Người bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự việt nam - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ TRUNG SƠN

NGƢỜI BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ
SƠ THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - Năm 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ TRUNG SƠN

NGƢỜI BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ
SƠ THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
MÃ SỐ: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Thị Minh Sơn

Hà Nội - Năm 2015


LỜI CAM ĐOAN


HĐXX

Hội đồng xét xử

KSV

Kiểm sát viên

NBC

Người bào chữa

NTHTT

Người tiến hành tố tụng

PLTCLS

Pháp lệnh tổ chức Luật sư

QBC

Quyền bào chữa

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

TNHS

TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1.

Khái niệm và đặc điểm của người bào chữa trong giai đoạn xét

9

xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm người bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

9

vụ án hình sự
1.1.2. Đặc điểm của người bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ

15

thẩm vụ án hình sự
1.2.

Vai trò của người bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án

19

hình sự ở Việt Nam
1.3.

Hoạt động của người bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

23

2.1.2. Quy định về người bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

32

vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
hiện hành
2.2.

Thực trạng hoạt động bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

35

2.2.1. Thực trạng hoạt động của người bào chữa trước khi mở

38

phiên tòa sơ thẩm
2.2.2. Thực trạng hoạt động của người bào chữa tại phiên tòa sơ

39

thẩm
2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế

46

Kết luận chƣơng 2

51


chữa
3.2.3 Sửa đổi bổ sung quy định nguyên tắc cơ bản của tố tụng

59


hình sự có liên quan đến người bào chữa
3.3.

Một số giải pháp khác nâng cao vai trò của người bào chữa

60

trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
Kết luận chƣơng 3

71

KẾT LUẬN

72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

74


MỞ ĐẦU
1.


pháp, là nơi mà trên cơ sở kết quả điều tra, truy tố và tranh luận, toà án nhân
danh Nhà nước đưa ra phán xét một người có tội hay không có tội cũng như
mức độ xử phạt tương xứng của Nhà nước đối với hành vi của người phạm
tội. Do đó, một phán xét chính xác, khách quan và đúng pháp luật hay không,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân có được bảo đảm hay không, không
những phụ thuộc vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử từ phía CQTHTT mà
còn không thể thiếu vai trò của NBC cho bị cáo. NBC trong quá trình xét hỏi,
tranh luận tại phiên tòa sẽ góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án,
góp phần bảo vệ công lý.
Về mặt lý luận: Chế định bào chữa và NBC có vai trò rất quan trọng
trong tố tụng hình sự nhưng cho đến nay, vẫn chưa có khái niệm chính thức
và thống nhất về NBC. Đồng thời những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
hiện hành vẫn chưa qui định cụ thể về NBC, vai trò, quyền hạn của họ hoặc
có qui định nhưng việc áp dụng trên thực tế còn nhiều bất cập.
Về mặt thực tiễn: NBC góp phần không nhỏ trong việc tìm ra chân lý
khách quan của vụ án hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Ở
một khía cạnh nào đó, họ như là chủ thể “đối trọng” đối với cơ quan tố tụng
để giúp cho cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy
định của pháp luật, tránh sự cẩu thả, tùy tiện hoặc áp dụng pháp luật không
đúng từ những cơ quan này.
Từ sự phân tích trên có thể nói, tác giả lựa chọn đề tài: “Người bào
chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” để
nghiên cứu ở cấp độ luận văn Thạc sĩ vì những lý do sau đây:
Một là, trong những năm qua, việc tham gia của tổ chức hành nghề luật
sư vào hoạt động bào chữa ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, góp
2


phần bảo đảm dân chủ, bình đẳng, khách quan trong tố tụng hình sự. Tuy
nhiên việc tham gia tố tụng của người bào chữa trong một số vụ án còn gặp

nghiên cứu về chế định NBC ở những mức độ, khía cạnh, phương diện khác
nhau, như:
-

