Chức năng xét xử trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

CHỨC NĂNG XÉT XỬ TRONG GIAI ĐOẠN
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. HỒ SỸ SƠN

HÀ NỘI – 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kì công trình nào khác.
Hà Nôi, tháng

năm 2017

Tác giả luận văn


LỜI CẢM ƠN

HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI .......................................................................34
2.1. Thực tiễn quy định về chức năng xét xử trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự ....................................................................................................................34
2.2. Thực tiễn thực hiện chức năng xét xử trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự tại thành phố Hà Nội .................................................................................48
Chƣơng 3. CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN ĐÚNG
CHỨC NĂNG XÉT XỬ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ ..................................................................................................................60
3.1. Các yêu cầubảo đảm chức năng xét xử trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự ....................................................................................................................60
3.2. Các giải pháp bảo đảm thực hiện đúng chức năng xét xử trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự .......................................................................................65
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................80
PHỤ LỤC .................................................................................................................84


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TT

Viết tắt

Từ viết tắt

1

TAND

Tòa án nhân dân

xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công
lý, phục vụ nhân dân, hoạt động của Tòa án được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực
cao. Để thực hiện mục tiêu yêu cầu cải cách tư pháp thì yêu cầu xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng là một
nhiệm vụ không thể tách dời. Trong tố tụng hình sự, chức năng xét xử nói chung và
xét xử sở thẩm nói riêng được coi là giai đoạn đặc biệt quan trọng, bởi lẽ để xác
định một người có tội và phải chịu hình phạt, người đó phải được đưa ra xét xử
trước phiên tòa; Tòa án là cơ quan duy nhất của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam có quyền quyết định một người có tội hay không có tội. Chính vì vậy, Khoản
1, Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có
tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật” [28]. Chức năng xét xử của Tòa án là sự thể hiện chất
lượng, uy tín của hệ thống các cơ quan tư pháp trong việc điều tra, truy tố, xét xử và
thay mặt Nhà nước đưa ra những phán quyết cuối cùng trong việc giải quyết vụ án
hình sự.
Thực tiễn cho thấy trong tổng số các vụ án hình sự mà ngành Tòa án đã giải
quyết thì số lượng án sơ thẩm chiếm tỉ lệ lớn. Tại thành phố Hà Nội, hàng năm, các
cấp Tòa án phải thụ lý, giải quyết khoảng từ 900 đến 1000 vụ án hình sự, trong đó
các vụ án được xét xử sơ thẩm chiếm trên 80%. Với vai trò quan trọng như thế,
nhưng các nghiên cứu về chức năng xét xử trong giai đoạn sơ thẩm các vụ án hình
sự hiện nay chưa nhiều, chưa có chiều sâu và còn thiếu tính hệ thống. Các nghiên
cứu mới chỉ tập trung phân tích quá trình tố tụng hình sự mà chưa thực sự quan tâm
đến chức năng xét xử của Tòa án nhân dân các cấp. Chính điều này, đã ảnh hưởng
đến công tác hoàn thiện chức năng xét xử của Tòa án qua đó ảnh hưởng đến chất
lượng xét xử. Nếu việc xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự không tuân thủ các quy

1


định của thủ tục tố tụng hình sự, thì sẽ dẫn đến việc xét xử của Tòa án bị sai sót, gây


luận chung về thủ tục xét xử sơ thẩm trong luật tố tụng hình sự hoặc phân tích các
quy định của pháp luật tố tụng thực định về các thủ tục đó.
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (2011), Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
[16].Tác giảVũ Gia Lâm (2011), Hoàn thiện một số quy định về xét xử sơ thẩm
nhằm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử [18].
Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chức năng xét xử trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội. Vì vậy, việc
nghiên cứu đề tài “Chức năng xét xử trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
từ thực tiễn thành phố Hà Nội”là phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội
phạm của địa phương trong tình hình hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chức năng xét xử trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, thực trạng thực hiện chức năng xét xử sơ
thẩm của Tòa án nhân dân các cấp thành phố Hà Nội, nguyên nhân của những thành
tựu và của những khó khăn thiếu sót trong thực hiện chức năng đó. Luận văn đề xuất
các giải pháp bảo đảm thực hiện đúng chức năng xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân
các cấp trong cả nước nói chung và ở địa phương nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Phân tích những vấn đề lý luận về chức năng xét xử của Tòa án.
- Phân tích phản ánh chức năng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự
xét xử sơ thẩm của Tòa án.
- Phân tích thực trạng thực hiện chức năng xét xử trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự của Tòa án các cấp của thành phố Hà Nội. Đề xuất hệ thống
các giải pháp bảo đảm thực hiện đúng chức năng xét xử trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự.

