà nước
1.1. Khái niệm, đặc trưng của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động kiểm
toán nhà nước
1.1.1. Những vấn đề cơ bản về kiểm toán và Kiểm toán Nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm, sự cần thiết khách quan, chức năng và phân loại
kiểm toán
a) Khái niệm kiểm toán
Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng kiểm toán ra đời từ thời La Mã
cổ đại vào thế kỷ thứ III trước Công Nguyên. Chính vì vậy, kiểm toán có gốc

nghiệp vụ kinh tế mà người cung cấp thông tin không đủ khả năng xử lý. Để
hạn chế rủi ro thông tin, người sử dụng thông tin có thể tự kiểm tra trước khi
sử dụng. Điều này sẽ rất tốn kém và không thực tế bởi không phải người sử
dụng thông tin nào cũng đủ điều kiện và thời gian để tự kiểm tra thông tin tr-
ước khi ra quyết định. Sẽ rất lãng phí khi mỗi người sử dụng thông tin đều
phải tự mình đi kiểm tra. Đôi khi trên thực tế sẽ không thể kiểm tra được do
sự cách trở về thời gian, không gian hay bởi trình độ nghiệp vụ. Để khắc phục
yếu tố này một phương cách tốt nhất là các thông tin trước khi công bố cho
bên thứ ba (người sử dụng thông tin) sẽ có một cơ quan, tổ chức kiểm toán để
xác nhận mức độ tin cậy. Các tổ chức kiểm toán sẽ thực hiện kiểm toán các
thông tin, xác nhận mức độ tin cậy và cung cấp cho người sử dụng. Người sử
dụng thông tin có thể yên tâm tiếp nhận các thông tin phục vụ cho công tác
quản lý của mình với mức rủi ro thấp nhất. Nếu chủ thể sử dụng thông tin là
Nhà nước (Chính phủ, Quốc hội) thì sẽ thành lập cơ quan kiểm toán thuộc cơ
cấu nhà nước (cơ quan Kiểm toán Nhà nước) để kiểm toán các thông tin trước
10
khi sử dụng cho hoạt động quản lý của Nhà nước. Nếu là các tổ chức khác,
các hãng kinh doanh sẽ phải sử dụng các dịch vụ kiểm toán được cung cấp
bởi các doanh nghiệp kiểm toán. Các doanh nghiệp kiểm toán sẽ thực hiện
kiểm toán theo yêu cầu của khách hàng và cung cấp thông tin xác thực phục
vụ khác hàng. Với các cơ quan, đơn vị hay tổ chức kinh doanh có quy mô lớn,
để phục vụ quản lý nội bộ sẽ thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ trực thuộc
ban lãnh đạo để kiểm toán các thông tin phục vụ cho việc ra quyết định quản
trị nội bộ. Như vậy, với sự ra đời của kiểm toán, hoạt động kiểm toán đã góp
phần hạn chế rủi ro về thông tin, chuẩn hoá thông tin, nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý kinh tế, góp phần đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng và phát
triển. Đây là vai trò hết sức quan trọng của kiểm toán và chỉ có hoạt động
kiểm toán mới có thể thực hiện được vai trò này.
c) Chức năng của kiểm toán
Từ định nghĩa chung về kiểm toán đã được nêu ở phần trên, ta có thể

kiểm toán hình thành và phát triển hoàn toàn khác nhau tuỳ theo từng giai
đoạn lịch sử nhất định. ở thời kỳ đầu, người ta thường chỉ tập trung quan tâm
đến chức năng kiểm tra xác nhận. Nhưng khi xã hội càng phát triển, người ta
càng quan tâm nhiều hơn đến chức năng tư vấn của kiểm toán, đó là việc nhìn
nhận, định hướng cho một tương lai đúng đắn để có những quyết định tối ưu
và giành được thắng lợi trong cạnh tranh.
d) Phân loại kiểm toán
Việc phân loại kiểm toán thường được thực hiện theo hai cách cơ bản
sau đây:
Một là: Theo mục mục đích của kiểm toán (hay theo đối tượng trực
tiếp của kiểm toán)
12
Căn cứ vào mục đích cụ thể (hay đối tượng trực tiếp) của kiểm toán,
người ta thường chia kiểm toán thành ba loại là: kiểm toán hoạt động
(Performance Audit), kiểm toán tuân thủ (Compliance Audit) và kiểm toán
báo cáo tài chính (Audit of Financial Statements).
- Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán hoạt động là loại kiểm toán nhằm để xem xét và đánh giá về
tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động được kiểm toán.
Tính kinh tế là sự tiết kiệm các nguồn lực. Hay đây còn gọi là nguyên
tắc tối thiểu, nghĩa là để đạt được mục tiêu nhất định cần dùng một lượng
nguồn lực ít nhất.
Tính hiệu lực là khả năng về mức độ hoàn thành các nhiệm vụ và mục
tiêu đã xác định của đơn vị.
Tính hiệu quả là việc đạt được kết quả cao nhất với một lượng nguồn
lực nhất định, hay đây còn gọi là nguyên tắc tối đa.
Có rất nhiều lĩnh vực khác nhau cần phải kiểm tra và theo dõi về tính
kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả nên đối tượng của kiểm toán hoạt động cũng
rất phong phú và đa dạng. Chúng không chỉ giới hạn trong lĩnh vực tài chính
mà còn có thể bao gồm nhiều lĩnh vực và hoạt động khác như việc đánh giá

