Mục lục Trang
A. MỞ BÀI
1
B. NỘI DUNG
1
B.1. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm
1
I - Thụ lý và nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự
2
1. Thụ lý hồ sơ vụ án hình sự
2
2. Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự
2
II - Thời hạn chuẩn bị xét xử
3
III - Những quyết định của tòa án trong khi chuẩn bị xét xử
5
1. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung
5
a, Quyết định trả hố sơ vụ án để điều tra trong các trường hợp sau
5
b, Những trường hợp không cần trả lại hố sơ để điều tra bổ sung
6
2. Quyết định tạm đình chỉ vụ án
7
3. Quyết định đình chỉ vụ án
7
4. Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn
8
a, Biện pháp tạm giam
8
III - Thông báo việc xét xử…………………………………………………..12
B.3. - Những hạn chế và phương pháp hoàn thiện………………………….12
1.Những hạn chế……………………………………………………………12
2.Giải pháp hoàn thiện…………………………………………………….13
C. KẾT LUẬN…………………………………………………………….…..14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A – Mở bài
Luật tố tụng hình sự Việt nam năm 2003 thay thế bộ luật tố tung hình sự năm
1989. Trong đó, bộ luật mới đã hoàn thiện những điểm bất cập và hạn chế của bộ
luật tố tụng hình sự năm 1989. Nhưng trong cuộc sống không có gì là hoàn hảo do
vậy mặc dù đã sửa đổi nhưng cũng không tránh khỏi những bất cập và hạn chế.
Trong một quá trình tố tụng hình sự thì gồm bảy giai đoạn: khởi tố vụ án hình sự,
điêu tra vụ án hình sự, truy tố,xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, thi hành án và thủ
tục giám đốc thẩm. Những giai đoạn này thống nhất với nhau, có mối quan hệ
khăng khít nhưng mỗi giai đoạn lại gắn liền với trách nhiệm của từng cơ quan tiến
hành tố tụng do vậy càng không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Trong mỗi
giai đoạn lại có những giai đoạn khác nhau ví dụ như giai đoạn xét xử sơ thẩm thì
bao gồm: chuẩn bị xét xử, xét xử tại phiên tòa, nghị án…Sau đây bài làm của em
2
xin trình bày ý kiến của mình về chuẩn bị xét xử vụ án hình sự và việc hoàn thiện
các quy định pháp luật về chuẩn bị xét xử.
B – Nội dung
Theo nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử hai cấp quy định tại điều 19
BLTTHS năm 2003 thì một vụ án sẽ được xét xử tại hai cấp tòa: sơ thẩm và phúc
thẩm. Do đó tại mỗi cấp sẽ có giai đoạn chuẩn bị khác nhau.
B.1. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm thì bao gồm 2 giai đoạn chính: thụ
lý, nghiên cứu hồ sơ và ra các quyết định của thẩm phán được phân công làm chủ
tọa phiên tòa. Đây là giai đoạn diễn ra móc nối giữa Viện kiểm sát cùng quyết định
truy tố và Tòa án cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử. Do vậy đây có thể nói là giai
nghiệp vụ xét xử đồi với vụ án theo điều 21 quy chế về tổ chức và hoạt động của
hội thẩm TAND ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005/NQLT-TAND-BNV-
UBMTTQVN: “Khi được phân công làm nhiệm vụ xét xử, trong thời hạn ít nhất 7
ngày làm việc trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công làm chủ tọa
phiên tòa có trách nhiệm gửi giấy mời Hội thẩm đến trụ sổ Tòa án để nghiên cứu hồ
sơ vụ án và trao đổi các vấn đề cần thiết về nghiệp vụ xét xử đối với vụ án đó”
Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu
hồ sơ vụ án, tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, yêu cầu của người tham gia tố tụng và
tiến hành những việc cần thiết cho mở phiên tòa.
Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên
tòa có thể ra quyết định: trả hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ vụ án; tạm đình chỉ
vụ án; đưa vụ án ra xét xử; áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn
không phải là tạm gianm. Cũng tren cơ sở đó thẩm phán đó đề nghị chánh án tòa án
ra quyết định áp dụng,thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam; áp dụng hoặc hủy bỏ
biện pháp kê bien tài sản; gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử; thay đổi người tiến
hành tố tụng; chuyển vụ án.
II, Thời hạn chuẩn bị xét xử
Theo quy định tại điều 176 bộ luật TTHS năm 2003 thì thời hạn chuẩn bị xét
xử sơ thẩm được quy định tính kể từ ngày thẩm phán được phân công làm chủ tọa
4
phiên tòa nhận hồ sơ vụ án: “2. Trong thời hạn ba mươi ngày đối với tội phạm ít
nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với
tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ
ngày nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một
trong những quyết định sau đây:
a) Đưa vụ án ra xét xử ;
b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn
chuẩn bị xét xử, nhưng không quá mười lăm ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng
hoặc nhiều địa phương; có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần
có thêm thời gian để nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc để
tham khảo ý kiến của cơ quan chuyên môn”
(1)
. Khi thời hạn chuẩn bị xét xử còn lại
không quá 5 ngày thì thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa ra quyết
định ra hạn chuẩn bị xét xử và thông báo ngay cho viện kiểm sát cùng cấp. Thời
hạn gia hạn chuẩn bị xét xử đối với tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng là 15 ngày,
tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng là 30 ngày.
- Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa đối với tội phạm ít nghiêm trọng là 45
ngày, tội phạm nghiêm trọng là 60 ngày, tội phạm rất nghiêm trọng là 70 ngày, tội
phạm đặt biết nghiêm trọng là 120 ngày.
III- Những quyết định của tòa án trong khi chuẩn bị xét xử
Trong khi chuẩn bị xét xử thì tòa án có những quyết định sau: trả hồ sơ để
điều tra bổ sung; tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ vụ án;áp dụng, thay đổi và hủy bỏ
biện pháp ngăn chặn; đưa vụ án ra xét xử
1, Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Về quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì luật tố tụng hình sự năm 2003 quy
định tại điều 179: “1. Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều
tra bổ sung trong những trường hợp sau đây:
a) Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ
sung tại phiên tòa được;
1()
Mai Thành Hiếu, Nguyễn Chí Công. Trình tự thủ tục giải quyết vụ án hình sự, NXB lao động 2007. trang 119
6