3

chức năng xét xử trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án.

4


6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn này đề cập việc phân tích thực trạng thực hiện chức năng xét xử
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của thành phố Hà Nội, góp phần
giải quyết các vướng mắc mà thực tiễn xử lý các vụ án hình sự tại địa phương gặp
phải.
Ngoài ra, luận văn có thể được sử dụng với tính chất là tài liệu tham khảo
trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập cho cán bộ các cơ quan bảo vệ
pháp luật, cũng như cho giảng viên và sinh viên trong các trường đào tạo đại học
chuyên ngành luật
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về chức năng xét xử trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 2. Quy định của pháp luật về chức năng xét xử trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hà Nội
Chương 3. Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm thực hiện đúng chức năng xét
xử trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

5


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG XÉT XỬ TRONG GIAI
ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

đủ và sâu sắc nhất bản chất của nền công lý” [12].
Theo Từ điển Luật học thì “xét xử” là xem xét và xử các vụ án [5, tr1108]
“sơ thẩm” là xét xử vụ án lần thứ nhất [5, tr.861]. Về phương diện khoa học pháp lý
thì “xét xử sơ thẩm” là việc lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử ở tòa án có thẩm quyền.
Bản án, quyết định của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm. Nếu không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do pháp luật quy định thì
có hiệu lực thi hành [20].
Hiến pháp năm 2013 quy định Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo về quyền lợi ích hợp
pháp của cá nhân, tổ chức, bảo vệ lợi ích chung của Nhà nước và xã hội. Trên cơ sở
Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định về thẩm quyền và
chức năng của Tòa án “Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia
đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của
pháp luật” [25, tr.17-22]
Hiện nay pháp luật TTHS Việt Nam xác định nguyên tắc hai cấp xét xử: Xét
xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm hình sự, trong đó xét xử sơ thẩm là trọng tâm và có
vai trò quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
hiện nay theo quy định thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh
[30].
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, trong
đó Tòa án có thẩm quyền thực hiện chức năng xem xét của mình thông qua việc
xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp
luật.Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, tại phiên
tòa trên trên sở những chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá công khai, Tòa án ra
bản án xác định có tội hay không có tội. Ngoài việc ra bản án, Tòa án còn có quyền
ra các quyết định khác nhằm giải quyết vụ án.

7



8


Phân biệt chức năng xét xử với các chức năng khác của Tòa án
Theo những quy định hiện nay của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì các chức
năng tố tụng chưa được xác định rõ. Ở đây, đề tài muốn nhấn mạnh về chức năng tố
tụng và có thêm một lưu ý rằng cần phân biệt chức năng tố tụng với chức năng về
mặt tổ chức của các cơ quan, thiết chế tương ứng. Chẳng hạn, Tòa án có chức năng
xét xử vì đó là cơ quan xét xử duy nhất ở Việt Nam. Chính vì theo cách hiểu về
chức năng được đặt ra từ tổ chức và tính chất hoạt động của các chủ thể tố tụng hình
sự mà lâu nay có quan niệm về sự tồn tại trong tố tụng hình sựu các chức năng:
Chức năng khởi tố, chức năng xét xử, chức năng bào chữa… Trong khi đó, trong
bất kỳ một hệ thống tố tụng hình sự nào cũng đều tồn tại các nhu cầu được đặt ra
bởi tính chất của tố tụng là: Truy tố tội phạm và người phạm tội; bào chữa của bị
can, bị cáo và Luật sư của họ; hoạt động xét xử của Tòa án. Từ đó, ba chức năng:
Buộc tội, bào chữa và xét xử luôn luôn tồn tại trong bất kỳ một loại tố tụng hình sự
nào. Do đó, nói chức năng xét xử trong các giai đoạn tố tụng là nói đến những định
hướng hoạt động trong quá trình tố tụng hình sự mà không lẫn lộn với chức năng
vốn có của các thiết chế tổ chức.
Xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo
đảm tính đúng đắn, khách quan trong hoạt động xét xử của Tòa án. Điều này cũng
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người có liên quan. Việc
quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định thẩm quyền
xét xử của Tòa án trong các giai đoạn tiếp theo. Trong luật tố tụng hình sự, thẩm quyền
xét xử của Tòa án theo nghĩa rộng bao gồm quyền xem xét và quyền giải quyết vụ án,
ra bản án hoặc các quyết định khác như quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình
chỉ vụ án….Theo đó thẩm quyền của Tòa án bao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ
với nhau là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung.
- Thẩm quyền về hình thức là quyền xem xét và phạm vi xem xét (giới hạn xét

từ căn cứ này để phân định thẩm quyền xét xử theo đối tượng.
1.2. Khái niệm, các dấu hiệu đặc trƣng và các nguyên tắc của chức năng xét xử
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.2.1. Khái niệm thực hiện chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thực hiện chức năng xét xử là Tòa án căn cứ vào thẩm quyền của mình thực