do một khách hàng, không phải đơn vị được kiểm toán có nhu cầu, như việc
kiểm tra tính tuân thủ các quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp ở một đơn
vị do cơ quan thuế thuê, thì kết quả kiểm toán sẽ được báo cáo cho cơ quan
thuế đã thuê kiểm toán đó.
- Kiểm toán báo cáo tài chính
14
Kiểm toán báo cáo tài chính là loại kiểm toán nhằm kiểm tra và xác
nhận về tính trung thực, hợp lý của các báo cáo tài chính được kiểm toán.
Báo cáo tài chính được kiểm toán thường là bảng cân đối kế toán, báo
cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh báo
cáo tài chính của các đơn vị tổ chức kinh doanh. Ngoài ra, các báo cáo tài
chính của các đơn vị khác như bảng cân đối kế toán, báo cáo quyết toán vốn,
ngân sách của các đơn vị hành chính, sự nghiệp, của các dự án đầu tư cũng
là những đối tượng thông tin của kiểm toán báo cáo tài chính. Tiêu chuẩn,
chuẩn mực cho việc đánh giá thông tin của loại kiểm toán này thường là các
chuẩn mực kế toán, các quy định pháp lý về kế toán và những quy định khác
có liên quan.
Hai là: Theo loại hình tổ chức kiểm toán (theo chủ thể thực hiện kiểm toán)
Theo cách phân loại này, kiểm toán được chia làm ba loại là Kiểm toán
Nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ.
- Kiểm toán Nhà nước: là cơ quan kiểm tra tài chính tối cao của quốc
gia, thực hiện việc kiểm tra và báo cáo về việc quản lý và sử dụng các nguồn
lực của Nhà nước ở các đơn vị.
- Kiểm toán độc lập: được tổ chức dưới dạng doanh nghiệp kiểm toán
(công ty hay hãng kiểm toán) nhằm cung cấp dịch vụ kiểm toán và các dịch
vụ khác có tính chuyên môn cho xã hội.
- Kiểm toán nội bộ: được tổ chức bên trong mỗi đơn vị, thực hiện kiểm
tra và cho ý kiến về các đối tượng được kiểm toán nhằm giúp đơn vị thực hiện
tốt các chức năng và nhiệm vụ của mình.
Hiện nay, ở nước ta trong nền kinh tế quốc dân có cả 3 loại kiểm toán

việc tăng cường kiểm soát, thực hiện mục đích sử dụng hợp lý và có hiệu quả
các nguồn lực tài chính của các cơ quan công quyền, các tổ chức, đơn vị có sử
dụng ngân sách nhà nước. Kiểm toán Nhà nước được khẳng định như một
16
chức năng, một công cụ quan trọng không thể thiếu được của hệ thống quyền
lực Nhà nước hiện đại. Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động kiểm toán
nhà nước, tuyên bố Lima của INTOSAI đã nhấn mạnh:
Trong bối cảnh việc sử dụng thống nhất và hiệu quả các khoản
công quỹ là một trong những đòi hỏi thiết yếu đầu tiên cho việc sử
dụng hợp lý các nguồn tài chính công và hiệu năng các quyết định
của các cơ quan có thẩm quyền; … Để đạt được mục tiêu này,
không thể phủ nhận được rằng, mỗi quốc gia cần có một Cơ quan
Kiểm toán Tối cao được pháp luật bảo đảm tính độc lập; trong bối
cảnh các Cơ quan Kiểm toán Tối cao đang ngày càng trở nên cần
thiết hơn khi nhà nước đã và đang mở rộng hoạt động của mình
sang lĩnh vực kinh tế, xã hội và vì vậy, phải hoạt động tuân theo
những quy định của khuôn khổ tài chính vốn có [60].
Tuy nhiên, sự quản lý, chỉ đạo và điều hành hoạt động đối với tổ chức
Kiểm toán Nhà nước ở từng quốc gia lại tuỳ thuộc luật pháp cụ thể của từng
nước. ở Việt Nam, cơ quan Kiểm toán Nhà nước được thành lập từ năm 1994
theo Nghị định số 70/CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ và là cơ
quan thuộc Chính phủ. Trải qua hơn mười lăm năm hoạt động, Kiểm toán
Nhà nước Việt Nam đã từng bước phát triển vững chắc, đóng góp quan trọng
cho việc chấn chỉnh công tác quản lý tài chính nói riêng và việc chấp hành
pháp luật nói chung. Hiện nay, theo Luật Kiểm toán nhà nước đã được Quốc
hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ bảy
Quốc hội khoá XI; “Kiểm toán Nhà nước là một cơ quan chuyên môn về lĩnh
vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật” [50].
Theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước: “Hoạt động kiểm toán

