Thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm và việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này - Pdf 34

BÀI LÀM
A. MỞ ĐẦU
Xét xử sơ thẩm là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình giải quyết vụ án
hình sự vì đây là lần đầu tiên vụ án được giải quyết về nội dung. Thông qua
các thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm như bắt đầu phiên tòa, xét hỏi và tranh luận
tại phiên tòa, nghị án và tuyên án mà Tòa án sẽ giải quyết được vụ án như ra
được bản án quyết định bị cáo có tội hay không có tội. Để tìm hiểu sâu hơn
quy định của pháp luật về thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm em xin chọn đề
bài “Thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm và việc hoàn thiện các quy định của
pháp luật về vấn đề này”.
B. NỘI DUNG
I. Quy định của pháp luật về thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm: đó là cách thức tiến hành xét xử lần đầu
tại phiên tòa theo một trật tự xác định nhằm giải quyết toàn diện nội dung vụ
án hình sự, được quy định trong BLTTHS. Bao gồm thủ tục bắt đầu phiên tòa,
xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án.
1. Thủ tục bắt đầu tại phiên tòa.
Thủ tục bắt đầu phiên tòa được quy định từ Điều 201 đến Điều 205
BLTTHS năm 2003 nhằm kiểm tra sự có mặt của những người tham gia tố
tụng và tạo điều kiện cần thiết cho phiên tòa.


Đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử

Điều 201 BLTTHS quy định “khi bắt đầu phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa đọc
quyết định đưa vụ án ra xét xử”. Quy định này là hoàn toàn phù hợp vì thông
qua quyền nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo có điều kiện để
thực hiện một số quyền cơ bản như quyền bào chữa, quyền tham gia phiên tòa,
quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng… Thông qua nội dung của
quyết định đưa vụ án ra xét xử được đọc tại phiên tòa, các bị cáo và những
1


Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sư, tr 136.

2


vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hỏi Kiểm sát viên, bị cáo… xem ai có yêu
cầu hoàn phiên tòa để triệu tập người vắng mặt hay không. Mặt khác, Điều
202 BLTTHS quy định rõ chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên và những người
tham gia tố tụng xem họ có yêu cầu đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm,
Kiểm sát viên và thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch. Vì hoạt
động của những người này có ảnh hưởng rất lớn đối với kết quả của quá trình
tố tụng. Vì vậy nếu họ làm việc không vô tư, khách quan sẽ có nguy cơ làm
sai lệch kết quả xét xử nên việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiếm
sát viên, thư ký Tòa án là hợp lý. Và người giám định cũng như người phiên
dịch có mặt để giúp đỡ cho việc tố tụng được thuận lợi. Do đó những người
tham gia tố tụng có quyền đề nghị thay đổi người này giúp cho quá trình xét
xử được khách quan và toàn diện.
2. Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa.
Xét hỏi là thủ tục trong xét xử do HĐXX, Kiểm sát viên và những người
khác theo quy định của pháp luật thực hiện bằng cách đặt câu hỏi trực tiếp cho
bị cáo và những người tham gia tố tụng, xem xét vật chứng, xem xét hiện
trường xảy ra vụ án nhằm kiểm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa để giải
quyết vụ án. 2 Mục đích của việc xét hỏi là xem xét công khai những chứng cứ
đã thu thập ở giai đoạn điều tra và chứng cứ mới để chứng minh vụ án.
• Đại diện Viện Kiểm sát đọc bản cáo trạng:
Mở đầu xét hỏi là việc Viện Kiểm sát đọc bản cáo trạng – thủ tục bắt buộc
(Điều 206 BLTTHS). Sau đó, Kiểm sát viên có thể trình bày bổ sung ý kiến
(nếu có) thể hiện sự truy tố công khai của Viện Kiểm đối với bị cáo.
Việc đọc bản cáo trạng giúp cho người tham gia tố tụng cũng như người