10


hiện các bước quả quá trình xét xử vụ án. Mặt khác căn cứ vào đặc điểm của từng vụ
án mà Tòa án thực hiện chức năng xét xử các vụ án hình sự hay các vụ án dân sự.
Thực hiện chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là việc Tòa án các cấp
thực hiện giải quyết vụ án hình sự theo thẩm quyền lần đầu để xem xét bị cáo có lỗi
hay không có lỗi, xác định bị cáo có phạm tội hay không để quyết định hình phạt và
các biện pháp tư pháp khác.
Vậy về cơ bản, thực hiện chức năng xét xét sơ thẩm vụ án hình sự gồm 3
bước cơ bản:
- Căn cứ vào các cơ sở pháp lý, hành vi phạm tội hình sự và thẩm quyền và
chức năng của mình, Tòa án sẽ thực hiện mở phiên tòa xét xử các vụ án hình sự.
- Căn cứ vào thực trạng pháp luật, hành vi thực tế phạm lỗi và chức năng của
Tòa án, Tòa án xem xét bị cáo có lỗi hay không có lỗi và xác định bị cáo phạm tội
hay không.
- Căn cứ vào thực trạng cơ sở pháp lý, hành vi thực tế phạm lỗi và chức năng
của Tòa án, Tòa án quyết định hình phạt và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo nếu
có tội và tuyên bố vô tội nếu bị cáo không có tội.
1.2.2. Các dấu hiệu đặc trưng của chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thứ nhất, chức năng xét xử sơ thẩm của Tòa án chỉ được tiến hành khi Cơ
quan điều tra đã điều tra vụ án; Viện kiểm sát đã truy tố bị can ra trước Toà án bằng
bản cáo trạng. Chính vì vậy chức năng xét xử sơ thẩm của Tòa án được xác định
như là một công đoạn trong giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án

xác định như là một công đoạn đầu tiên trong giai đoạn kết thúc của quá trình giải
quyết một vụ án hình sự. Hay nói cách khác, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai
đoạn mở đầu cho toàn bộ hoạt động xét xử của Toà án. Bởi vậy, Bộ luật tố tụng
hình sự 2015 đã giành chương XXI (Điều 243 đến Điều 321) để quy định về thủ tục
xét xử sơ thẩm [31]. Dấu hiệu đặc trưng của chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự được thể hiện cụ thể như sau:
Một là, thực hiện một trong những nội dung của quyền tư pháp: quyền xét xử
Hai là, chức năng xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là chức năng riêng có của
Tòa án
Ba là, thực hiện quyền được xét xử: Chuẩn bị xét xử, mở phiên tòa, điều
khiển phiên tòa, xét xử, hoãn phiên tòa, nghị án, tuyên án.

12


Bốn là, kết quả của chức năng xét xử (Bản án sơ thẩm), khi đã có hiệu lực
pháp luật, có hiệu lực bắt buộc đối với chủ thể có liên quan.
Năm là, được thực hiện bằng thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Như đã nói, xét xử sơ thẩm là bước xét xử lần một của nguyên tắc hai cấp xét
xử, nhưng trong thực tế thì không phải vụ án hình sự nào cũng trải qua hai cấp xét
xử. Việc xét xử tiếp một vụ án ở cấp phúc thẩm chỉ được thực hiện khi bản án của
cấp sơ thẩm bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị. Bởi vậy, nếu việc xét xử sơ thẩm là
chính xác, khách quan và toàn diện, tuân thủ những quy định của pháp luật nói
chung và luật tố tụng hình sự nói riêng thì tỷ lệ kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm sẽ giảm xuống, phần lớn các vụ án hình sự sẽ được giải quyết xong ngay
khi đã được xét xử sơ thẩm. Như vậy, sẽ hạn chế được lượng án mà các toà án cấp
trên phải giải quyết, tiết kiệm được về thời gian cũng như tiền bạc cho việc giải
quyết một vụ án hình sự, hiệu quả hoạt động của toà án cũng như của bộ máy Nhà
nước được nâng cao.
1.2.3. Các nguyên tắc thực hiện chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài
những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định.” [31].
(2) Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân
Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là một nguyên tắc và
yêu cầu cơ bản, có tính chất xuyên suốt của thủ tục tố tụng hình sự Việt
Nam.Nguyên tắc này được quy định tại Điều 8 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 là: Khi
tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và
lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết
của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó
nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết. Nội dung nguyên tắc
này nhấn mạnh đến trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng, mà ở trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm chính là trách nhiệm của thẩm phán và hội thẩm nhân dân, vì
những người này khi thực hiện hành vi tố tụng sẽ tác động trực tiếp đến các quyền
cơ bản của công dân.Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, tính hợp pháp và cần thiết của
những biện pháp đã được áp dụng nhất là đối với biện pháp tạm giam, phải được