một trong ba phân hệ kiểm toán, Kiểm toán Nhà nước có đầy đủ các chức năng
cơ bản của kiểm toán nói chung, bao gồm:
- Chức năng xác nhận: nhằm khẳng định mức độ trung thực của số liệu,
tài liệu và tính hợp pháp của các thông tin được kiểm toán;
- Chức năng tư vấn: mục đích của kiểm toán không dừng lại ở chức
năng "xác nhận", do yêu cầu phát triển kinh tế ngày càng đa dạng, các loại
hình sở hữu tư liệu sản xuất ngày càng phong phú, các hình thức kinh doanh
cũng như việc quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí ngân sách nhà nước của
chính phủ và các tổ chức đòi hỏi phải có hiệu quả hơn. Do đó chức năng tư
vấn ngày càng đóng vai trò quan trọng.
Ngoài hai chức năng cơ bản trên đây, tuỳ thuộc vào thể chế chính trị, tổ
chức nhà nước và lịch sử, ở một số nước, Kiểm toán Nhà nước còn có những
chức năng đặc thù như ở Cộng hoà Pháp và một số nước Châu Âu Kiểm toán
Nhà nước (Toà Thẩm kế) còn có chức năng xét xử như một quan toà đối với
các vi phạm của tổ chức và cá nhân trong việc quản lý và sử dụng công quỹ,
hay như ở Mỹ Kiểm toán Nhà nước còn có chức năng của cơ quan điều tra tội
phạm kinh tế
ở Việt Nam, theo quy định tại điều 14, Luật Kiểm toán Nhà nước:
“Kiểm toán Nhà nước có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán
tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với mọi cơ quan, tổ chức có quản lý, sử
dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước [50].
Như vậy, Kiểm toán Nhà nước có chức năng thực hiện kiểm toán các
tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán ngân sách của các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương trước khi trình Hội đồng nhân dân và báo cáo quyết
toán ngân sách nhà nước của Chính phủ trước khi trình Quốc hội; báo cáo
quyết toán của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan
thuộc Quốc hội, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, các đơn vị sự
19
nghiệp công, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội có sử dụng kinh phí
ngân sách nhà nước; báo cáo quyết toán của các chương trình dự án, các công

phạm vi đối tượng của Kiểm toán Nhà nước có những giới hạn nhất định, đặc
biệt là ở các lĩnh vực nhạy cảm và lĩnh vực tối mật quốc gia (an ninh, quốc
phòng).
ở nước ta, đối tượng của Kiểm toán Nhà nước được xác định xuất phát
từ đặc điểm tổ chức ngân sách nhà nước (NSNN) theo nguyên tắc tập trung,
thống nhất. Mỗi đơn vị dự toán là một bộ phận cấu thành của một cấp ngân
sách, ngân sách cấp dưới là một bộ phận của ngân sách cấp trên. NSNN là số
liệu tổng hợp toàn bộ số thu - chi của ngân sách trung ương và ngân sách của
các cấp chính quyền địa phương. Do đó phạm vi kiểm toán rộng liên quan đến
tất cả các bộ, ngành trung ương và ngân sách các tỉnh, thành phố, quận, huyện
và ngân sách xã, phường; các đơn vị sử dụng ngân sách và có nguồn gốc từ
NSNN, ngoài ra Kiểm toán Nhà nước còn có nhiệm vụ kiểm toán các quỹ
ngoài ngân sách và các quỹ công khác.
Điều 5, Luật Kiểm toán Nhà nước, quy định: “Đối tượng kiểm toán
của Kiểm toán Nhà nước là hoạt động có liên quan đến quản lý, sử dụng
ngân sách, tiền và tài sản nhà nước [50], bao gồm các đơn vị được kiểm toán
sau: các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác
ở trung ương; các cơ quan được giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước
các cấp; Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan khác ở địa
phương; các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, kể cả Toà án Quân sự
và Viện kiểm sát quân sự; các đơn vị quản lý quỹ dự trữ của Nhà nước, quỹ
dự trữ của các ngành, các cấp, quỹ tài chính khác của Nhà nước; các tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ
21
chức xã hội nghề nghiệp có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước; các đơn vị
sự nghiệp được ngân sách nhà nước đảm bảo một phần hoặc toàn bộ kinh phí;
các tổ chức quản lý tài sản quốc gia; các ban quản lý dự án đầu tư có nguồn
kinh phí ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; các
hội, liên hiệp hội, tổng hội, các tổ chức khác được ngân sách nhà nước hỗ trợ
một phần kinh phí hoạt động; doanh nghiệp nhà nước. Ngoài các cơ quan,