Chủ tọa hỏi trước rồi đến Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo
vệ quyền lợi của đương sự, người giám định. Tuy nhiên, do chức năng và tư
cách tham gia tố tụng tại phiên tòa của các chủ thể này khác nhau nên phạm
vi, nội dung xét hỏi cũng khác nhau.
Thứ tự xét hỏi: những người tham gia xét hỏi có thể xét hỏi lần lượt từng
người, theo thứ tự nhất định và chủ tọa phiên tòa phải xác định cần xét hỏi
người nào trước, người nào sau. Sau khi Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng xong
chủ tọa phiên tòa hỏi xem bị cáo có ý kiến gì về bản cáo trạng hay không, bị
cáo bị truy tố về tội gì theo điểu khoản nào của Bộ luật Hình sự. Trong trường
4


hợp Kiểm sát viên bổ sung bản cáo trạng làm cho nội dung bản cáo trạng có
thay đổi lớn, ảnh hưởng đến quyền bào chữa của bị cáo thì chủ tọa phiên tòa
phải hỏi xem bị cáo có ý kiến gì không. Nếu bị cáo yêu cầu hoãn phiên tòa thì
HĐXX phải xem xét quyết định. Theo Điều 210 BLTTHS, tiếp đến là hỏi
người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người đó trình bày về những
tình tiết của vụ án. Sau đó, HĐXX, Kiểm sát viên, người bào chữa và người
bảo vệ quyền lợi của đương sự hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa
đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.
Khi hỏi người làm chứng, HĐXX hỏi riêng từng người và không để cho
những người làm chứng khác biệt được nội dung xét hỏi đó. HĐXX phải làm
rõ mối quan hệ giữa người làm chứng với bị cáo và các đương sự khác trong
vụ án, yêu cầu họ trình bày rõ những tình tiết mà họ biết về vụ án. Nếu người
làm chứng là người chưa thành niên thì chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha,
mẹ, người đỡ đầu hoặc thày cô giáo giúp đỡ xét hỏi.
Hỏi người giám định: người giám định được hỏi về những vấn đề có liên
quan đến công tác giám định. HĐXX yêu cầu người giám định trình bày kết
luận giám định và sau đó hỏi thêm những vấn đề chưa rõ. Tại phiên tòa, người

• Kết thúc xét hỏi:
Khi nhận thấy các tình tiết vụ án đã được xem xét đầy đủ, chủ tọa phiên tòa
hỏi kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người khác tham gia phiên
tòa xem có yêu cầu xét hỏi gì nữa không. Nếu có người yêu cầu và thấy là cần
thiết thì chủ tọa phiên tòa sẽ quyết định tiếp tục việc xét hỏi. Nếu không có
yêu cầu hoặc yêu cầu không hợp lý chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phần
xét hỏi, chuyển sang phần tranh luận.
3. Tranh luận tại phiên tòa
6


Tranh luận là “bàn cãi để tìm ra lẽ phải”. 3 Tranh luận bao gồm trình tự
phát biểu tại phiên tòa, đối đáp tại phiên tòa, trở lại việc xét hỏi, xem xét việc
rút quyết định truy tố, kết thúc tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo.
Trong phần tranh luận bên buộc tội và bên bào chữa sẽ đưa ra các đánh giá,
kết luận của mình về chứng cứ của vụ án đã được làm rõ trong quá trình xét
hỏi trước đó. Để đảm bảo những quan điểm của mình, các bên tham gia tranh
tụng trên cơ sở phân tích chứng cứ, tài liệu có liên quan để có những lý lẽ, lập
luận phản bác lại quan điểm của bên kia. HĐXX lắng nghe các bên tranh luận,
đối đáp là cơ sở cho việc nghị án và đưa ra các phán quyết phù hợp, đúng đắn.
• Các chủ thể trực tiếp tham gia vào tranh luận
Bao gồm: Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của đương sự và người tham gia tố tụng khác trừ người
làm chứng, người giám định và phiên dịch.
• Trình tự phát biểu khi tranh luận:
Trước hết, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội căn cứ vào những tài liệu,
chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bảo vệ
quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
Kiểm sát viên có thể đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung
cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn. Nếu kiểm sát viên rút một phần quyết

