NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH
SỰ
TRẦN VĂN BẢY
ThS. Khoa Luật hành chính - ĐH luật TP.HCM
Trong những người tham gia tố tụng hình sự quy định
tại chương 3 Bộ luật tố tụng hình sự 1988 thì người
bào chữa là người có vị trí, vai trò và chức năng đặc
biệt. Tuy nhiên, cho đến nay trong lý luận pháp lý và
thực tiễn tố tụng hình sự vẫn chưa có khái niệm chính
thức và thống nhất và thống nhất về người bào chữa.
Đồng thời, những quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự về phạm vi những người tham gia tố tùng với tư
cách người bào chữa còn giới hạn. Hơn nữa, xuất
phát từ nhiều lý do khác nhau nên người bào chữa
trong thực tiễn tố tụng hình sự hiện nay chủ yếu là
luật sư, còn bào chữa viên nhân dân và người đại diện
hợp pháp của bị can, bị cáo chỉ tồn tại trong pháp luật
thực định. Bài viết này như là một trong những cố
gắng chung để làm sáng tỏ ngững vấn đề còn bất cập
nói trên.
I. Về khái niệm người bào chữa:
Hiện nay, trong khoa học pháp lý và thực tiễn tố tụng
có những cách hiểu khác nhau về người bào chữa. Có
một số quan điểm cho rằng:: “Người bào chữa là
người giúp đỡ Tòa án trong việc xác định tất cả các
tình tiết cần thiết về vụ án để cuối cùng Tòa án ra một
bản án có căn cứ và đúng pháp luật”[1]. Một tác giả
khác còn khẳng định rõ hơn rằng người bào chữa là
người tham gia tố tụng để giúp đỡ Tòa án[2]. Ngoài
ra, cũng có không ít người vẫn quan niệm người bào
chữa là “thầy cãi”…
đến vụ án.
Như đã trình bày, người bào chữa không có quyền và
lợi ích trong vụ án hình sự. Việc họ tham gia tố tụng
bất luận trong trường hợp nào cũng chỉ để nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội.
Cơ sở cho sự hiện diện của họ trong tố tụng hình sự
xuất phát từ hợp đồng bào chữa giữa họ với người bị
buộc tội (hoặc với người đại diện hợp pháp của người
bị buộc tội) và phải được sự chấp thuận của cơ quan
tiến hành tố tụng. Trong trường hợp đặc biệt do Bộ
luật tố tụng hình sự quy định, nếu người bị buộc tội
hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời
người bào chữa thì các cơ quan tiến hành tố tụng yêu
cầu Đoàn Luật sư cử người bào chữa cho họ và dĩ
nhiên ngay trong trường hợp này sự tham gia của
người bào chữa cũng phải được sự đồng ý của người
bị buộc tội.
Từ những phân tích trên chúng tôi mạnh dạn đưa ra
khái niệm người bào chữa trong tố tụng hình sự như
sau: “Người bào chữa trong tố tụng hình sự là người
tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội,
giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp
phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
II. Các loại người bào chữa theo quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự:
Điều 35 Bộ luật tố tụng hình sự quy định người bào
chữa có thể là:
- Luật sư;
những vấn đề, có những tình tiết thuộc về vụ án,
thuộc về nhân thân của bị cáo thì chỉ có những người
thân thích mới thấu hiểu và nắm bắt được một cách
tường tận và do đó họ có thể giúp cho Hội đồng xét
xử cân nhắc việc xử lý được chính xác hơn, bảo đảm
cho việc xét xử của Tòa án được đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật. Do đó, người thân thích của bị
cáo có quyền làm người bào chữa cho bị cáo”[5]. Rõ
ràng, nội dung hướng dẫn trên chứa đựng sự mâu
thuẫn có tính chất nội tại khi khẳng định người thân
thích của bị cáo không phải là người bào chữa nhưng
sau đó lại cho phép người thân thích của bị cáo có
quyền tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho bị
cáo. Hơn nữa, hướng dẫn này cũng đã không làm rõ
người thân thích của bị cáo là ai. Thực tiễn tố tụng
hình sự những năm qua cũng cho thấy là chưa có
trường hợp nào người đại diện hợp pháp của bị can,
bị cáo tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa.
Đây là một thiếu sót lớn của pháp luật thực định cần
sớm được khắc phục.
Người bào chữa trong tố tụng hình sự còn có thể là
Bào chữa viên nhân dân. Chức danh Bào chữa viên
nhân dân ở nước ta ra đời trên cơ sở Sắc lệnh số
69/SL ngày 18/6/1949. Sau đó, Nghị định số 01 – NĐ
– VY ngày 12/1/1950 của Bộ Tư pháp đã quy định rõ
tiêu chuẩn Bào chữa viên nhân dân. Trong suốt thời
gian dài ( từ 1949 – 1987) Bào chữa viên nhân dân đã
đóng một vai trò rất lớn trong tố tụng hình sự. Đến
năm 1987 cả nước có 30 Đoàn Bào chữa với tổng số
gần 400 Bào chữa viên nhân dân[6]. Tuy nhiên từ
ngũ luật sư cả về số lượng lẫn chất lượng để đáp ứng
kịp thời và có hiệu quả nhu cầu của thực tiễn tố tụng
hình sự. Để thúc đẩy tiến trình này trước hết cần sớm
ban hành Pháp lệnh tổ chức luật sư mới để thay thế
Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 vốn đã quá lạc
hậu. Theo đó, Pháp lệnh mới sẽ được quy định rõ
hơn, đầy đủ hơn về điều kiện, tiêu chuẩn của luật sư,
trong đó chú trọng đến tiêu chuẩn về đạo đức và
nghiệp vụ của luật sư. Đồng thời Pháp lệnh mới cần
tạo ra quy trình công nhận luật sư theo hướng thông
thoáng hơn trên cơ sở bảo đảm được sự quản lý của
Nhà nước và tôn trọng tính tự quản của tổ chức luật
sư.
+Hai là, việc sữa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự
sắp tới cần làm rõ người đại diện hợp pháp của bị cáo
trong tố tụng hình sự là những đối tượng nào để tạo
điều kiện cho quy định đó được thi hành trong thực
tiễn tố tụng hình sự. Theo chúng tôi, nên tham khảo
những quy định về người đại diện hợp pháp của bị
can, bị cáo trong tố tụng hình sự.
+ Ba là, cần khôi phục lại chế định Bào chữa viên
nhân dân. Đã đến lúc Chính phủ nên ban hành Quy
chế hoặc Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của
Đoàn Bào chữa viên nhân dân để chính thức khôi
phục lại chế định có nhiều ưu điểm này.
+ Bốn là, trong tương lai cần nghiên cứu để từng
bước mở rộng phạm vi của những người có quyền
tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa không
chỉ giới hạn trong khuôn khổ của Điều 35 Bộ luật tố
tụng hình sự hiện hành mà phải tiến tới khả năng cho