chất lượng kiểm toán, trung thực và khách quan của mọi kết luận kiểm toán,
mỗi cơ chế hoạt động đều có những quy tắc ứng xử cần thiết và thích hợp
trong lãnh đạo và điều hành hoạt động của cơ quan Kiểm toán Nhà nước.
ở Việt Nam Kiểm toán Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập
trung, thống nhất bao gồm Kiểm toán Nhà nước trung ương và Kiểm toán
Nhà nước các khu vực, tạo điều kiện cho Kiểm toán Nhà nước hoạt động độc
lập, không chịu sự chi phối của chính quyền các cấp. Đây là một trong những
điều kiện quan trọng đảm bảo tính độc lập, trung thực, khách quan. Qua thời
gian thực hiện mô hình tổ chức này thể hiện khá ưu việt, với hệ thống tổ chức
theo phương pháp trực tuyến là Kiểm toán Nhà nước trung ương và Kiểm
toán Nhà nước các khu vực thể hiện tính tập trung, thống nhất cao, tạo điều
kiện để khai thác triệt để những ưu điểm của phương pháp quản lý trực tuyến,
giảm bớt những ách tắc qua nhiều khâu trung gian, bảo đảm thu nhận thông
tin được thực hiện nhanh chóng. Đồng thời mỗi Kiểm toán Nhà nước khu vực
được giao nhiệm vụ kiểm toán trên phạm vi khu vực (bao gồm một số tỉnh),
vừa giảm chi phí cho hoạt động kiểm toán lại vừa có điều kiện am hiểu điều
kiện hoạt động của các đơn vị được kiểm toán, nhất là các đặc điểm ảnh
hưởng đến hoạt động kinh tế - tài chính và thu - chi ngân sách hàng năm.
23
Đến nay cơ cấu tổ chức của KTNN gồm có 25 đơn vị cấp Vụ và tương
đương trực thuộc gồm 6 đơn vị tham mưu thuộc bộ máy điều hành, 7 KTNN
chuyên ngành (kiểm toán các Bộ, ngành, cơ quan ở trung ương, tập đoàn,
tổng công ty 90, 91, các ngân hàng, tổ chức tài chính, dự án nhóm A ), 9
KTNN khu vực (kiểm toán ngân sách địa phương) và 3 đơn vị sự nghiệp.
đ) Kiểm toán viên nhà nước
Kiểm toán viên trong bộ máy Kiểm toán Nhà nước thường được gọi là
Kiểm toán viên nhà nước (State Auditors). Kiểm toán viên nhà nước thuộc hệ
thống công chức của Nhà nước, phải đảm bảo những tiêu chuẩn về chuyên
môn cũng như các tiêu chuẩn khác ở một mức độ nhất định. Tuỳ theo luật
pháp của từng quốc gia, Kiểm toán viên nhà nước có thể được tuyển dụng hay

chính thức của Tổ chức các Cơ quan kiểm toán tối cao Châu á (ASOSAI).
1.1.2. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động kiểm
toán nhà nước
Để tiếp cận vấn đề pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động kiểm
toán nhà nước, trước hết ta tìm hiểu khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa nói
chung và từ đó nhận diện nó trong hoạt động kiểm toán nhà nước.
Pháp chế XHCN là một khái niệm khoa học được hình thành trong
nền khoa học pháp lý XHCN. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin
qua các tác phẩm của mình đã quan niệm pháp chế XHCN là một hiện tượng
xã hội tồn tại vận động theo các nguyên lý sau đây:
- Pháp chế là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị, kinh tế-xã hội
trong đó mọi thành viên quan hệ với nhau theo pháp luật;
- Pháp chế là một nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà
nước xã hội chủ nghĩa;
25

Trích đoạn Nguyên nhân hạn chế của thực trạng pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước ở nước ta hiện nay Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm toán nhà nước Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật kiểm toán nhà nước cho cán bộ, công chức của Kiểm toán Nhà Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Luật Kiểm toán nhà nước và các luật có liên quan về hoạt động kiểm toán và không Tiếp tục phát triển, hoàn thiện tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước theo mô hình quản lý tập trung thống nhất, bao gồm các đơn vị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status