Hoàng Thị Sơn “Mối quan hệ giữa người bào chữa với bị can, bị cáo”,

Tạp chí Luật học số 2/1996;
-

Trần Văn Bảy “Người bào chữa trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Khoa

học pháp lý 1/2000;
-

Phạm Hồng Hải “Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo”, Nhà

xuất bản Công an nhân dân 1999; “Vai trò của Luật sư, người bào chữa Thực trạng và những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng trong tố
tụng hình sự”;
-

Nguyễn Tiến Đạo “Suy nghĩ về việc bào chữa cho bị can, bị cáo theo

Điều 37 Bộ Luật tố tụng hình sự”, Tạp chí dân chủ và pháp luật số 12-2000;
-

Nguyễn Huy Hoàn “Cần đảm bảo quyền bào chữa theo qui định của

pháp luật”, Tạp chí dân chủ và pháp luật số 12-2000;
-



Trên cơ sở tổng hợp cho thấy, ở nước ta đã có nhiều nhà khoa học có
các công trình nghiên cứu về chế định NBC. Tuy nhiên, các nhà luật học chỉ
tập trung phần lớn nghiên cứu những vấn đề mang tính nguyên tắc về việc
bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo hoặc về vai trò của Luật sư - một
trong những NBC trong tố tụng hình sự mà ít có các công trình khoa học
nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện, thống nhất về khái niệm NBC, các
dạng NBC và đặc biệt là vai trò của NBC cũng như thực tiễn áp dụng chế
định bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
3.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.

Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận về NBC, quy định của pháp luật tố tụng hình sự và

thực tiễn thực hiện, luận văn phân tích, đánh giá những điểm còn bất cập, hạn
chế khi áp dụng chế định này trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở
nước ta, luận văn đề xuất những giải pháp phù hợp và khả thi nhằm hoàn
thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về NBC và kiến nghị
nhằm nâng cao chất lượng tham gia của NBC trong tố tụng hình sự.
3.2.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

-

Từ việc nghiên cứu các qui định của pháp luật TTHS về NBC, luận văn

4.1.

Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm khoa học và những

quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về NBC trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự và thực trạng NBC trong TTHS Việt Nam.
4.2.

Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về NBC và chủ yếu tập trung vào Luật sư, luận văn

không nghiên cứu nhiều về bào chữa viên nhân dân và người đại diện hợp
pháp của bị can bị cáo với tư cách là người bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự trong TTHS Việt Nam và thực tiễn áp dụng trong 5 năm
(từ 2009 - 2014).
5.

Phƣơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện

chứng, phương pháp duy vật lịch sử và các phương pháp phân tích, tổng hợp,
thống kê, so sánh, đối chiếu, khảo sát thực tế để chọn lọc kiến thức khoa học,
kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến những vấn đề về chế định bào chữa và
vai trò của NBC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, từ đó làm sáng
tỏ những nội dung nghiên cứu của luận văn.
6


6.


Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho những người
làm công tác nghiên cứu khoa học luật, những cán bộ, công chức công tác
thực tiễn trong các CQTHTT, các học viên và sinh viên thuộc các chuyên
ngành tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật và hy vọng có thể là tài liệu
tham khảo trong xây dựng, sửa đổi BLTTHS và một số văn bản pháp luật
khác có liên quan đến NBC.

7


8.

Bố cục của luận văn
Bố cục của Luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, đối tượng

và phạm vi nghiên cứu. Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục
các tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về người bào chữa trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự;
Chương 2: Thực trạng người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam;
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao vai trò của người bào chữa trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