14


thường xuyên kiểm tra, nếu thấy không còn cần thiết nữa thì phải huỷ bỏ hoặc thay
đổi. Việc thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp đã áp dụng phải xuất phát từ ý thức
tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân [31].
(3) Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật
Đây là nguyên tắc Hiến định, được quy định tại Điều 16 Hiến pháp năm
2013. “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử
trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”[28].
Điều 9, Bộ luật tố tụng hình sụ 2015 quy định về bảo đảm quyền bình
đẳng trước pháp luật như sau:“Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi

cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; đại diện của nhà trường hoặc tổ
chức xã hội, cha mẹ hoặc người thân của bị cáo phải được triệu tập đến tham gia
phiên toà để phát biểu ý kiến về những vấn đề có liên quan đến hành vi phạm tội
của bị cáo.
- Khi phát hiện có những vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng, các tổ chức xã hội và công dân có quyền kiến nghị
với các cơ quan có thẩm quyền và các cơ quan này phải xem xét, giải quyết và trả
lời cho các tổ chức xã hội và công dân đã kiến nghị biết.
(6) Nguyên tắc không ai có thể bị coi là có tội, nếu chưa có bản án kết tội đã
có hiệu lực pháp luật của Toà án.
Nguyên tắc này được quy định tại Khoản 1, Điều 31, Hiến pháp 2013:
“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo
trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [28].
Điều 13, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về suy đoán vô tội thì:
“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh
theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết
tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội” [31].
Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, nguyên tắc này được thể hiện là người bị
Viện kiểm sát truy tố và Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử, hoặc ngay cả khi đã
tuyên án và kết án, nhưng bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì họ chưa bị coi là
người có tội, họ còn đầy đủ các quyền của một công dân, vì vậy những người tiến

16


hành tố tụng và người tham gia tố tụng không được có định kiến, đối xử với họ như
một kẻ có tội. Các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải tạo
điều kiện để bị cáo được thực hiện các quyền của người công dân, bị cáo hoặc

(9) Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc
người tham gia tố tụng
Theo Điều 21, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về bảo đảm sự vô tư của người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng: “Người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định
giá tài sản, người chứng kiến không được tham gia tố tụng nếu có lý do cho rằng họ
có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ” [31]. Để nguyên tắc này được
thực hiện, thủ tục tố tụng hình sự quy định cụ thể những trường hợp phải thay đổi
người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng (như việc thay đổi thẩm phán
hoặc hội thẩm nhân dân quy định tại Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự...)
(10) Nguyên tắc xét xử có hội thẩm nhân dân tham gia
Theo Điều 22, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về thực hiện chế độ xét xử có
Hội thẩm tham gia: “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm tham gia, trừ
trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định” [31]. Nguyên tắc
xét xử có hội thẩm nhân dân tham gia được coi là một nguyên tắc dân chủ và là việc
cụ thể hoá nguyên tắc “bảo đảm việc tham gia phiên toà của các tổ chức xã hội và
công dân”, nhưng là việc tham gia trực tiếp vào việc xét xử, có quyền như thẩm
phán. Nguyên tắc này thể hiện tính nhân dân trong hoạt động xét xử của Toà án, là
sự kết hợp giữa kiến thức pháp lý của thẩm phán và sự hiểu biết của hội thẩm nhân
dân về thực tế tâm tư của nhân dân. Nguyên tắc này chỉ áp dụng cho giai đoạn xét
xử và cũng không phải là nguyên tắc bắt buộc đối với tất cả các giai đoạn xét xử mà
chỉ ở giai đoạn xét xử sơ thẩm thì nó mới là nguyên tắc bắt buộc.
(11) Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật
Theo Điều 23, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về Thẩm phán, Hội
thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào
việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm .Cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc
xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ


(trừ những người dưới 16 tuổi) đều có quyền được dự và theo dõi diến biến của
phiên toà. Ngay cả khi để đảm bảo bí mật Nhà nước hoặc giữ gìn đạo đức xã hội,

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status