kiến về nội dung bào chữa thì Kiểm sát viên có thể tổng hợp để đối đáp chung
một lần cho các ý kiến đó.
Trong trường hợp người tham gia tranh luận có ý kiến khác nhau thì họ có
quyền phản bác lại ý kiến mà mình không đồng ý. Chủ tọa phiên tòa không
được hạn chế thời gian tranh luận và phải tạo điều kiện cho những người tham
gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không
liên quan đến vụ án. Đối với những ý kiến có liên quan đến vụ án chưa được
Kiểm sát viên tranh luận thì chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên
phải tranh luận và đáp lại. Trong quá trình tranh luận nếu xét thấy cần xem xét
thêm chứng cứ mới thì HĐXX có thể quyết định trở lại việc xét hỏi, xét hỏi
8


xong phải tiếp tục tranhluận. Sau khi những người tham gia tranh luận không
còn trình bày gì thêm nữa, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc tranh luận và bị
cáo được nói lời sau cùng. Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm
tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án thì HĐXX phải quyết định
trở lại việc xét hỏi (Điều 220 BLTTHS).
4. Nghị án và tuyên án
4.1 Nghị án
Nghị án là “thảo luận riêng để quyết định hình thức xử lý về một vụ án”. 4
Trong TTHS được hiểu là việc HĐXX đưa ra các quyết định để giải quyết
toàn diện các vấn đề trong vụ án. Theo quy định tại Điều 222 BLTTHS thì
“Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án”, khi nghị án chỉ được
căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem
xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và những người
tham gia tố tụng tại phiên tòa. Nếu thấy có tình tiết của vụ án chưa được xét
hỏi hoặc xét hỏi chưa đầy đủ thì HĐXX phải quyết định trở lại xét hỏi và
tranh luận theo trình tự được quy định trong BLTTHS.
Mặc dù BLTTHS không quy định nội dung phải xem xét, giải quyết trong

hình sự sơ thẩm.
Chất lượng xét xử vụ án hình sự ngày càng được nâng cao thể hiện việc người
bị kết án oan sai ngày càng giảm: năm 2004 có 5 người bị kết án oan, năm
2005 có 4 người bị kết án oan, và năm 2006 không có trường hợp nào Tòa án
kết án oan. Tuy nhiên theo quy định của BLTTHS về thủ tục phiên tòa sơ
thẩm vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác cải cách tư pháp ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay, quy định về tình tự xét hỏi, tranh luận chưa thể hiện
được yêu cầu của tòa án phải có vai trò khách quan, công bằng, vô tư của một
vị trọng tài đứng giữa phán xét.
• Về thủ tục bắt đầu phiên tòa:

10


Bao gồm các điều luật từ Đ 201- Đ.205 quy định nhiều nội dung khác nhau
nhằm giúp cho HĐXX xác định được các điều kiện cần thiết cho việc xét xử.
- Đ.201 chỉ quy định về một số việc chủ tọa phiên tòa phải làm khi bắt đầu
phiên tòa gồm: đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, kiểm tra căn cước người
tham gia tố tụng và giải thích quyền nghĩa vụ của họ tại phiên tòa nhưng cũng
đặt tên là “thủ tục bắt đầu phiên tòa” việc đặt tên một điều luật giống như tên
chương là hạn chế về mặt kỹ thuật lập pháp.
- Điều 202 quy định “những người tham gia tố tụng phải được chủ tọa phiên
tòa hỏi xem có đề nghị thay đổi Thẩm phán…” và Đ.205 cũng quy định “ chủ
tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem có
ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng…” Như vậy có thể hiểu người làm
chứng, người giám định, người phiên dịch cũng có quyền đề nghị trên. Tuy
nhiên, bản chất tham gia tố tụng của người làm chứng, người phiên dịch là
hoàn toàn khác so với bị cáo và người tham gia tố tụng khác. Họ không có
quyền lợi và nghĩa vụ trực tiếp trong vụ án mà vai trò của họ là giúp cho việc
xác định sự thật khách quan của vụ án tại phiên tòa. Vì vậy việc sử dụng cụm