8


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƢỜI BÀO CHỮA
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

cho rằng cần phải mở rộng hơn nữa, tức là bị cáo cũng phải là đối tượng được
bào chữa.
NBC là người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ những tình
tiết liên quan đến sự thật của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp
lý cần thiết [70, tr. 128, 129]. So với khái niệm trên, khái niệm này chỉ rõ hơn
đối tượng được bảo vệ là bị can, bị cáo và mục đích của việc bào chữa là làm
sáng tỏ những tình tiết liên quan đến sự thật của vụ án nhằm chứng minh về
sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp bị can,
bị cáo về mặt pháp lý cần thiết. Tuy nhiên, đối tượng bào chữa theo quan
điểm này lại quá hẹp và mới dừng lại ở hai chủ thể là bị can và bị cáo.
NBC trong TTHS là người tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội
hoặc làm giảm nhẹ TNHS của người bị buộc tội, giúp người bị buộc tội về
mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời thông
qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa [3]. So với hai quan điểm
trên thì, những người theo quan điểm này đã chỉ ra tương đối đầy đủ và khái
quát hơn nhưng chưa giải thích rõ người bị buộc tội là những người nào.
NBC trong TTHS là người có bằng cử nhân luật hoặc có trình độ tương
đương, tham gia tố tụng theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
hoặc người đại diện hợp pháp của họ hay theo yêu cầu của cơ quan tiến hành
tố tụng, nhằm mục đích làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến sự thật của
vụ án, chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý [24, tr.16]. Khái niệm này
cũng giống một số khái niệm trên là nêu được đối tượng bào chưa, mục đích
bào chữa nhưng cụ thể hơn về điều kiện tham gia tố tụng của NBC. Tuy
10


nhiên, chúng tôi cho rằng đối tượng bào chữa cũng cần phải được mở rộng

hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 56,
57) thì người bào chữa có thể là: Luật sư; người đại diện hợp pháp của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân.
Như vậy, theo quy định của Luật thì người được quyền bào chữa cho
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo rất đa dạng. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực
hiện chức năng bào chữa của các chủ thể nêu trên không đồng đều, thậm chí
có những chủ thể không được quy định cụ thể trong các văn bản pháp lý, dẫn
đến không có cơ sở để thực hiện và thực tế ít khi tham gia thực hiện chức
năng bào chữa do Bộ luật tố tụng hình sự quy định.
Hiện nay, khi nói đến NBC, người ta thường nghĩ ngay đến luật sư.
Đúng vậy, bởi luật sư là chủ thể bào chữa chủ yếu trong các vụ án hình sự,
đặc biệt là kể từ khi nhà nước xây dựng và ban bành Bộ luật tố tụng hình sự;
Pháp lệnh luật sư và Luật luật sư.
Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định
của Luật luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan,
tổ chức. Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và
pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo
nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm
hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. Người có đủ tiêu chuẩn trên
đây, để được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia
nhập một Đoàn luật sư.
Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là bố mẹ
đẻ, bố mẹ nuôi, anh, chị em ruột và những người theo quy định của pháp luật
đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có
nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần. Người đại diện hợp pháp của người bị
12


tạm giữ, bị can, bị cáo nếu họ tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa

thẩm vấn trực tiếp tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và
dân chủ của các bên để kiểm tra lại và đánh giá một cách toàn diện, khách
quan và đầy đủ các chứng cứ, các tình tiết của vụ án hình sự; kiểm tra lại tính
hợp pháp và có căn cứ của các quyết định mà cơ quan Điều tra và Viện kiểm
sát đã thực hiện trước khi chuyển vụ án hình sự sang Tòa án, nhằm loại trừ
những hậu quả tiêu cực của các sơ suất, sai lầm hoặc sự lạm dụng trong ba
giai đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra và truy tố) để đưa ra đánh
giá có hay không có hành vi phạm tội, hoặc mức độ hành vi phạm tội của bị
cáo nhằm tuyên một bản án có hiệu lực pháp luật một cách công minh và
đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục, tránh bỏ lọt tội phạm
và kết án oan người vô tội. Như vậy giai đoạn xét xử sơ thẩm kết thúc bằng
việc Tòa án ra bản án quyết định bị cáo có tội hay không có tội, hình phạt
hoặc các biện pháp tư pháp khác, hay các quyết định tố tụng khác nhằm giải
quyết vụ án hình sự.
Do tầm quan trọng của giai đoạn xét xử sơ thẩm như vậy, nên để bảo
đảm tính khách quan, dân chủ trong hoạt động tố tụng, để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của bị cáo khi bị đưa ra xét xử thì sự tham gia của NBC trong
giai đoạn này là tối cần thiết. NBC trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ theo luật
định sẽ tham gia các hoạt động tố tụng như nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng
cứ, tham gia thẩm vấn công khai tại phiên tòa để nhằm: 1) Bảo đảm việc tiến
hành tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng được thực hiện đúng pháp luật;
2) Giúp đỡ bị cáo về mặt pháp lý; 3) Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho bị cáo; 4) Góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, giúp
Hội đồng xét xử đánh giá đúng bản chất của vụ án để tuyên bản án khách
quan, đúng pháp luật.

14


Như trên đã phân tích, tùy theo từng giai đoạn tố tụng mà người bị buộc

quyết vụ án hình sự khách quan, chính xác, hợp tình, hợp lý và góp phần nâng
cao hiệu quả của pháp luật. Trong giai đoạn này, NBC có một số đặc điểm
sau:
-

Người bào chữa tham gia tố tụng khi bị can, bị cáo hoặc người đại diện

hợp pháp của họ lựa chọn hoặc Tòa án yêu cầu
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và quy định của BLTTHS thì,
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, NBC do bị can, bị cáo lựa chọn. Trường hợp
bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất
hay tâm thần thì người đại diện hợp pháp của họ cũng có quyền lựa chọn
NBC cho họ.
Ngoài ra, trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc
người có nhược điểm về thể chất hay tâm thần, bị can, bị cáo phạm tội theo
khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại BLHS mà họ
hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời NBC thì Tòa án phải yêu cầu
Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề
nghị Mặt trận Tổ quốc, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa
cho thành viên của tổ chức mình. Đây là trường hợp bắt buộc phải có sự tham
gia của NBC. Tuy nhiên, trong trường hợp này bị can, bị cáo và người đại
diện hợp pháp của họ vẫn có quyền từ chối hoặc yêu cầu thay đổi NBC.
Trong giai đoạn xét xử, việc yêu cầu thay đổi hoặc từ chối NBC được
giải quyết cụ thể như sau:
+

Trường hợp thay đổi NBC: Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên

tòa (trước khi mở phiên tòa) hoặc Hội đồng xét xử (tại phiên tòa) xem xét
quyết định trên cơ sở quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 57 BLTTHS.

tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”, sự tham gia của người bào chữa
trong tố tụng hình sự là cần thiết, đặc biệt là từ giai đoạn xét xử sơ thẩm. Đây
là một điểm mới thể hiện tính dân chủ của pháp luật tố tụng hình sự nước nhà,
phù hợp với những đặc điểm của giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân do Đảng cộng sản Việt Nam đề ra.

17


-

Người bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự không

chỉ là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo mà còn là
người tham gia tố tụng độc lập
NBC trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự không chỉ là người đại diện
của bị can, bị cáo mà còn là người tham gia tố tụng độc lập, có những quyền
và nghĩa vụ tố tụng nhất định, hoạt động bào chữa cùng với bị can, bị cáo bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ và với mục đích đó, NBC tích cực thực
hiện chức năng bào chữa do pháp luật quy định và đáp ứng những nhiệm vụ
mà giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đặt ra, góp phần nâng cao pháp chế
xã hội chủ nghĩa và giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đầy đủ, thực
hiện quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.
Việc tham gia tố tụng của NBC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự nói chung đã đáp ứng được yêu cầu và đạt được những kết quả đáng
khích lệ, khắc phục được những vi phạm tố tụng, làm rõ sự thật khách quan,
đảm bảo cho việc xét xử của tòa án được tiến hành đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật, loại trừ dần tình trạng lạm quyền trong việc áp dụng pháp luật
và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Tòa án hướng tới xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt Nam vững mạnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status