hay chỉ được bổ sung những nội dung nào làm xấu đi tình trạng pháp lý của bị
cáo? Do đó thực tiễn áp dụng đã nảy sinh nhiều quan điểm không thống nhất
giữa những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa.
Thứ hai, hạn chế trong quy định về nội dung xét hỏi của Kiểm sát viên. Theo
k3 Đ.209 quy định Kiểm sát viên được xét hỏi bị cáo về những tình tiết liên
quan đến việc buộc tội, gỡ tội của bị cáo. Quy định này dẫn đến cách hiểu là
Kiểm sát viên được thực hiện cả chức năng gỡ tội cho bị cáo tại phiên tòa.
Tuy nhiên, theo Điều 23 BLTTHS thì Kiểm sát viên có chức năng thực hành
quyền công tố đồng nghĩa với việc buộc tội bị cáo.
Thứ ba, hạn chế trong quy định về trình tự xét hỏi theo Điều 207 BLTTHS
quy định HĐXX xét hỏi trước Kiểm sát viên và tham gia xét hỏi quá nhiều
12


như vậy khiến cho HĐXX mất đi vai trò một vị “trọng tài” công bằng và lắng
nghe các bên tham gia tranh luận để có nhận định đúng đắn về vụ án. Cần sửa
đổi, bổ sung theo hướng chuyển trách nhiệm chính trong xét hỏi cho các chủ
thể thuộc bên buộc tội và bên bào chữa.
• Về tranh luận tại phiên tòa:
Theo khoản 1 Đ.217 quy định “sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa,
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội” trước khi người tham gia tố tụng phát
biểu ý kiến. Trong khi đó cũng tại Điều 217 quy định “ luận tội của Kiểm sát
viên phải căn cứ vào… ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền
lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”. Hai
điều luật này mâu thuẫn ở chỗ vào thời điểm trình bày lời luận tội, Kiểm sát
viên chưa thể biết ý kiến của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa như
thế nào vì họ chưa trình bày ý kiến. Trước đó trong phần xét hỏi tại phiên tòa
những người tham gia tố tụng chỉ thực hiện việc trả lời các câu hỏi của
HĐXX, Kiểm sát viên, người bào chữa và những người khác theo quy định.
• Về nghị án và tuyên án:

bào chữa xét hỏi nhằm phục vụ việc bào chữa, tiếp đến là những người khác
có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. HĐXX có thể tham gia xét hỏi kết
hợp xen kẽ trong quá trình xét hỏi nếu thấy xuất hiện những chứng cứ mới cần
thiết làm rõ hoặc hỏi thêm những nội dung người khác đã hỏi nhưng chưa rõ.
Nên mở rộng phạm vi đối tượng chủ thể tham gia xét hỏi trực tiếp. Để đảm
bảo cho sự bình đẳng giữa các bên tham gia tranh tụng cần quy định cho
người bị hại, bị cáo, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi
ích liên quan đến vụ án cũng có quyền xét hỏi trực tiếp.
Thứ ba, hoàn thiện quy định về thủ tục tranh tụng: cần bổ sung quy định về
trình tự người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại trình bày lời buộc tội
tại phiên tòa trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị
14


hại. Mặt khác cần quy định cho người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ
…được phát biểu ý kiến trước sau đó bị cáo và người bào chữa mới thực hiện
việc bào chữa.
Thứ tư, hoàn thiện quy định của pháp luật về nghị án và tuyên án: cần quy
định rõ chủ tọa phiên tòa là người tổng hợp và đưa ra các vấn đề cần thảo luận
thông qua tại phòng nghị án. Chủ tọa phiên tòa cũng có trách nhiệm tổng hợp,
ghi chép vào biên bản nghị án những ý kiến của các thành viên trong HĐXX
khi thảo luận và thông qua các quyết định tại phòng nghị án.
Và trước khi vào nghị án nên thông báo cho người tham gia phiên tòa biết thời
gian HĐXX dự kiến tuyên án. Nhằm giúp cho người tham gia tố tụng thực
hiện được quyền tham gia phiên tòa của mình.
C. KẾT LUẬN
Trên đây là những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục
phiên tòa hình sự sơ thẩm và một số kiến nghị để hoàn thiện hơn nữa quy định
của pháp luật về vấn đề này. Bởi vì muốn nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm
thì cần có những quy định mới để khắc phục những điểm chưa hợp lý và hoàn

dân, do dân, vì dân” HN 2006.
9. http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?
p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&item_id=11419778&article_
details=1

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status